1. Một thời, Thế Tôn trú ở Kajangalà, tại Trúc Lâm. Bấy giờ có rất nhiều nam cư sĩ ở Kajangalà đi đến Tỷ-kheo-ni trú ở Kajangalà, sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nhà cư sĩ ở Kajangalà nói với Ty-kheo-ni ở Kjangalà :
2. - Thưa Đại Tỷ, Thế Tôn có tuyên bố trong các câu hỏi lớn : "Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời ; hai câu hỏi, hai câu tuyên bố, hai xâu trả lời ; ba câu hỏi, ba câu tuyên bố, ba câu trả lời ; bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời ; năm câu hỏi. Năm câu tuyên bố, năm câu trả lời ; sáu câu hỏi, sáu câu tuyên bố, sáu câu trả lời ; bảy câu hỏi, bảy câu tuyên bố, bảy câu trả lời ; tám câu hỏi, tám câu tuyên bố, tám câu trả lời ; chín câu hỏi, chín câu tuyên bố, chín câu trả lời ; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời." Thưa Đại Tỷ, lờ nói vắn tắt này của Thế Tôn ư nghĩa rộng răi cần phải hiểu như thế nào ?
3. - Này cá Hiền giả, tôi không được tận mặt nghe và tận mặt lănh thọ từ Thế Tôn. Tôi cũng không được tận mặt nghe và tận mặt lănh thọ từ các Tỷ-kheo có tu tập về ư. Tuy vậy, ở đây, vấn đề được tŕnh bày với tôi như thế nào, hăy nghe và khéo tác ư, tôi sẽ nói.
- Thưa vâng, Đại tỷ
Các nam cư sĩ ở Kajangalà vâng đáp Ty-kheo-ni ở Kajangalà nói như sau :
4-5. - Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời được nói đến như vậy. Do duyên ǵ được nói đến như vậy ? (Ở đây, giống như câu hỏi đầu của kinh trước).
6. Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời được thế Tôn nói đến như vậy. Do duyên ǵ được nói đến như vậy ?
Trong bốn pháp, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong bốn pháp ?
Trong bốn niệm xứ.
Trong bốn pháp này, này chư hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập, chơn chánh... là người chấm dứt khổ đau.
Bốn câu hỏi, bốn câu tuyên bố, bốn câu trả lời, Thế Tôn đă nói như vậy. Do duyên ǵ được nói đến như vậy.
7-8. Năm câu hỏi, năm câu tuyên bố, năm câu trả lời, Thế Tôn đă nói như vậy. Do duyên ǵ được nói đến như vậy ?
Trong năm pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm... là người chấm dứt khổ đau. Trong năm pháp ǵ ?
Trong năm căn...
Trong sáu pháp ǵ ?
Trong sáu xuất ly giới...
Trong bảy pháp ǵ ?
Trong bảy giác chi...
Trong tám pháp chi...
Trong tám pháp ǵ ?
Trong con đường Thánh có tám ngành...
Trong chín pháp ǵ ?
Trong chín hữu t́nh cư...
9. Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đă nói như vậy. Do duyên ǵ được nói đến như vậy ?
Trong mười pháp, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh khéo tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, sau khi chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại là người chấm dứt khổ đau. Thế nào là trong mười pháp ?
Trong mười thiện đạo
Trong mười pháp này, này chư Hiền, Tỷ-kheo chơn chánh tu tập tâm, chơn chánh thấy được cứu cánh, chơn chánh thắng tri mục đích, ngay trong hiện tại, là người chấm dứt khổ đau.
Mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời, Thế Tôn đă nói như vậy. Do duyên này được nói như vậy.
10. Như vậy, này chư Hiền, Thế Tôn đă nói đến trong các câu hỏi lớn : "Một câu hỏi, một câu tuyên bố, một câu trả lời... ; mười câu hỏi, mười câu tuyên bố, mười câu trả lời". Này chư Hiền, lời Thế Tôn tuyên bố tuyên bố vắn tắt này, tôi hiểu ư nghĩa một cách rộng răi như vậy. Này chư Hiền, nếu muốn các vị hăy đi đến Thế Tôn và hỏi ư nghĩa này. Thế Tôn trả lời các hiền giả như thế nào, hay như vậy thọ tŕ.
- Thưa vâng, Đại tỷ.
