Quyển 3 Phần cuối




l. TÁNH ĐỊA ĐẠI VỐN VÔ SANH
- Ngươi xem tánh Địa, thô là đại địa, tế là vi trần, cho đến cực vi là lân hư trần, là sắc tướng nhỏ tột, nếu phân tách nữa th́ thành tánh hư không.
- A Nan, nếu cái lân hư trần đó tách được thành hư không, th́ hư không cũng sanh được sắc tướng. Nay ngươi hỏi rằng, do ḥa hợp mà sanh các tướng biến hóa trên thế gian, th́ ngươi hăy xét, cái lân hư trần này phải dùng bao nhiêu hư không hợp lại mới có? Chẳng lẽ lân hư trần hợp thành lân hư trần? Lại lân hư trần đă tách thành hư không, th́ dùng bao nhiêu sắc tướng hợp lại mới được thành hư không? Nếu lúc hợp sắc, sắc chẳng phải hư không; nếu lúc hợp không, hư không chẳng phải là sắc, sắc c̣n có thể tách ra được, chứ hư không làm sao mà hợp?
- Ngươi vốn chẳng biết, trong Như Lai Tạng (Tự tánh), tánh Sắc chơn Không (thể tánh của Sắc chẳng phải thật, tức là Chơn Không), tánh Không chơn Sắc (thể tánh của Không chẳng phải thật, tức là Chơn Sắc), tự tánh vốn thanh tịnh, đầy khắp mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Người thế gian chẳng biết những hiện tượng đó chỉ là mở mắt chiêm bao, lại mê lầm cho là nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
2. TÁNH HỎA ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Tánh Hỏa chẳng có tự thể, nhờ các trợ duyên mà phát sanh. Ngươi xem các nhà, khi muốn nhúm lửa nấu cơm th́ cầm tấm kiếng đưa dưới ánh sáng mặt trời mà lấy lửa.
- A Nan! Cái gọi là ḥa hợp, cũng như ta cùng ngươi và 1250 vị Tỳ Kheo, nay hợp thành một chúng; chúng dù là một, xét về căn bản th́ mỗi người đều có thân riêng biệt, có tên gọi và họ hàng của ḿnh, như Xá Lợi Phất thuộc ḍng Bà La Môn, Ưu Lâu Tần Loa thuộc ḍng Ca Diếp Ba, cho đến ngươi th́ thuộc ḍng họ Cù Đàm.
- A Nan! Nếu tánh lửa này do ḥa hợp mà có, th́ khi người cầm kiếng lấy lửa nơi ánh sáng mặt trời, lửa này từ trong kiếng ra, từ bùi nhùi ra, hay từ mặt trời ra?
- A Nan! Nếu lửa từ mặt trời ra, đốt được bùi nhùi trong tay người ấy, th́ những rừng cây mà ánh sáng mặt trời chiếu qua, lẽ ra đều bị đốt cả. Nếu từ trong kiếng ra, có thể đốt cháy bùi nhùi, sao cái kiếng lại không chảy? Cả cái tay người cầm kiếng c̣n chẳng thấy nóng th́ làm sao kiếng lại chảy được? Nếu do bùi nhùi ra th́ cần ǵ ánh sáng mặt trời với kiếng tiếp xúc nhau rồi mới có lửa?
- Ngươi lại xét kỹ, kiếng do tay cầm, mặt trời th́ ở trên không, c̣n bùi nhùi th́ từ đất sanh ra, vậy lửa từ phương nào mà đi đến chỗ này? Mặt trời và kiếng cách xa nhau, chẳng ḥa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh lửa khi không tự có?
- Ngươi c̣n chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh hỏa chơn không, tánh không chơn hỏa, tự tánh vốn thanh tịnh, đầy khắp mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. A Nan nên biết, người thế gian ở nơi này cầm kiếng th́ nơi này bốc lửa; nếu khắp pháp giới đều cầm kiếng th́ khắp pháp giới bốc lửa, lửa cháy khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ tùy theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
3. TÁNH THỦY ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Tánh Thủy chẳng định, ngưng và chảy không chừng. Như trong thành Thất La Phiệt, các ông Ca Tỳ La, Chước Ca La và các nhà đại huyễn thuật Bát Đầu Ma Ha Tát Đa, khi muốn cầu Thái Âm Tinh để ḥa các thuốc huyễn thuật, th́ các ông ấy ở giữa đêm trăng sáng, tay cầm hạt châu, hứng nước dưới ánh trăng. Vậy nước này từ hạt châu ra, từ hư không ra, hay từ mặt trăng ra?
