


|
LƯỢC GIẢI Hai chữ Kiến Kiến tức là bản kiến tự hiện, chẳng có năng kiến, sở kiến, Phật đă giải thích kỹ càng trong quyển nh́ này; nếu có năng sở, đều là kiến bệnh đă thành từ vô thỉ, có năng kiến năng giác đều là bệnh. V́ bản kiến bản giác chẳng ở trong bệnh mới gọi là kiến kiến, tức là kiến tánh. Tự tánh chẳng phải sở kiến, nên cũng chẳng có năng kiến để kiến tự tánh, vậy lúc kiến kiến (Kiến kiến chi thời), dù nói kiến nhưng chẳng phải là kiến (Kiến phi thị kiến), v́ chẳng có năng kiến và sở kiến, cho nên nói kiến c̣n phải ĺa kiến (kiến do ly kiến), v́ Năng kiến chẳng thể thấy đến, nên nói Kiến bất năng cập. *****
|
- Bạch Thế Tôn! Phật v́ chúng con hiển bày các tướng nhân duyên, tự nhiên, ḥa hợp và chẳng ḥa hợp, tâm c̣n chưa rơ, nay lại nghe nói Kiến Kiến Phi Kiến, khiến con càng thêm mê muội, cúi xin Phật mở ḷng từ bi, khai thị cho chúng con được diệu tâm sáng tỏ trong sạch.
Nói xong, rơi lệ đảnh lễ, kính nghe lời dạy của Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn thương xót A Nan và đại chúng, sắp khai giảng pháp tổng tŕ (tổng nhất thiết pháp, tŕ nhất thiết nghĩa), những đường tu vi diệu của các thiền quán Tam Ma Đề, bảo A Nan rằng:
- Ngươi dù nhớ hay, nhưng chỉ thêm phần học rộng nghe nhiều, đối với sự quán chiếu vi diệu của pháp Sa Ma tha, tâm c̣n chưa rơ, nay ngươi hăy chú ư nghe, ta sẽ v́ ngươi khai thị từng lớp một, cũng khiến hàng hữu lậu tương lai sẽ được chứng quả Bồ Đề.
- A Nan, tất cả chúng sanh cam chịu luân hồi, là do hai thứ vọng kiến điên đảo phân biệt, ngay đó phát sanh, ngay đó theo nghiệp luân chuyển. Thế nào là hai thứ vọng kiến?
- Một là vọng kiến Biệt Nghiệp của chúng sanh.
- Hai là vọng kiến Đồng Phận của chúng sanh.
- Sao gọi là vọng kiến Biệt Nghiệp?
- A Nan! Như người thế gian con mắt bị nhặm, ban đêm thấy ánh sáng, riêng có bóng tṛn ngũ sắc bao phủ. Ư ngươi thế nào? Cái bóng tṛn hiện nơi ánh đèn này là màu sắc của ngọn đèn hay là màu sắc của kiến tinh?
- Nếu là màu sắc của ngọn đèn, th́ người không nhặm sao chẳng cùng thấy, mà chỉ có người nhặm mới thấy bóng tṛn này? Nếu là màu sắc của kiến tinh, kiến tinh đă thành màu sắc, th́ người nhặm thấy bóng tṛn kia gọi là cái ǵ?
- Lại nữa A Nan! Nếu ĺa ngọn đèn riêng có bóng tṛn này, th́ khi nh́n qua b́nh phong, bàn ghế, phải có bóng tṛn hiện ra, nếu ĺa kiến tinh riêng có bóng tṛn th́ chẳng phải mắt thấy, vậy sao người nhặm lại thấy bóng tṛn?
- Nên biết, màu sắc ở nơi đèn, do mắt bị bệnh mới thấy bóng tṛn, bóng tṛn và cái thấy đều là bệnh nhặm, kẻ thấy được nhặm th́ chẳng phải bệnh; chớ nên nói bóng tṛn là đèn, là thấy, hoặc nói chẳng phải ngọn đèn chẳng phải cái thấy.