Các nam cư sĩ ở Kajangalà sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà, thân phía sau khi đến, đảnh lễ Tỷ-kheo-ni rồi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các nam cư sĩ ở Kajangalà, đem câu chuyện nói với Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà như thế nào, tất cả đều thuật lên Thế Tôn rơ.
11. - Lành thay, lành thay, này các Gia chủ. Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, có trí tuệ là Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà ! Này các Gia chủ, có trí tuệ, nếu các Ông có đi đến Ta và hỏi ư nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Tỷ-kheo-ni ở Kajangalà đă trả Lời
Đây là ư nghĩa của lời nói ấy, hăy như vậy thọ tŕ.
(IX) (29) NGƯỜI KOSALÀ
1. - Này các Tỷ-kheo, xa trông như thế nào là nước Kàsi Kosalà, xa rộng như thế nào, là sự trị v́ của vua pasanadi nước Kosalà, trong phạm vi như vậy, vua Pasenadi nước Kosalà được xem là tối thượng ! Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với vua Pasena di, nước Kosalà có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (vấn đề) ấy ; do nhàm chán trong (vấn đề) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ đối với hạ liệt.
2. Này các Tỷ-kheo, xa cho đến mặt trăng, mặt trời di chuyển, xoay chuyển, chói sáng các phương, cho đến như vậy là ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới ấy, có 1.000 mặt trăng, có 1000 mặt trời, có 1000 vua núi Sineru, có 1000 cơi Diêm phù đề, 1000 Tây ngưu Hóa châu, 1000 Bắc-cu-lô-chân, 1000 Đông thắng Thần châu, 4000 biển lớn, 4000 Đại vương, 1000 Bốn đại Thiên vương, 1000 Tam thập tam thiên, 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Dạ-ma-thiên, 1000 Đâu-suất thiên, 1000 Hóa lạc thiên, 1000 Tha hóa Tự tại thiên, 1000 Phạm thiên giới. Này các Tỷ-kheo, xa rộng cho đến 1000 thế giới, Đại phạm Thiên ở đấy được xem là tối thượng. Tuy vậy, này các Tỷ-kheo, đối với Đại Phạm thiên có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong (Đại Phạm thiên) ấy, do nhàm chán trong (Đại Phạm thiên) ấy, từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ đối với hạ liệt.
3. Này các Tỳ-kheo, có một thời, đến thời ấy, thế giới này chuyển hoại, này các Tỷ-kheo, các loài hữu t́nh phần lớn sanh qua cơi Àbhassara (Quang âm thiên). Ở tại đấy, chúng sanh này do ư sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài. Này các Tỷ-kheo, trong khi thế giới chuyển hoại, các Quang âm thiên được xem là tối thượng. Nhưng này các Tỷ-kheo, đối với chư Quang âm thiên, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong (chư Quang âm thiên) ấy ; do nhàm chán trong (Quang âm thiên) ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ đối với hạ liệt.
4. Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này. Thế nào là mười ?
Một người tưởng tri Thiền án đất, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Một người tưởng tri Thiền án nước... một người tưởng tri Thiền án lửa... một người tưởng tri Thiền án gió, một người tưởng tri Thiền án xanh... một người tưởng tri Thiền án vàng... một người tưởng tri Thiền đỏ... một người tưởng tri Thiền án trắng... một người tưởng tri Thiền án hư không... một người tưởng tri Thiền án thức, phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng.
Này các Tỷ-kheo, có mười Thiền án xứ này.
5. Các này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong mười Thiền án xứ này, tức là Thiền án thức. Có người tưởng tri phía trên, phía dưới, bề ngang, không hai, vô lượng. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Đối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm chán trong ấy ; do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ với hạ liệt.
6. Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này. Thế nào là tám ?
Một vị quán tưởng nội sắc, thấu các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng xứ thứ nhất.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng xứ thư hai.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng : Sau khi nhiếp thắng chúng vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, Ta thấy". Đó là thắng xứ thứ ba.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng xứ thứ tư.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tưởng sắc xanh, h́nh sắc xanh, ánh sáng xanh - như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, h́nh sắc xanh, ánh sáng xanh - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, h́nh sắc xanh, ánh sáng xanh. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta thấy, ta biết". Đó là thắng xứ thứ năm.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu xám, tướng sắc vàng, h́nh sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông kannikàra màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, h́nh sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, h́nh sắc vàng, ánh sáng vàng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoài sắc màu vàng, sắc màu vàng, tưởng sắc màu vàng, h́nh sắc vàng, ánh sáng vàng. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng xứ thứ sáu.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, h́nh màu đỏ - như lụa Ba-la-nại, cả ai mặt láng trơn, màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, h́nh sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng xứ thư bảy.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, h́nh sắc trắng, ánh sáng trắng - như sao mai Osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, h́nh sắc trắng, ánh sáng trắng - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, h́nh sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy, vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, h́nh sắc trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thăng chúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy". Đó là thắng thứ tám
Này các Tỷ-kheo, có tám thắng xứ này.