- A Nan! Nếu từ mặt trăng ra, ánh trăng đă có thể từ phương xa làm cho hạt châu chảy nước, th́ những rừng cây mà ánh trăng chiếu qua, lẽ ra đều phải chảy nước. Nếu chảy nước th́ khỏi đợi hạt châu mới có nước chảy; nếu không chảy nước th́ rơ ràng nước chẳng phải từ mặt trăng ra. Nếu từ hạt châu ra, th́ trong hạt châu phải thường chảy nước, đâu cần đợi ánh trăng trong lúc nửa đêm? Nếu từ hư không ra th́ hư không vô tận, nước cũng vô biên, vậy từ cơi người đến cơi Trời đều bị ch́m ngập cả, làm sao lại có các loài ở dưới nước, trên bờ và trên không?
- Ngươi hăy xét kỹ, mặt trăng ở trên trời, hạt châu ở nơi tay, c̣n mâm đựng hạt châu hứng nước th́ do người đặt ra, vậy nước từ phương nào mà chảy đến đây? Mặt trăng và hạt châu cách xa nhau, chẳng ḥa chẳng hợp, chẳng lẽ nước khi không tự có?
- Ngươi c̣n chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh thủy chơn không, tánh không chơn thủy, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Hễ nơi này cầm hạt châu th́ nơi này chảy nước; khắp pháp giới cầm hạt châu th́ khắp pháp giới chảy nước. Tánh thủy cùng khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức, của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
4. TÁNH PHONG ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Tánh Phong chẳng có tự thể, động tịnh không chừng.
- Ngươi thường ở nơi chúng mà sửa áo, chéo áo Tăng Già Lê chạm đến người bên cạnh th́ có chút gió phất qua mặt người kia, vậy gió này từ chéo áo Cà Sa ra, từ hư không ra, hay từ mặt người kia ra?
- A Nan! Nếu gió từ chéo áo Cà Sa ra th́ ngươi đă mặc luôn cả gió, lẽ ra cái áo phải tung bay ra, rời khỏi thân ngươi. Nay ta rũ áo ở trong Hội này, ngươi hăy xem cái áo ta, gió núp ở chỗ nào? Chẳng lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió ư?
- Nếu gió từ hư không ra, khi cái áo ngươi chẳng động, th́ sao lại chẳng phất? Tánh hư không thường trụ th́ gió phải thường sanh, vậy lúc chẳng gió, hư không phải diệt; gió diệt c̣n có thể thấy được, hư không diệt th́ là h́nh tướng ǵ? Nếu có sanh diệt th́ chẳng gọi là hư không, đă gọi là hư không th́ làm sao lại có gió ra?
- Nếu gió từ mặt người bị phất sanh ra, th́ đă từ mặt người đó ra, lẽ ra phải phất lại ngươi, sao tự ngươi sửa áo mà phất ngược lại người kia?
- Ngươi hăy xét kỹ; sửa áo do ngươi, cái mặt th́ thuộc người kia, hư không th́ vắng lặng chẳng lay động, vậy gió từ phương nào dong ruổi đến đây? Tánh gió và tánh hư không khác nhau, chẳng ḥa chẳng hợp, chẳng lẽ tánh gió khi không tự có ư?
- Ngươi c̣n chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh phong chơn không, tánh không chơn phong, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp mười phương pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy, biến hiện các cảnh giới hiện hữu. A Nan, như một ḿnh ngươi hơi động cái áo th́ có chút gió ra, khắp pháp giới đều phất th́ khắp pháp giới đều ra gió, tánh phong đầy khắp thế gian, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
5. TÁNH KHÔNG ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Tánh Không vô h́nh, nhờ sắc tướng mới được hiển bày. Như trong thành Thất La Phiệt, chỗ cách xa sông, những ḍng Sát Lî, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, Phả La Đọa, Chiên Đà La v.v... khi dựng nhà xong, đào giếng lấy nước, đào ra một thước đất th́ có một thước hư không; như vậy cho đến đào ra một trượng đất th́ lại được một trượng hư không, hư không sâu hay cạn là tùy theo đất đào ra được nhiều hay ít. Vậy hư không này từ đào đất ra, do đào mà có, hay vô nhân tự sanh?
- A Nan! Nếu hư không vô nhân tự sanh, th́ khi chưa đào đất, sao nơi đó lại chẳng vô chướng ngại, mà chỉ thấy đất liền, chẳng thấy trống rỗng?