- Ví như đệ nhị nguyệt chẳng phải bản thể, cũng chẳng phải bóng của đệ nhất nguyệt. Tại sao? V́ do dụi mắt mới thành có đệ nhị nguyệt. Người trí chẳng nên truy cứu cái đệ nhị nguyệt này là h́nh bóng hay chẳng phải h́nh bóng, là kiến tinh hay chẳng phải kiến tinh, v́ đó là do dụi mắt sanh ra, thế th́ cái bóng tṛn này cũng vậy, do mắt nhặm mà thành, nay muốn gọi cái nào là màu sắc của ngọn đèn, cái nào là màu sắc của kiến tinh? Huống c̣n vọng sanh phân biệt, cho là chẳng phải màu sắc của ngọn đèn, chẳng phải màu sắc của kiến tinh ư?
Sao gọi là vọng kiến Đồng Phận?
- A Nan! Ở cơi Ta Bà này, trừ biển cả ra, phần đất bằng gồm có ba ngàn châu, ở giữa là đại châu, Đông Tây bao gồm hai ngàn ba trăm nước, ngoài ra các tiểu châu ở giữa biển hoặc có từ hai trăm đến ba trăm nước, hoặc có từ một, hai cho đến bốn mươi, năm mươi nước. A Nan, ví như trong đó có một tiểu châu, chỉ có hai nước, dân một nước th́ đồng cảm ác duyên, khiến cả nước cùng thấy tất cả cảnh giới chẳng lành, như những ác tướng do nhựt nguyệt, tinh tú và khí trời hiện ra v.v... chỉ cả nước này thấy đủ thứ ác tướng như vậy, c̣n dân nước kia lại chẳng hề thấy nghe những ác tướng đó.
- A Nan, nay ta v́ ngươi đem hai việc kể trên so sánh cho rơ: Như chúng sanh kia vọng kiến biệt nghiệp, thấy bóng tṛn hiện nơi ánh đèn, dù h́nh như có cảnh tượng trước mặt, nhưng cái thấy ấy vốn do mắt nhặm mà thành, nhặm tức là kiến bệnh, chẳng phải màu sắc sở tạo, nhưng người thấy được nhặm th́ chẳng có kiến bệnh (Biết Phật tánh vẫn là bệnh, phải được thấy Phật tánh mới hết bệnh).
- Như ngươi hôm nay, dùng con mắt thấy núi sông đất đai và chúng sanh, đều là cái kiến bệnh đă thành từ vô thỉ. Tại sao? V́ có năng thấy và sở thấy, nên tựa như cảnh tượng hiện ra trước mắt, giống cái giác minh của ngươi duyên cái sở thấy thành nhặm.
- Bản giác có năng thấy tức là nhặm, "Bổn giác minh tâm" là tự tánh, cái giác ấy vốn chẳng phải bệnh, có năng giác sở giác mới thành bệnh. Nếu bổn giác không ở trong bệnh, đó mới thật là Kiến Kiến (tức là kiến tánh). Đă được kiến tánh th́ đâu c̣n tên gọi là Kiến, Văn, Giác, Tri nữa!
- Cho nên, ngươi hôm nay thấy ta, thấy ngươi và thấy tất cả chúng sanh đều do kiến bệnh, nếu chẳng phải kẻ có kiến bệnh, th́ cái kiến ấy chơn thật, thể tánh chẳng bệnh nên chẳng gọi là Kiến.
- A Nan! Vọng kiến Đồng Phận của cả nước, cũng như vọng kiến Biệt Nghiệp của một người. Người mắt nhặm thấy bóng tṛn kia là do biệt nghiệp sở sanh; cả nước đồng phận sở dĩ thấy tướng chẳng lành này là do cộng nghiệp tạo nên. Cả hai đều là kiến bệnh đă thành từ vô thỉ.
- Tất cả chúng sanh cơi Ta Bà, cho đến mười phương các nước hữu lậu, đều v́ đem cái sáng tỏ vô lậu của diệu tâm, cùng với bệnh duyên hư vọng của kiến, văn, giác, tri, ḥa hợp vọng sanh, ḥa hợp vọng tử. Nếu được xa ĺa các duyên ḥa hợp và chẳng ḥa hợp, th́ diệt trừ được những cái nhân sanh tử, tự hiện tánh đầy đủ chẳng sanh diệt của Bồ Đề, nên được bản tâm trong sạch bản giác thường trụ.