7. Các này lá tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong tám thắng xứ này, tức là có người tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng màu trắng, h́nh sắc màu trắng, ánh sáng trắng. Sau khi nhiếp thắng cúng, vị ấy tưởng tri như sau : "Ta biết, ta thấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tưởng như vậy. Đối với các chúng sanh tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nó ǵ đối với hạ liệt.
8. Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này. Thế nào là bốn ?
Con đường khổ thắng tri chậm ; con đường khổ thắng tri mau ; con đường lạc thắng tri chậm ; con đường lạc thắng tri mau.
Này các Tỷ-kheo, có bốn con đường này.
9. Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn con đường này, tức là con đường lạc thắng tri mau. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh thực hành như vậy. Đối với các chúng sanh thực hành như vậy, này các Tỷ-kheo có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ đối với hạ liệt.
10. Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này. Thế nào là bốn ?
Có người tưởng tri có hạn lượng. Có người tưởng tri đại hành. Có người tưởng tri Vô sở hữu xứ, nghĩ rằng : "Không có sự vật ǵ"
Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng này.
11. Các này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong bốn tưởng này, tức là có người tưởng tri Vô sở hữu, nghĩ rằng : "Không có sự vật ǵ". Này các Tỷ-kheo có những chúng sanh có tưởng như vậy. Đối với các chúng sanh có tưởng như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến thoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói ǵ đối với hạ liệt.
12. Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các thành khiến của các dị học, tức là : "Nếu ta không có trong lúc ấy, thời nay đă không có của ta. Nếu ta sẽ không có, thời sẽ không có của ta". Với người có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có thể chờ đợi như sau : Sự không nhàm chán này đối với hữu sẽ không có đối với người ấy. Sự nhàm chán này đối với hữu diệt sẽ không có đối với người ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có tri kiến như vậy. Đối với chúng sanh có tri kiến như vậy, này các Tỷ-kheo, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do vậy nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng, c̣n nói đối với các hạ liệt.
13. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Bà-la-môn... tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng.
14. Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố thanh tịnh là mục đích tối thắng, tức là sự vượt qua một cách an toàn Vô sở hữu xứ, sự chứng đạt và an trú Phi tưởng phi tưởng xứ. Họ thuyết pháp để thắng tri cái ấy, để giác ngộ cái ấy. Này các Tỷ-kheo, có những chúng sanh có nói như vậy. Này các Tỷ-kheo, đối với các chúng sanh có nói như vậy, có sự đổi khác, có sự biến hoại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm chán trong ấy. Do nhàm chán trong ấy, vị ấy từ bỏ sự tối thượng c̣n nói ǵ với các hạ liệt.
15. Này các Tỷ-kheo, có một số Sa-môn, Ba-la-môn... tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng.
16. Cái này là tối thượng, này các Tỷ-kheo, trong các vị tuyên bố hiện tại Niết-bàn là mục đích tối thắng, tức là sau khi như thật sự tập khởi, sự chấm dứt vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xúc xứ, được giải thoát không có chấp thủ. Này các Tỷ-kheo Ta là người đă nói như vậy, đă tuey6n bố như vậy. Và một số Sa-môn, Ba-la-môn xuyên tạc Ta với điều không thật là phi hữu, trống không, nói láo, nói rằng : "Sa-môn Gotama không tuyên bố sự liễu tri các dục, không tuyên bố sự liễu tri các sắc, không tuyên bố sự liễu tri các thọ".
17. Và này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố sự liễu tri các dục, Ta tuyên bố sự liễu tri các sắc, ta tuyên bố sự liễu tri các thọ, Ta tuyên ngay trong hiện tại sự vô dục, tịch diệt, thanh lương không chấp thủ, Bát-niết-bàn.