- Nếu từ đào đất ra, th́ khi đất ra, phải thấy hư không vào; nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, th́ sao nói hư không từ đào đất mà ra? Nếu chẳng ra vào th́ hư không với đất vốn chẳng có khác, chẳng khác tức là đồng, th́ lúc đào đất ra, hư không sao chẳng ra? Nếu do đào mà có, th́ phải đào ra hư không, chứ chẳng phải đào ra đất; nếu chẳng do đào mà có, th́ làm sao lại thấy hư không?
- Ngươi hăy xét kỹ, đào do tay người vận động, đất theo sự đào mà dời chỗ, vậy hư không từ đâu mà ra? Đào th́ có thật chất, hư không th́ trống rỗng, chẳng tác dụng với nhau, chẳng ḥa chẳng hợp, chẳng lẽ hư không khi không tự ra?
- Vậy, tánh hư không cùng khắp, vốn chẳng lay động. Nên biết hiện tiền địa, thủy, hỏa, phong và hư không gọi là Ngũ Đại, tánh chất viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh diệt.
- A Nan! Tâm ngươi mê muội, chẳng ngộ được tứ đại vốn là Như Lai Tạng, ngươi hăy xem hư không là ra hay vào; hoặc chẳng ra vào? Ngươi c̣n chẳng biết trong Như Lai Tạng, tánh giác chơn không, tánh không chơn giác, tự tánh vốn thanh tịnh, cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy biến hiện các cảnh giới hiện hữu.
- A Nan, như đào một giếng th́ ra một giếng hư không, vậy mười phương hư không cũng như thế, tánh Không cùng khắp mười phương, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh mà biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
6. TÁNH KIẾN ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Bổn kiến, Bổn giác vốn chẳng có năng tri sở tri, v́ Sắc và Không mới có lập năng sở. Như ngươi hôm nay ở vườn Kỳ Đà, ngày sáng đêm tối, nếu nửa đêm có trăng th́ sáng, không trăng th́ tối, do kiến tinh phân biệt nên có sáng và tối. Vậy kiến này với tướng sáng, tối và hư không, là một thể hay chẳng phải một thể? Hoặc đồng, chẳng đồng? Hoặc khác, chẳng khác?
- A Nan! Nếu cái kiến này cùng với sáng, tối, hư không vốn là một thể, th́ sáng và tối hai tướng nghịch nhau, khi sáng chẳng tối, khi tối chẳng sáng. Nếu cùng với tối đồng một thể th́ khi sáng, cái kiến biến mất, hễ cùng với sáng đồng một thể, th́ khi tối, cái kiến ấy phải diệt, đă diệt th́ lấy ǵ để thấy sáng thấy tối? Nếu sáng tối khác nhau, kiến chẳng sanh diệt th́ đâu có thể nói là một thể được?
- Nếu cái kiến này cùng với sáng tối chẳng phải một thể, th́ ngươi ĺa sáng, tối và hư không, phân tách cái kiến tinh xem là h́nh tướng ǵ? Ĺa sáng, tối và hư không th́ kiến tinh đồng như lông rùa sừng thỏ. Sáng, tối, hư không ba thứ đều khác biệt, vậy từ đâu mà lập kiến tinh? Sáng, tối nghịch nhau, làm sao nói đồng được? Ĺa ba thứ vốn chẳng có, làm sao nói khác được? Hư không và kiến tinh vốn chẳng có ranh giới, làm sao nói chẳng đồng? Thấy sáng thấy tối, sở kiến thay đổi, làm sao nói chẳng khác?
- Ngươi cần phải xem xét vi tế kỹ càng, xét tới cứu cánh triệt để. Sáng do mặt trời, tối do đêm không trăng, thông thuộc về hư không, nghẽn thuộc về đại địa, kiến tinh có giác, hư không vô tri, chẳng ḥa chẳng hợp, vậy kiến tinh từ đâu mà ra? Chẳng lẽ khi không tự ra?
- Nên biết Kiến, Văn, Giác, Tri, thể tánh viên măn cùng khắp mọi nơi, vốn chẳng lay động, với hư không vô biên chẳng động, và địa, thủy, hỏa, phong, lay động, cùng gọi là Lục Đại, thể tánh viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh diệt.
