Kinh Tăng Chi

Phẩm 10 Pháp

TƯỞNG

1. - Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là mười ?

2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngă trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này, được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

 

(VII) (57) TƯỞNG (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười tưởng này, được tu tập, được làm cho sung măn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là mười ?

2. Tưởng vô thường, tưởng vô ngă, tưởng chết, tưởng nhàm chán trong các món ăn, tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, tưởng xương, tưởng trùng ăn, tưởng xanh bầm, tưởng nứt nẻ, tưởng trương phồng.

Này các Tỷ-kheo, mười tưởng này được tụ tập, được làm cho sung măn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.

 

(VIII) (58) LẤY CĂN BẢN NƠI THẾ TÔN

1. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có thể hỏi như sau : "Này chư Hiền, tất cả pháp lấy ǵ làm căn bản ? Tất cả pháp lấy ǵ làm sanh khởi ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tập khởi ? Tất cả pháp lấy ǵ làm chỗ quy tụ ? Tất cả pháp lấy ǵ làm thượng thủ ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tăng thượng ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tối thượng ? Tất cả pháp lấy ǵ làm lơi cây ? Tất cả pháp lấy ǵ làm chỗ thể nhập ? Tất cả pháp lấy ǵ làm cứu cánh ? " Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào ?

- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, pháp lấy Thế Tôn làm căn bổn, lấy Thế Tôn làm lănh đạo, lấy Thế Tôn làm nương tựa... Thật lành thay, bạch Thế Tôn, nếu nghĩa của lời nói này được Thế Tôn nói lên ! Sau khi nghe Thế Tôn nói, các Tỷ-kheo sẽ thọ tŕ.

- Vậy này các Tỷ-kheo, hăy nghe và khéo tác ư, Ta sẽ nói.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

2. - Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi như sau : "Này chư Hiền, tất cả pháp lấy ǵ làm căn bản ? Tất cả pháp lấy ǵ làm sanh khởi ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tập khởi ? Tất cả pháp lấy ǵ làm chỗ quy tụ ? Tất cả pháp lấy ǵ làm thượng thủ ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tăng thượng ? Tất cả pháp lấy ǵ làm tối thượng ? Tất cả pháp lấy ǵ làm lơi cây ? Tất cả pháp lấy ǵ làm chỗ thể nhập ? Tất cả pháp lấy ǵ làm cứu cánh ? " Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy có thể trả lời như sau : "Tất cả pháp lấy dục làm căn bản, Tất cả phá lấy tác ư làm sanh khởi. Tất cả phá lấy xúc làm tập khởi. Tất cả phá lấy thọ làm chỗ quy tụ. Tất cả phá lấy định làm thượng thủ. Tất cả phá lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả phá lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả phá lấy giải thoát làm lơi cây. Tất cả phá lấy bất tử làm chỗ thể nhập. Tất cả phá lấy Niết-bản làm cứu cánh."

Này các Tỷ-kheo, được hỏi vậy, các Thầy có thể trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.

 

(IX) (59) XUẤT GIA

1. - Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau :

2. "Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia ; các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và tồn tại ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngă ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại ; sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận ; tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham, và tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt."

Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

3. Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được tâm thực hành tích tập như khi xuất gia, và các pháp bất thiện sanh khởi không chinh phục tâm và an trú, và tâm được thực hành tích tập với tưởng vô thường, và tâm được thực hành tích tập với tưởng vô ngă, và tâm được thực hành tích tập với tưởng nguy hại ; sau khi biết thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy ; sua khi biết thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy ; tâm được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận ; tâm được thực hành tích tập với tưởng ly tan ră tham ; tâm được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.

Đối với vị ấy, một trong hai quả này được chờ đợi, chánh trí ngay trong hiện tại hay nếu có dư y, chứng được Bất hoàn.

 

(X) (60) GIRIMÀNANDA

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Girimànanda bị bịnh, khổ đau, bị trọng bịnh. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn ; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn :

2. - Tôn giả Girimànanda, bạch Thế Tôn, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, nếu Thế Tôn đi đến Tôn giả Girimànanda, v́ ḷng từ mẫn.

- Này Ànanda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng, thời sự kiện này có thể xảy ra : Tỷ-kheo Girimànanda sau khi được nghe mười tưởng bệnh của vị ấy có thể được thuyên giảm ngay lập tức ! Thế nào lá mười ?