- A Nan! Ngươi dù đă ngộ bản giác diệu minh, thể tánh phi nhân duyên phi tự nhiên, nhưng c̣n chưa rơ bản giác này chẳng phải do ḥa hợp sanh, cũng chẳng phải không ḥa hợp. A Nan, ta dùng sự tiền trần hỏi ngươi, nay ngươi c̣n bị những tánh nhân duyên vọng tưởng ḥa hợp của thế gian mà tự nghi hoặc, lại cho sự chứng tâm Bồ Đề là do ḥa hợp sanh khởi. Vậy th́ cái kiến tinh vi diệu trong sạch này là ḥa với sáng hay ḥa với tối? Ḥa với thông hay hoà với nghẽn?
- Nếu ḥa với sáng, th́ khi ngươi thấy sáng hiện tiền, kiến tinh xen lộn ở đâu? Tướng thấy c̣n có thể phân biệt, cái h́nh tướng xen lộn là như thế nào?
- Nếu chẳng phải kiến tinh th́ làm sao thấy sáng? Nếu là kiến tinh th́ làm sao kiến tinh lại thấy kiến tinh?
- Nếu kiến tinh đầy khắp th́ c̣n chỗ nào ḥa với sáng? Nếu sáng đầy khắp th́ c̣n chỗ nào để ḥa với kiến tinh. Kiến tinh phải khác với sáng, khi xen lộn th́ làm mất tánh sáng, nếu mất tánh sáng, nói ḥa với sáng là chẳng đúng. Ḥa tối, ḥa thông, ḥa nghẽn nghĩa cũng như vậy.
- Lại nữa, A Nan! Kiến tinh của ngươi là hợp với sáng hay hợp với tối? Hợp với thông hay hợp với nghẽn?
- Nếu hợp với sáng, th́ khi tối, tướng sáng đă diệt, th́ kiến tinh này chẳng thể hợp với tối, làm sao thấy tối? Nếu lúc thấy tối chẳng hợp với tối, th́ khi hợp với sáng cũng chẳng phải thấy sáng. Đă chẳng thấy sáng, sao nói hợp với sáng, và biết cái sáng chẳng phải tối? Hợp tối, hợp thông, hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
- Bạch Thế Tôn! Theo con suy nghĩ, cái bản giác này với các cảnh trần và cái tâm niệm tưởng là chẳng ḥa hợp.
Phật bảo:
- Nay ngươi lại cho là chẳng ḥa hợp, ta lại hỏi ngươi, cái kiến tinh này nếu chẳng ḥa hợp, là chẳng ḥa với sáng hay chẳng ḥa với tối? Chẳng ḥa với thông hay chẳng ḥa với nghẽn?
Nếu chẳng hoà với sáng, th́ kiến tinh với cái sáng phải có ranh giới, vậy ngươi hăy xét xem chỗ nào là sáng? Chỗ nào là kiến tinh? Giữa kiến tinh với sáng, ranh giới ở đâu?
- A Nan! Nếu ở nơi sáng chẳng có kiến tinh th́ sáng và kiến tinh chẳng tiếp xúc nhau, làm sao thấy được tướng sáng để thành lập ranh giới? Ḥa tối, ḥa thông, ḥa nghẽn nghĩa cũng như vậy.
- Lại nữa, kiến tinh của ngươi nếu chẳng ḥa hợp, là chẳng ḥa hợp với sáng hay chẳng ḥa hợp với tối? Chẳng hợp với thông hay chẳng hợp với nghẽn?
- Nếu chẳng hợp với sáng, th́ kiến tinh với sáng hai tánh trái ngược nhau, cũng như lỗ tai với sáng chẳng thể tiếp xúc, thế th́ cái thấy c̣n chẳng biết chỗ của tướng sáng, làm sao xét rơ cái lư hợp hay chẳng hợp? Hợp tối, hợp thông, hợp nghẽn nghĩa cũng như vậy.