- A Nan! Ngươi đánh mất tự tánh, chẳng ngộ kiến, văn, giác, tri của ngươi vốn là Như Lai Tạng. Ngươi hăy xem cái kiến, văn, giác, tri này là sanh hay diệt, là đồng hay dị, là chẳng sanh diệt hay chẳng đồng dị? Ngươi c̣n chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh kiến giác minh, giác tinh minh kiến (cái bổn kiến là tự tánh vốn giác vốn minh, cái tinh thể của bổn giác vốn minh vốn kiến), vốn tự nhiên thanh tịnh, cùng khắp pháp giới, tùy theo mức độ hiểu biết của tâm chúng sanh tạo thành nghiệp, và nương theo nghiệp ấy mà biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Như một "kiến tinh" thấy cùng pháp giới, cho đến tai nghe, mũi ngửi, miệng nếm, thân xúc, ư biết, sự diệu dụng rơ ràng viên măn, cùng khắp mười phương pháp giới, đâu có xứ sở, chỉ theo nghiệp thức của chúng sanh biến hiện. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
7. TÁNH THỨC ĐẠI VỐN VÔ SANH
- A Nan! Tánh của Thức vốn chẳng có nguồn gốc, duyên theo sáu thứ căn trần hư vọng mà sanh. Nay ngươi hăy xem khắp thánh chúng trong hội này khi mới dùng con mắt lướt qua, chưa khởi phân biệt th́ thấy chúng chỉ như bóng tượng trong gương, rồi tâm thức của ngươi theo thứ tự phân biệt đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, rồi tới Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Xá Lợi Phất v.v...Vậy sự biết của thức này từ kiến tinh ra, từ sắc tướng ra, từ hư không ra, hay khi không vô nhân mà ra?
- A Nan! Giả sử thức của ngươi từ kiến tinh ra, nếu chẳng có sáng tối và sắc không, th́ chẳng có kiến tinh, kiến tinh c̣n chẳng có, vậy thức từ đâu mà ra?
- Nếu thức của ngươi từ sắc tướng ra, chẳng từ kiến tinh ra, th́ chẳng thấy sáng, cũng chẳng thấy tối, sáng tối đă chẳng thấy tức chẳng có sắc không, sắc tướng kia c̣n chẳng có th́ thức do đâu mà ra?
- Nếu từ hư
không ra, chẳng phải sắc tướng, cũng chẳng phải kiến tinh. Nếu chẳng phải kiến
tinh t
h́ chẳng thể phân biệt, tự nhiên không thể biết được các tướng sáng tối và
sắc không. Nếu chẳng phải sắc tướng th́ sở duyên diệt mất, vậy kiến, văn, giác,
tri chẳng có chỗ an lập. Giữa hai thứ chẳng phải kể trên, nếu "không" th́ thức
đồng như chẳng có; nếu "có" th́ thức đồng như các vật, dẫu cho có thức của ngươi
cũng thành vô dụng.
|
LƯỢC GIẢI Hư không vô h́nh, vốn chẳng có bản thể, nếu tâm thức từ hư không ra th́ cũng giống như hư không, chẳng có bản thể để nương tựa, tức là thức chẳng phải sắc tướng, cũng chẳng phải kiến tinh. Giữa hai thứ chẳng phải kể trên, nếu cho là "không bản thể" th́ thức đồng như không có; nếu cho là "có bản thể" th́ thức đồng như các vật; vật th́ vô tri, chẳng có tánh phân biệt, vậy dẫu cho có thức cũng thành vô dụng. *****
|
- Nếu khi không vô nhân mà ra, th́ sao chẳng cho mặt trời là mặt trăng?
- Ngươi hăy suy xét kỹ càng, cái thấy phải nhờ mắt ngươi, sắc tướng là cảnh của tiền trần; những ǵ có tướng mới thành có, chẳng tướng ắt thành không, như vậy thức từ đâu mà ra?
- Thức th́ linh động, kiến tinh th́ trong lặng, chẳng ḥa chẳng hợp, kiến, văn, giác, tri đều như thế, chẳng lẽ thức khi không tự ra?
- Nếu thức này vốn chẳng từ chỗ nào ra, sự dụng của kiến, văn, giác, tri trạm nhiên viên măn, tánh chẳng năng sở. Vậy địa, thủy, hỏa, phong, hư không và bổn kiến, bổn thức, gọi là Thất Đại, thể tánh chơn thật viên dung, ấy đều là Như Lai Tạng, vốn chẳng sanh diệt.
- A Nan! Tâm ngươi vọng chấp, chẳng ngộ kiến, văn, giác, tri, vốn là Như Lai Tạng, ngươi hăy xét sáu chỗ tâm thức này là đồng hay dị, là có hay không, là chẳng đồng dị hay chẳng có không?