3. Tưởng vô thường, tưởng vô ngă, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, tưởng đoạn tận tưởng từ bỏ, tưởng đoạn diệt, tưởng nhàm chán đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường trong tất cả hành, tương niệm hơi thở vô hơi thở ra. Và này Ànanda, thế nào là tương vô thường ?

4. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau : "Sắc là vô thường, thọ là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường." Như vậy vị ấy trú, tùy quán vô thường, trong năm thú uẩn này. Này Ànanda, đây gọi là tưởng vô thường. Và này Ànanda, thế nào là tưởng vô ngă ?

5. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau : "Mắt là vô ngă, các sắc là vô ngă ; tai là vô ngă, các tiếng à vô ngă ; mũi là vô ngă, các hương là vô ngă ; lưỡi là vô ngă, các vị là vô ngă ; thân là vô ngă, xúc là vô ngă ; ư là vô ngă, các pháp là vô ngă." Này Ànanda, đây gọi là tưởng vô ngă. Và này, thế nào là tưởng bất tịnh ?

6. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo quán sát thân này từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc, đầy những vật bất tịnh sai biệt như : "Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, dây gân, xương, tủy, thận, quả tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, nước ở khớp xương, nước mũi, nước ở khớp xương, nước tiểu". Như vậy, vị ấy trú quán bất tịnh trong thân này. Này Ànanda, đây gọi là tưởng bất tịnh. Và này Ànanda, thế nào là nguy hại ?

7. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quán sát như sau : "Nhiều khổ là thân này, nhiều dự nguy hại. Như vậy trong thân này, nhiều lợi bệnh khởi lên. Ví như bệnh đau mắt, bệnh đau về tai, bệnh đau mũi, bệnh đau lưỡi, bệnh đau thân, bệnh đau đầu, bệnh đau vành tai, bệnh đau miệng, bệnh đau răng, bệnh ho, bệnh suyễn, bệnh sổ mũi, bệnh sốt, bệnh già yếu, bệnh đau yếu, bệnh đau bụng, bất tỉnh, kiết lỵ, bệnh đau bụng quặn, bệnh thổ tả, bệnh hủi, bệnh ung nhọt, bệnh ghẻ lở, bệnh ho lao, bệnh trúng gió, bệnh da, bệnh ngứa, bệnh da đóng vảy, bệnh hắc lào lang ben, bệnh ghẻ, bệnh huyết đảm (mật trong máu), bệnh đái đường, bệnh trĩ, bệnh mụt nhọt, bệnh ung thư ung loét, các bệnh khởi lên từ gió ; bệnh do ḥa hợp các thể dịch sinh ra ; các bệnh do nghiệp thuần thục, lạnh, nóng, đói khát, đại tiện, tiểu tiện". Như vậy, vị ấy sống, quán sự nguy hại trong thân này. Này Ananda, đây gọi là các tưởng nguy hại. Và này Ànanda, thế nào là tưởng đoạn tận ?

8. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo, không có chấp nhận dục tầm đă sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng ; không có chấp nhận sân tầm đă sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng ; không có chấp nhận hại tầm... đă sanh... ; không có chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng. Này Ànanda, đây được gọi tưởng đoạn tận. Và này Ànanda, thế nào là từ bỏ ?

9. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, duy xét như sau : "Đây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn. Và này Ànanda, thế nào là tưởng đoạn diệt ?

10. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau : "Đây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn". Và này Ànanda, thế nào là tưởng không ưa thích trong tất cả thế giới ?

11. Ở đây, này Ànanda, phàm ở đời có những chấp thủ phương tiện, tâm quyết định, thiên kiến, tùy miên nào, Tỷ-kheo từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ. Này Ànanda, đây gọi là tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế gian. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng vô thường trong tất cả hành ?

12. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành. Này Ànanda, đây gọi là vô thường trong tất cả hành. Và này Ananda, thế nào là tưởng niệm hơi thở vào, hơi thở ra ?

13. Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, để niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô ; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy rơ biết : "Tôi thở vô dài". Thở ra dài, vị ấy rơ biết : "Tôi thở vô ngắn" ; hay thở ra ngắn, vị ấy rơ biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô, vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, Tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn tiệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Này Ànanda, đó là niệm hơi thở vô, hơi thở ra.