(X) (30) KOSALÀ (2)
1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, từ một trận chiến trở về, thắng trận, mục đích đă đạt được. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến khu vườn. Xa cho đến đất có thể đi xe được, vua đi xe, rồi xuống xe đi bộ và vào khu vườn.
2. Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo :
- Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác trú ở đâu ? Thưa các Tôn giả, chúng tôi muốn yết kiến thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
Tâu Đại vương, đây là ngôi tịnh xá, có cửa đóng. Ngài hăy đi đến ngôi nhà ấy, đừng có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gơ nơi then cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho đại Vương.
Rồi vua Pasenadi nước Kosalà, đi đến ngôi tịnh xá cửa đóng ấy, đi đến không có tiếng động không có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gơ vào then cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi, nước Kosalàđi vào tịnh xá, đầu cúi rạp xuống trước chân Thế Tôn, miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay xoa bóp, và nói lên tên ḿnh :
- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasnadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà.
- Thưa Đại vương, do Đại vương thấy ư nghĩa lợi ích ǵ mà Đại vương lại làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ ḷng kính mộ đối với cái thân này ?
4. Bạch Thế Tôn, để nêu rơ ḷng biết ơn của con, để nói lên ḷng cảm tạ của con đối với Thế Tôn, mà con làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ bày ḷng từ ái đối với Thế Tôn. bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đă thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, là vị đă an lập Thánh chánh lư cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh. thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, v́ Thế Tôn là vị đă thực hiện hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp tánh ; v́ con thấy ư nghĩa lợi ích này nên con đă làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ bày ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
5. Lại nữa, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới. Bạch Thế Tôn, v́ rằng Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới ; Bạch Thế Tôn, v́ con thấy ư nghĩa lợi ích này, mà con đă làm nhưng cử hạ liệt quá mức như vậy và bày tỏ ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
6. Lại nữa, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đă lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng. Bạch Thế Tôn, v́ rằng Thế Tôn đă lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các Trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng ; Bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
7. Lại nữa, Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào được cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, v́ rằng Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào cúng dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh ; Bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
8. Lại nữa, Bạch Thế Tôn, Thế tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng đường, đáng được chắp tay là phước điền vô thượng ở đời. V́ rằng, Bạch Thế tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời ; Bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ với Thế Tôn.
9. Lại nữa, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng ứng khai mở tâm trí, ví như câu chuyện vế ít dục, câu chuyện biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát về tri kiến, các câu chuyện như vậy, Thế Tôn có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. V́ rằng bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng... có được không phí sức ; bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
10. Lại nữa, bạch thế tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí sức. V́ rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền... có ḷng không phí sức ; bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
11. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn tùy niệm nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời... nhớ lại nhiều đời với các nét đại cương vá các chi tiết. V́ rằng bạch thế Tôn, Thế Tôn nhớ lại nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời... nhớ lại nhiều đời sống với các nét đại cương và các chi tiết ; bạch Thế Tôn, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
12. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn với thiên nhăn thanh tịnh siêu nhân...đều do hạnh nghiệp của họ (xem Trường kinh tập I, trang 82). Bạch Thế Tôn, v́ rằng Thế Tôn với thiên thanh nhăn tịnh siêu nhân, v́ con thấy... ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
13. Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lâu hoặc, ngay trong hiện tại tự ḿnh với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. V́ rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự ḿnh với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ; v́ con thấy ư nghĩa lợi ích này nên con đă làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ ḷng kính mộ đối với Thế Tôn.
14. Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều công tác, có nhiều công việc phải làm.
- Thưa Đại vương, nay Đại vương hăy làm những ǵ Đại vương nghĩ là hợp thời.
Rồi vua Pasanadi nước Kosalà, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
![]()
(I) (31) UPÀLI VÀ GIỚI BỔN
1. Bấy giờ có tôn giả Upàli đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Upàli bạch Thế Tôn :
2. - Bạch Thế Tôn, do duyên bao nhiêu mục đích, các học pháp thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc ?
- Này Upàli, do duyên mười mục đích, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc. Thế nào là mười ?
3. Để tăng chúng được cực thiện, để Tăng chúng được an ổn, để chận đứng các người cứng đầu, đề các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn, để chế ngự các lậu hoặc ngay trong hiện tại, để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai, để đem lại tịnh tín cho những người không tin, để diệu pháp được tồn tại, để luật được chấp nhận.