- Ngươi c̣n chẳng biết, trong Như Lai Tạng, tánh thức minh tri, giác minh chơn thức (tánh của bổn thức rơ ràng chơn tri, bổn giác vốn sáng tỏ là giác minh, phân biệt mà chẳng năng sở đối đăi là chân thức), diệu giác trạm nhiên, như như bất động, chẳng thể nghĩ lường được, đầy trùm pháp giới, hiển bày khắp mười phương hư không đâu có xứ sở, tùy theo nghiệp của chúng sanh biến hiện các cảnh giới hiện hữu. Người thế gian chẳng biết, lại mê lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên, ấy đều là do tâm thức phân biệt suy lường. Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.
Bấy giờ, A Nan và đại chúng được sự khai thị vi diệu của Phật, thân tâm phẳng lặng, chẳng c̣n ngăn ngại, mỗi mỗi tự biết tâm thức cùng khắp mười phương, thấy mười phương hư không như xem các vật trong bàn tay; tất cả vật tượng trên thế gian đều vốn là tánh Bồ Đề sáng suốt của diệu tâm. Tâm tánh tṛn đầy, cùng khắp mười phương, xem lại cái thân của cha mẹ sanh ra, như mảy bụi lửng lơ trong mười phương hư không thoạt c̣n thoạt mất; như một bọt nước trôi trong biển cả, chẳng biết sanh diệt từ đâu. Rơ ràng tự biết được cái bổn lai thường trụ chẳng diệt của diệu tâm, được pháp chưa từng có, nên chắp tay lễ Phật và nói kệ tán thán Phật rằng:
|
Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn, Thủ Lăng Nghiêm Vương thế hy hữu. Tiếu ngă ức kiếp điên đảo tưởng. Bất lịch tăng kỳ hoạch pháp thân. Nguyện kim đắc quả thành Bửu Vương Hườn độ như thị hằng sa chúng. Tương thử thâm tâm phụng trần sát, Thị tắc danh vi báo Phật ân. Phục thỉnh Thế Tôn vi chứng minh, Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập. Như nhất chúng sanh vị thành Phật, Chung bất ư thử thủ nê hoàn, Đại hùng đại lực đại từ bi, Hy cánh thẩm trừ vi tế hoặc. Linh ngă tảo đăng vô thượng giác, Ư thập phương giới tọa đạo tràng, Thuấn Nghĩa Đa tánh khả tiêu vong, Thước Ca Ra tâm vô động chuyển.
|
Dịch nghĩa: Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh (l) Lăng Nghiêm Đại Định đời hy hữu (2) Tiêu điên đảo tưởng từ vô thỉ, Chẳng nhọc nhiều kiếp được Pháp thân. Nguyện nay đắc quả thành Chánh Giác, Độ thoát chúng sanh như hằng sa. Hết ḷng phụng sự vô số cơi, Thế mới gọi là đền ơn Phật, Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, Ngũ trược ác thế nguyện vào trước, Nếu một chúng sanh chưa thành Phật, Quyết chẳng tự ḿnh chứng Niết Bàn, Đại hùng đại lực đại từ bi, Mong dứt trừ tập khí vi tế. Khiến con mau đến Vô Thượng Giác, Mười phương thế giới tọa đạo tràng. Dẫu cho hư không bị tiêu mất, Bổn tâm kiên cố chẳng lay động.
|
|
GHI CHÚ: (1) Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh. Tại sao "Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn" dịch là "Trong lặng vạn năng chẳng động tịnh"? Chữ "Trạm" nghĩa là trong lặng chẳng động, nhưng chưa phải là "Diệu Trạm"; chẳng động chẳng tịnh cũng chẳng trụ nơi chẳng động tịnh, mới được gọi là "Diệu Trạm". Tổng nhất thiết pháp, tŕ nhất thiết nghĩa, tổng tŕ tất cả pháp nghĩa, nên nói là "Vạn Năng" vậy. (2) Lăng Nghiêm Đại Định đời hy hữu: Tại sao "Thủ Lăng Nghiêm Vương" dịch là "Lăng Nghiêm Đại Định"? V́ Thủ Lăng Nghiêm chỉ là tên của Kinh, Kinh đă phổ biến trên đời th́ chẳng phải là hy hữu, cần phải theo đó tu chứng được Đại Định mới là hy hữu. Có nhập định, xuất định, chưa phải là "Đại Định", "Đại Định" th́ chẳng có xuất nhập, lúc đang náo động vẫn là Định, nên gọi là Đại Định, vậy mới được làm vua trong tất cả định (Thủ Lăng Nghiêm Vương).
|
|
(QUYỂN BA HẾT)
![]()
![]()
![]()
Thực hiện: Ánh Liên