14. Này Ànanda, nếu Thầy đi đến Tỷ-kheo Girimànanda và đọc lên mười tưởng này, sự kiện này có xảy ra : Tỷ-kheo Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức".

15. Rồi Tôn giả Ànanda, sau khi học thuộc từ Thế Tôn mười tưởng này, đi đến Tôn giả Girimànanda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Girimànanda mười tưởng này. Và Tôn giả Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức. Tôn giả Girimànanda, được thoát khỏi bệnh ấy. Được đoạn tận như vậy là chứng bệnh ấy của Tôn giả Girimànanda.

VII. PHẨM SONG ĐÔI

 

(I) (61) VÔ MINH

1. - Này các Tỷ-kheo, khởi điểm đầu tiên của vô minh không thể nêu rơ để có thể nói : "Trước điểm này, vô minh không có, rồi sau mới có." Như vậy, này các Tỷ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rơ : "Do duyên này, vô minh (có mặt)". Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng vô minh có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho vô minh ? Năm triền cái, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng năm triền cái có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho năm triền cái ? Bác hành, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng ba ác hành có thức ăn, không phải không co thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho ba ác hành ? Các căn không chế ngự, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, các căn không chế ngự có thực, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho các căn không chế ngự ? Không chánh niệm tỉnh giác, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng không chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho không chánh niệm tỉnh giác ? Phi như lư tác ư, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng phi như lư tác ư có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho phi như lư tác ư ? Không có ḷng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng không có ḷng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn cho không có ḷng tin ? Không nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, không nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho không nghe diệu pháp ? Không giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy.

2. Như vậy, này các Tỷ-kheo, không giao thiệp với bậc Chân nhân được viên măn, thời làm viên măn không có nghe diệu pháp ; không có nghe diệu pháp được viên măn, thời làm viên măn không có ḷng tin ; không có ḷng tin được viên măn, thời làm viên măn phi như lư tác ư ; phi như lư tác ư được viên măn, thời làm viên măn không chánh niệm tỉnh giác ; không chánh niệm tỉnh giác được viên măn, thờ làm viên măn các căn không chế ngự ; các căn không chế ngự được viên măn, thời làm viên măn ba ác hành ; ba ác hành được viên măn, thời làm viên măn năm triền cái, năm triền cái được viên măn, thời làm viên măn vô minh.

Như vậy, đây là thức ăn cho vô minh này, và như vậy là sự viên măn.

3. Ví như, này các Tỷ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa ấy chảy xuống theo sườn dốc ; làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng ; sau khi làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lụng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn ; sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ ; sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn ; sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy là thức ăn của biển lớn, của đại dương và như vậy là viên măn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, không giao thiệp với các bậc Chân nhân được viên măn, thời làm viên măn không có nghe diệu pháp ; không có nghe diệu pháp được viên măn, thời làm viên măn không có ḷng tin ; không có ḷng tin được viên măn, thời làm viên măn phi như lư tác ư ; phi như lư tác ư được viên măn, thời làm viên măn không chánh niệm tỉnh giác ; không chánh niệm tỉnh giác được viên măn, thời làm viên măn các căn không chế ngữ ; các căn không chế được viên măn, thời làm viên măn ba ác hành ; ba ác hành được viên măn, thời làm viên măn năm triền cái, năm triền cái được viên măn, thời viên măn vô minh.

Như vậy, đây là thức ăn của vô minh, và như vậy là sự viên măn.

4. Và này các Tỷ-kheo, Ta nói minh giải thoát có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho minh giải thoát ? Bảy giác chi, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng Bảy giác chi có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho bảy giác chi ? Bốn nhiệm xứ, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói như rằng ba thiện hành có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho ba thiện hành ? Các căn được chế ngữ, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng các căn được chế ngự có thức ăn không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho các căn được chế ngự ? Chánh niệm tỉnh giác, cần phải được như vậy. Này các Tỷ-kheo, chánh niệm tỉnh giác có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho chánh niệm tỉnh giác ? Như lư tác ư, cần phải trả lời như vẫy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, như lư tác ư có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho như ư tác ư ? Ḷng tin, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói ḷng tin có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho ḷng tin ? Nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng nghe diệu pháp có thức ăn, không phải không có thức ăn. Cái ǵ là thức ăn cho nghe diệu pháp ? Giao thiệp với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy.