- A Nan! Ngươi c̣n chưa rơ tất cả tướng huyễn hóa nơi tiền trần, tùy nơi nhân duyên sanh ra, theo nơi nhân duyên diệt mất, thể tánh của tướng huyễn hóa hư vọng này vốn là diệu giác sáng tỏ, như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, v́ nhân duyên ḥa hợp, hư vọng cho là có sanh, nhân duyên tan ră, hư vọng cho là có diệt, mà chẳng biết sanh diệt khứ lai vốn là Như Lai Tạng, cũng gọi là diệu minh thường trụ, bất động chu viên (cùng khắp không gian), diệu tánh chơn như, nơi tánh chơn thường t́m sự khứ lai, mê ngộ, sanh diệt đều bất khả đắc.
- Sao nói Ngũ Ấm vốn là Như Lai Tạng, cũng là Diệu tánh chơn như?
l. SẮC ẤM VỐN VÔ SANH
- A Nan! Ví như có người dùng con mắt trong sạch, nh́n hư không sáng sủa chỉ có trống rỗng, hẳn không thấy ǵ, người ấy khi không ngó hẳn một chỗ chẳng nháy mắt, ngó lâu mắt mỏi th́ thấy hoa đốm hiện nơi hư không (hoa đốm dụ cho sắc ấm), hoặc thấy những tướng lăng xăng giả dối. Nên biết sắc ấm cũng vậy.
- A Nan! Những hoa đốm này chẳng từ hư không ra, cũng chẳng từ mắt ra. Nếu từ hư không ra, ắt phải trở vào hư không, nếu có ra vào th́ chẳng phải hư không. Nếu hư không chẳng phải hư không th́ tự nhiên chẳng thể dung nạp tướng hoa đốm sanh diệt trong đó, cũng như thân thể A Nan chẳng dung nạp được một A Nan nữa.
- Nếu hoa đốm từ con mắt ra th́ phải trở vào con mắt; nếu từ mắt ra, ắt phải có tánh thấy, nếu có tánh thấy th́ khi xoay về, lẽ ra phải thấy mắt. Nếu chẳng có tánh thấy, khi ra đă che mờ hư không, th́ khi về phải che mờ con mắt. Lại, khi thấy hoa đốm, lẽ ra mắt phải không mờ, vậy sao nói thấy hư không sáng sủa mới gọi là con mắt trong sạch? Nên biết sắc ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
2. THỌ ẤM VỐN VÔ SANH
- A Nan! Ví như có người tay chân khỏe mạnh, thân thể điều ḥa, cuộc sống yên ổn, quên hẳn sự thuận nghịch, người ấy vô cớ hai bàn tay xoa nhau, vọng sanh các tướng trơn, rít, lạnh, nóng nơi hai bàn tay. Nên biết thọ ấm cũng vậy.
- A Nan! Những xúc giác huyễn hóa này (xúc giác dụ cho thọ ấm), chẳng từ hư không ra, cũng chẳng từ bàn tay ra. A Nan, nếu từ hư không ra, đă tiếp xúc với bàn tay, sao chẳng tiếp xúc với thân thể? Chẳng lẽ hư không lại biết lựa chỗ để tiếp xúc ư?
- Nếu từ bàn tay ra th́ chẳng cần đợi hai bàn tay hợp lại mới có xúc giác; lại, đă từ bàn tay ra, lúc hai tay hợp lại biết có xúc giác, lúc hai tay rời ra th́ xúc giác phải chạy vào, vậy xương tủy, cánh tay cũng phải biết được cái dấu tích của xúc giác khi vào. Nếu có tâm biết ra biết vào, th́ phải có một vật đi lại trong thân, đâu cần đợi hai tay hợp rồi mới gọi là tiếp xúc!
- Nên biết thọ ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
3. TƯỞNG ẤM VỐN VÔ SANH
- A Nan! Ví như nghe người nói đến trái mơ chua th́ tiết ra nước miếng, nghĩ đến leo dốc cao th́ ḷng bàn chân ghê rợn, (nước miếng và ghê rợn dụ cho tưởng ấm), nên biết tưởng ấm cũng vậy.