Do duyên mười mục đích này, này Upàli, các học pháp được thiết lập cho các đệ tử Như Lai, và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc.
4. - Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc ?
- Này Upàli, có mười trường hợp, giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc. Thế nào là mười ?
5. Khi có người phạm Ba-la-di tội ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người phạm Ba-la-di tôi chưa chấm dứt, khi có người thọ cụ túc giới ngồi trong hội chúng ấy, khi thảo luận về người chưa thọ cụ túc giới chưa chấm dứt, khi một người từ bỏ học pháp ngồi xuống trong hội chúng, khi cuộc thảo luận về con người từ bỏ học pháp chưa chấm dứt, khi có người thiếu nam căn c̣n ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luận về người thiếu nam căn chưa chấm dứt, khi có người "ô nhục Tỷ-kheo-ni" c̣n ngồi trong hội chúng ấy, khi cuộc thảo luân về người ô nhục Tỷ-kheo-ni chưa được chấm dứt.
Này Upàli, đây là mười trường hợp giới bổn Pàtimokkha bị ngưng tuyên đọc.
(II) (32) NGƯỜI ĐOẠN SỰ
1. - Bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo thành tựu bao nhiêu pháp để được làm người đoạn sự viên ?
- Này Upàli, một Tỷ-kheo thành tựu mười pháp để được làm người đoạn sự viên. Thế nào là mười ?
2. Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo giữ giới sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầu đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hăi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ tŕ điều đă nghe, cất chứa điều đă nghe. Những pháp nào, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, tán thán Phạm hạnh hoàn toàn viên măn thanh tịnh, những pháp như vậy, vị ấy được nghe nhiều, được thọ tŕ, được đọc tụng bằng lời, được quan sát với ư, được khéo léo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha được khéo truyền đạt một cách rộng răi, được khéo phân tích, khéo thông hiểu khéo quyết định theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy được khéo an trú trên luật, không có dao động ; có khả năng làm cho cả hai phe chống đối thông hiểu, chinh phục họ, làm cho họ thấy, làm cho họ ḥa giải với nhau. Vị ấy thiện xảo trong sự sanh khởi và chấm dứt các tránh sự, biết các tránh sự, biết tránh sự sanh khởi, biết tránh sự đoạn diệt, biết con đường đưa đến tránh sự được đoạn diệt.
Thành tựu mười pháp này, này Upàli, Tỷ-kheo được xem là khả năng làm vị đoạn sự viên.
(III) (33) CỤ TÚC GIỚI
1. - Bạch Thế Tôn, thành tựu bao nhiêu pháp, một Tỷ-kheo có khả năng trao truyền cụ túc giới ?
- Thành tựu mười pháp, này Upàli, vị Tỷ-kheo có khả năng trao truyền cụ túc giới. Thế nào là mười ?
2. Ở đây, này Upàli, Tỷ-kheo có giới, sống được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh thấy sợ hăi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, là người nghe nhiều, thọ tŕ điều đă được nghe, cất chứa điều đă được nghe... khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng nuôi dưỡng bệnh nhân hay khiến người nuôi dưỡng, có khả năng làm cho tịnh chỉ bất măn hay khiến tịnh chỉ bất măn, có khả năng đoạn trừ đúng pháp ác tác khởi lên, có khả năng phân biệt chỉ trích tà kiến khởi lên, có khả năng khích lệ trong tăng thượng giới, có khả năng khích lệ trong tăng thượng tâm, có khả năng khích lệ trong tăng thượng tuệ.
Thành tựu mười pháp này, này Upàli, một Tỷ-kheo có khả năng trao duyên truyền cụ túc giới.
(VI) (34) Y CHỈ SA-DI
1. - Thành tựu bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, một Tỷ-kheo có thể trao truyền y chỉ,...có khả năng nuôi dưỡng Sa-di ?
- Thành tựu mười pháp, này Upàli, này Upàli, một Tỷ-kheo có thể trao tuyền y chỉ...có khả năng nuôi dưỡng Sa-di. Thế nào là mười ?