5. Như vậy, này các Tỷ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên măn thời làm viên măn nghe diệu pháp ; nghe diệu pháp được viên măn thời làm viên măn ḷng tin ; ḷng tin được viên măn, thời làm viên măn như lư tác ư ; như lư tác ư được viên măn, thời làm viên măn chánh niệm tỉnh giác ; chánh niệm tỉnh giác được viên măn, thời làm viên măn các căn được chế ngự ; các căn được chế ngự được viên măn, thời làm viên măn ba thiện hành ; ba thiện hành được viên măn Bốn niệm xứ ; Bốn niệm xứ được viên măn, thời làm viên măn Bảy giác chi ; Bảy giác chi được viên măn, thời làm viên măn được giải thoát.

Như vậy, đây là thức ăn của thức ăn của minh giải thoát, và như vậy là sự viên măn.

Ví như, này các Tỷ-kheo, trên một ngọn núi có mưa rơi nặng hột, nước mưa chảy xuống theo sườn dốc, làm đầy các hang núi, các kẽ núi, các thung lũng, chúng làm đầy các hồ nhỏ. Sau khi làm đầy các hồ nhỏ, chúng làm đầy các hồ lớn. Sau khi làm đầy các hồ lớn, chúng làm đầy các sông nhỏ. Sau khi làm đầy các sông nhỏ, chúng làm đầy các sông lớn. Sau khi làm đầy các sông lớn, chúng làm đầy biển cả. Như vậy, là thức ăn của biển lớn, của đại dương, và như vậy là sự viên măn.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, giao thiệp với bậc Chân nhân được viên măn, thời làm viên măn nghe diệu pháp ; nghe diệu pháp được viên măn, thời làm viên nghe ḷng tin ; ḷng tin được viên măn thời làm viên măn như lư tác ư ; như lư tác ư được viên măn, thời làm viên măn chánh niệm tỉnh giác ; chánh niệm tỉnh giấc được viên măn, thời làm viên măn các căn được chế ngự ; các căn chế ngự được viên măn, thời làm viên măn ba thiện hành ; ba thiện hành được viên măn, thời làm viên Bốn niệm xứ ; Bốn niệm xứ được viên măn, thời làm viên măn Bảy giác chi ; Bảy giác chi được viên măn, thời làm viên măn minh giải thoát.

Như vậy là thức ăn của minh giải thoát, và như vậy là viên măn.

 

(62) HỮU ÁI

1. - Này các Tỷ-kheo, khởi điểm đầu tiên của hữu ái không thể nêu rơ để có thể nói : "Trước điểm này, hữu ái không có, rồi sau mới có". Như vậy, này các Tỷ-kheo, lời này được nói đến. Tuy vậy, sự việc này được nêu rơ : "Do duyên này, hữu ái có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho hữu ái ? Vô minh, cần phải trả lời như vậy. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng vô minh có thức ăn, không phải không có thức ăn. Và cái ǵ là thức ăn cho vô minh ? Năm triền cái, cần phải trả lời như vậy... (như kinh trước 61, chi thêm vào đoạn cuối số 3, câu như sau : "Năm triền cái được viên măn thời làm viên măn vô minh. Vô minh được viên măn, thời làm viên măn hữu ái".

Như vậy. đây là thức ăn của hữu ái, và như vậy là sự viên mạn. (Số 4, 5, 6 c̣n lại giống như kinh trước).

 

(III) (63) CỨU CÁNH

1. - Này các Tỷ-kheo, những ai đặt sự cứu cánh ở nơi Ta tất cả những ấy đầy đủ chánh kiến ấy, năm hạng người đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người, sau khi từ bỏ đời này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây ?

2. Hạng trở lui nhiều nhất là bảy lần, hạng Gia gia, hạng Nhứt chủng, hạng Nhất lai, và vị nào là vị A-la-hán ngay trong hiện tại. Năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Và năm hạng người khác nào, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh ?

3. Hạng Trung gian Niết-bàn, hạng Tổn hại Niết-bàn, hạng Vô hành Niết-bàn, hạng Hữu hành Niết-bàn, hạng Thượng lưu được sắc cứu cánh. Với năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.

Này các Tỷ-kheo, những ai đạt sự cứu cánh ở nơi Ta, tất cả những người ấy đầy đủ chánh kiến. Trong những người đầy đủ chánh kiến, năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.

 

(IV) (64) BẤT ĐỘNG

1. _ Này các Tỷ-kheo, những ai có ḷng tịnh tín bất động ở nơi Ta, tất cả những vị ấy là những bậc Dự lưu. Với những bậc Dự lưu ấy, năm hạng người đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh. Và năm hạng người nào, đạt được cứu cánh, ngay ở nơi đây ?

2.Hạng trở lui nhiều nhất là bảy lần, hạng Gia gia, hạng Nhứt chủng, hạng nhất lai, và vị nào là vị A-la hán ngay trong hiện tại. Năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Và năm hạng người khác nào, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh ?

3. Hạng trung gian Niết-bàn, hạng Tôn hại Niết-bàn, hạng Vô hành Niết-bàn, hạng Hữu hành Niết-bàn, hạng Thượng lưu đạt được sắc cứu cánh. Với năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.

Này các Tỷ-kheo, những ai có ḷng tịnh tín bất động ở nơi Ta, tất cả những vị ấy là những Dự lưu. Với các hạng Dự lưu ấy, năm hạng người này đạt được cứu cánh ngay ở nơi đây. Năm hạng người này, sau khi từ bỏ đời này, đạt được cứu cánh.

 

(V) (65) LẠC VÀ KHỔ (1)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại làng Nàlàka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sámandakàni nói với Tôn giả Sàriputta :

- Thưa Hiền giả Sàriputta, thế nào là lạc, thế nào là khổ ?

2. - Này Hiền giả, tái sanh là khổ, không tái sanh là lạc. Khi có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này : Lạnh, nóng, đói, khát, đạt tiện, tiểu tiện, xúc chạm với lửa, xúc chạm với trượng, xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con và bạn bè, khi gặp nhau, hội ngộ với nhau cũng năo hại.

Này Hiền giả, tái sanh là khổ, khi có tái sanh, chờ đợi là khổ này.

3. Khi không có tái sanh, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này : Không lạnh, không nóng, không đói, không khát, không đại tiện, không tiểu tiện, không có xúc chạm với lửa, không có xúc chạm với trượng, không có xúc chạm với kiếm. Cho đến bà con bạn bè, khi gặp nhau, khi hội ngộ với nhau không có năo hại.

Này Hiền giả, khi không có tái sanh, chờ đợi là lạc này.

 

(VI) (66) LẠC VÀ KHỔ (2)

1. Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Nàlalagàmaka. Rồi du sĩ Sàmandakàni đi đến Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ Sàmandakàni nói với Tôn giả Sàriputta :

- Thưa Hiền giả Sàriputta, trong Pháp và Luật này là lạc, thế nào là khổ ?

2. - Không thích ư, này Hiền giả, trong Pháp và Luật này là khổ ; thích ư là lạc.

Khi nào không thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này : Khi đi không được lạc thú, khi đứng... khi ngồi... khi nằm... khi đi đến rừng... khi đi đến gốc cây... khi đi đến ngôi nhà trống... khi đi đến chỗ lộ thiên... khi đi đến giữa các Tỷ-kheo, không được lạc thú.

Khi nào không thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này.

3. Khi nào thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này : Khi đi được lạc thú ; khi đứng... khi ngồi... khi nằm... khi đi đến làng... khi đi đến rừng... khi đi đến gốc cây... khi đi đến ngôi nhà trống... khi đi đến chỗ lộ thiên... khi đi đến giữa các Tỷ-kheo, có được lạc thú.

Khi nào thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là khổ này.

3. Khi nào thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là lạc này : Khi đi được lạc thú ; khi đứng... khi ngồi... khi nằm... khi đi đến làng... khi đi đến rừng... khi đi đến gốc cây... khi đi đến ngôi nhà trống... khi đi đến chỗ lộ thiên... khi đi đến giữa các Tỷ-kheo, có được lạc thú.

Khi nào thích ư có mặt, này Hiền giả, chờ đợi là lạc thú này.