2. Ở đây, này Upàli, vị Tỷ-kheo có giới...chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều... khéo thể nhập với chánh kiến. Cả hai giới bổn Pàtimokkha, khéo truyền đạt một cách rộng răi, khéo phân tích, khéo thông hiểu, khéo quyết định, theo kinh, theo chi tiết. Vị ấy có khả năng nuôi dưỡng nhân hay khiến người nuôi dưỡng ; có khả năng làm cho tịnh chỉ bất măn ha khiến người khác tịnh chỉ bất măn ; có khả năng đoạn trừ đúng pháp ác tác khởi lên ; có khả năng phân tích chỉ trích tà kiến khởi lên ; có khả năng khích lệ trong tăng thượng giới ; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tâm ; có khả năng khích lệ trong tăng thượng tuệ.
Thành tựu mười pháp này, này Upàli., một Tỷ-kheo có khả năng nuôi dưỡng Sa-di.
(V) (35) PHÁ HÓA HỢP TĂNG
1. - Phá ḥa hợp tăng, phá ḥa hợp tăng, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn là phá ḥa hợp Tăng ?
2. - Ở đây, này Upáli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp là pháp, thuyết pháp là phi pháp ; thuyết luật là phi luật ; thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai nó, Như Lai thuyết ; thuyết điều Nhu Lai có nói, có thuyết, là điều Như Lai không nói, không thuyết ; thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường sở hành ; thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai không thường sở hành ; thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai chế đặt ; thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai không có chế đặt.
Chính do mười sự này, họ phá hoại, họ chia rẽ, họ hành bất động yết-ma, họ tuyên đọc giới bốn Pátimokkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là chúng Tăng bị phá hoại.
(VI) (36) H̉A HỢP TĂNG
1. - Tăng ḥa hợp, Tăng ḥa hợp. Bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Tăng ḥa hợp ?
2. - Ở đây, này Upàli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp là phi pháp, thuyết pháp là pháp, thuyết phi pháp là phi luật, thuyết điều là điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai có nói, có thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường không sở hành ; thuyết điều Như Lai thường sỏ hành là điều Như Lai thường sở hành ; thuyết điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai không chế đặt ; thuyết điều Như Lai có chế đặt là điều Như Lai có chế đặt.
Với mười sự này, các Tỷ-kheo không phá hoại, các Tỷ-kheo không chia rẽ, các Tỷ-kheo không hành bất cộng yết-ma, các Tỷ-kheo không tuyên d0ọc giới bổn Pàtimkkha khác biệt. Cho đến như vậy, này Upàli, là Tăng chúng được ḥa hợp.
(VII) (37) PHÁ H̉A HỢP TĂNG
(Tôn giả Ànanda hỏi câu hỏi tương tợ và được câu trả lời tương tợ như kinh 25)
(VIII) (38) QUẢ CỦA PHÁ H̉A HỢP TĂNG
1. - Phá hoại Tăng ḥa hợp, đem lại kết quả ǵ ?
2. - Này Ànanda, đem lại tội ác kéo dài đến một kiếp.
3. - Bạch Thế Tôn, tội ác ǵ kéo dài một kiếp ?
4. - Này Ananda, bị nấu trong địa ngục một kiếp.
Kẻ phá ḥa hợp Tăng
Bị rơi vào đọa xứ,
Bị rơi vào địa ngục
Kéo dài đến một kiếp ;
Ưa thích sự bất ḥa,
An trú trên phi pháp,
An ổn các khố ách,
Lại xa ĺa, từ bỏ ;
Ai phá sự ḥa hợp,
Của Tăng chúng Tỷ-kheo,
Trong một kiếp, người ấy,
Bị địa ngục nung nấu.
(XI) (39) H̉A HỢP TĂNG
(Ànanda hỏi cùng một câu hỏi như ở 36 và được trả lời tương tợ)
(X) (40) QUẢ DO H̉A HỢP TĂNG ĐƯA LẠI
1.- Bạch Thế Tôn, với chúng Tăng bị phá, làm cho ḥa hợp lại, đem đến kết quả ǵ ?
2. - Này Ànanda, đem đến phạm công đức !
3. - Bạch Thế Tôn, thế nào là phạm công đức ?
4. - Này Ànanda, trong một kiếp, được sống hoan hỷ ở Thiên giới.
Sống an lạc là người,
Làm ḥa hợp chúng Tăng ;
Sống an lạc là người,
Giúp chúng Tăng ḥa hợp ;
Ưa thích sự ḥa hợp,
An trú trên Chánh pháp.
Ai khiến cho chúng Tăng,
Được sống trong ḥa hợp,
Trong một kiếp, người ấy
Sống hoan hỷ Thiên giới.