 

(VII) (67) TẠI NALAKAPÀNA (1)

1. Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala, với đại chúng Tỷ-kheo, đi đến tại một thị trấn của dân chúng Kosala tên là Nala-ka-àna. Tại đấy, Thế Tôn trú ở rừng Palàsa, tại Nalakapàna. Lúc bấy giờ, Thế Tôn nhân ngày trai giới Uposatha, Thế Tôn đang ngồi, có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn sau phần lớn của đêm, thuyết giảng, khích lệ, làm phấn khởi, làm cho hoan hỷ các vị Tỷ-kheo với pháp thoại ; sau khi nh́n xung quanh chúng Tỷ-kheo đang yên lặng, thật yên lặng, nói với Tôn giả Sàriputta :

- Này Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này Sàriputta, hăy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Lưng Ta đau mỏi, Ta sẽ nằm duỗi lưng.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Sàriputta vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn trải gấp tư áo Tăng-già-lê, nằm phía thân hữu bên phải như dáng nằm con sư tử, hai chân đặt trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ư đến tưởng ngồi dậy.

2. Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỷ-kheo :

- Này chư Hiền Tỷ-kheo.

- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta, Tôn giả Sàriputta nói như sau :

3. - Này chư Hiền, với ai không có ḷng tin trong các pháp thiện, không có xấu hổ... không có sợ hăi... không có tinh tấn... không có tuệ trong pháp thiện, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng.

Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng tối ; bất luận đêm hay ngày, trăng tổ giảm về sắc, tổn giảm về h́nh tṛn, tổn giảm về ánh sáng, tổn giảm về bề rộng quỷ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai không ḷng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ... không có sợ hăi... không có tinh tấn... không có trí tuệ trong các thiện, với người ấy, bất luận là đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có ḷng tin, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hăi, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người phẫn nộ, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác dục, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người ác bằng hữu, này chư Hiền, tức là tổn giảm. Hạng người tà kiến, này chư Hiền, tức là tổn giảm.

4. Này chư Hiền, với ai có ḷng tin trong các thiện pháp, có ḷng xấu hổ... có ḷng sợ hăi... có tinh tấn... có trí tuệ trong các thiện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng sáng, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn hại. Ví như, này chư Hiền, khi trăng đến độ trăng sáng, bất luận đêm hay ngày, trăng tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về h́nh tṛn, tăng trưởng về ánh sáng, tăng trưởng về bề rộng quỷ đạo. Cũng vậy, này chư Hiền, với ai có ḷng tin trong các thiện pháp, có xấu hổ... có sợ hăi... có tinh tấn... có trí tuệ trong các thiện pháp, với vị ấy bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng trong các thiện pháp, không phải tổn giảm. Hạng người có ḷng, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có ḷng xấu hổ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có ḷng sợ hăi, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người tinh cần tinh tấn, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người có trí tuệ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không có phẫn nộ, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người không hiểm hận, này chư hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người thiện bằng hữu, này chư Hiền, tức là không tổn giảm. Hạng người chánh tri kiến, này chư Hiền, tức là không tổn giảm.

5. Rồi Thề Tôn, sau khi ngồi dậy, bảo Tôn giả Sàriputta :

- Lành thay, lành thay, này Sàriputta ! Với ai không có ḷng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ... không có xấu hổ... không có sợ hăi... không có tinh tấn... không có trí tuệ trong các thiện pháp, đối với vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các thiện pháp, không phải tăng trưởng. Ví như, Sáriputta, khi trăng đến độ trăng tối, bất luận đêm hay ngày, trăng tổn giảm về sắc, tổn giảm về bề rộng quỷ đạo. Cũng vậy, này Sàriputta, với ai không có ḷng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ... không có sợ hăi... không có tinh tấn... không có trí tuệ trong các biện pháp, với người ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tổn giảm trong các biện pháp, không phải tăng trưởng. Hạng người không có ḷng tin, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có xấu hổ, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có xấu hổ, này Sàriputta, tức là tổn giảm. Hạng người không có sợ hăi... Hạng người biếng nhác... Hạng người ác trí tuệ... Hạng người phẫn nộ... Hạng người hiềm hận... Hạng người ác dục... Hạng người ác bằng hữu... Hạng người tà kiến, này Sàriputta tức là tổn giảm, với ai, này Sàriputta, có ḷng tin trong các thiện pháp, có ḷng xấu hổ... có ḷng sợ hăi... có vị ấy, bất luận đêm hay ngày, chờ đợi là tăng trưởng, không phải tổn giảm. Hạng người có ḷng tin, này Sàriputta, tức là không có tổn giảm. Hạng người có xấu hổ... Hạng người có sợ hăi... Hạng người có tinh tấn... Hạng người có trí tuệ... Hạng người không có phẫn nộ... Hạng người không có hiềm hận... Hạng người ít dục... Hạng người thiện bằng hữu... Hạng người chánh tri kiến, này Sàriputta, tức là không tổn giảm.

 (VIII) (68) NALAKAPÀNA (2)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Nalakapàna, tại Palàsavana. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong ngày trai giới Uposatha, đang ngồi có chúng Tỷ-kheo đoanh vây... (Kinh này giống như kinh trước 67, chỉ khác là các pháp đề cập có khác nhau. Trong kinh trước, các pháp được đề cập là không có ḷng tin trong thiện pháp, không có xấu hổ... không có sợ hăi... không có tinh tấn, không có trí tuệ, phẫn nộ, hiềm hận, ác dục, ác bằng hữu, tà kiến. Trong kinh này, các pháp được đề cập là : không có ḷng tin trong các thiện pháp, không có xấu hổ, không có sợ hăi, không có tŕ pháp, không có trí tuệ, không có lắng tai, không có tŕ pháp, không có suy tư ư nghĩa, không có thực hành đúng pháp, không có phóng dật trong các thiện pháp)...

(XI) (69) NHỮNG ĐỀ TÀI CÂU CHUYỆN (1)

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana trong khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, rất nhiều Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại hội trường. Các vị này đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây : Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về quân đội, câu chuyện về sợ hăi, câu chuyện về chiến trận, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về đồ nằm, câu chuyện về ṿng hoa, câu chuyện về hương, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về ma quỷ, các câu chuyện sai khác về thế giới, về biển lớn, các câu chuyện về hữu và phi hữu.

2. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đă soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo :

- Này các Tỷ-kheo, các Thầy nay ngồi hội họp ở đây, nói chuyện về vấn đề ǵ ? Câu chuyện ǵ đang bàn giữa các Thầy bàn xong ?

- Bạch Thế Tôn, ở đây, chúng con sau buổi ăn, sau khi đi khất trở về, chúng con ngồi hội họp tại hội trường, và chúng con đang chú tâm trong nhiều câu chuyện phù phiếm sai khác sau đây : Câu chuyện về vua, câu chuyện về ăn trộm... các câu chuyện về hữu và phi hữu.

- Này các Tỷ-kheo, thật không xứng đáng cho các Thầy, là những thiện nam tử, v́ ḷng xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, lại có thể sống sai khác, như câu chuyện về vua... câu chuyện về hữu và phi hữu. Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài nói chuyện này. Thế nào là mười ?

3. Câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến.

Này các Tỷ-kheo, có mười đề tài để nói chuyện này.

4. Này các Tỷ-kheo, nếu các Thầy tiếp tục nói những câu chuyện liên hệ đến mười đề tài để nói chuyện này, thời các Thầy có thể với ánh sáng (của ḿnh) đánh bạt ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực, có uy lực, c̣n nói ǵ của các du sĩ ngoại đạo.

 

(X) (70) NHỮNG ĐỀ TÀI CÂU CHUYỆN (2)

1. - Này các Tỷ-kheo, có mười sự việc được tán thán này. Thế nào là mười ?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tự ḿnh ít dục, và là người khiến cho đề tài ít dục được nói đến giữa các Tỷ-kheo. Tỷ-kheo ít dục và là người khiến cho đề tài ít dục được nói đến giữa các Tỷ-kheo, là sự việc đáng được tán thán và Tỷ-kheo tự ḿnh biết đủ... tự ḿnh sống viễn ly... tự ḿnh không tụ hội... tự ḿnh tinh tấn... tự ḿnh đầy đủ giới... tự ḿnh đầy đủ định... tự ḿnh đầy đủ tuệ... tự ḿnh đầu đủ giải thoát... tự ḿnh đầy đủ giải thoát tri kiến, và là người khiến cho đề tài giải thoát tri kiến được nói đến giữa các Tỷ-kheo, là sự việc đáng được tán thán.

Này các Tỷ-kheo, có mười sự việc được tán thán này./.

Thực hiện: Ngọc Liên

Kinh Tăng Chi