- A Nan! Cái tiếng chua này chẳng từ trái mơ ra, cũng chẳng từ miệng ra. Nếu từ trái mơ ra th́ trái mơ tự biết nói, đâu cần đợi người nói? Nếu từ miệng ra th́ miệng phải tự nghe tiếng, đâu cần đợi tai nghe? Nếu chỉ riêng tai có nghe th́ nước miếng sao chẳng từ tai chảy ra? Tưởng tượng ḿnh leo dốc th́ cũng như vậy. Nên biết tưởng ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
4. HÀNH ẤM VỐN VÔ SANH
- A Nan! Ví như ḍng nước chảy mạnh (ḍng nước dụ cho Hành Ấm), làn sóng nối tiếp, lớp trước lớp sau chẳng vượt khỏi nhau, nên biết Hành Ấm cũng vậy.
- A Nan! Tánh ḍng nước như thế chẳng do hư không sanh ra, chẳng do nước mà có, chẳng phải tánh của nước, cũng chẳng ĺa hư không và nước.
- Nếu do hư không sanh ra th́ mười phương vô tận hư không đều thành ḍng nước vô tận, và tự nhiên thế giới đều bị ch́m đắm cả. Nếu do nước mà có th́ nước là năng có, ḍng nước là sở có, hai tướng khác nhau th́ tánh của ḍng nước lẽ ra chẳng phải là nước; nếu ḍng nước tức là tánh của nước th́ khi nước trong lặng lại chẳng phải tự thể của nước. Nếu ĺa hư không và nước th́ hư không vốn chẳng có trong và ngoài, và ngoài nước ra chẳng có ḍng nước. Nên biết hành ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
5. THỨC ẤM VỐN VÔ SANH
- A Nan! Ví như có người lấy một cái b́nh (cái b́nh dụ cho nghiệp thân), trong đựng đầy hư không (hư không dụ cho thức ấm), bít kín miệng b́nh đem xa ngàn dặm tặng cho nước khác, nên biết Thức Ấm cũng vậy.
- A Nan! Hư không này chẳng phải từ phương kia ra, cũng chẳng phải từ phương này vào. Nếu từ phương kia ra, trong b́nh đă đựng hư không đem đi, th́ phương kia phải thiếu hư không. Nếu từ phương này vào, khi mở miệng b́nh trút ra th́ phải thấy hư không ra. Nên biết thức ấm hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
|
LƯỢC GIẢI Trung Quán Luận có bài kệ rằng:
Các pháp chẳng tự
sanh,
Sao nói các pháp chẳng tự sanh? V́ phải đợi nhân duyên ḥa hợp mới được sanh. Sao nói chẳng tha sanh? V́ các duyên đều chẳng có tự tánh. Sao nói chẳng cộng sanh? V́ tự và tha c̣n chẳng có, lấy ǵ để cộng? Sao nói chẳng vô nhân sanh? V́ bản thể sáng tỏ của diệu tâm, phải do tu hành đến giác ngộ mới được hiển bày, chẳng tự nhiên mà thành. Vậy biết tất cả sự vật trên thế gian vốn là Vô Sanh, v́ chẳng có lư do nào để sanh vậy. Nếu ngộ tất cả pháp vô sanh th́ Sắc như dụi mắt thấy hoa đốm trên không; Thọ như xoa bàn tay sanh những xúc giác trơn, rít, lạnh, nóng; Tưởng như nghe nói trái mơ tiết ra nước miếng; Hành như ḍng nước chảy, chẳng có năng sanh sở sanh (nước chẳng phải năng sanh, ḍng nước chẳng phải sở sanh); Thức như cái b́nh đựng đầy hư không, b́nh dụ cho nghiệp thân, hư không dụ cho vọng thức. Bản Giác tánh không, cùng khắp pháp giới, hễ mê thành vọng thức th́ thành hư không ở trong b́nh, nhét bít miệng b́nh dụ cho vọng phân đồng dị, có trong có ngoài, kỳ thật trong b́nh ngoài b́nh chỉ cùng một hư không (dụ cho tánh và thức vốn là một thể), hư không chẳng khứ lai dụ cho tánh chẳng sanh diệt. B́nh dụ vọng nghiệp, hư không dụ vọng thức, nghiệp kéo thức chạy theo, như đem b́nh đựng hư không đi các nước khác, dụ cho đi khắp lục đạo, cam chịu luân hồi. Lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới, cho đến thất đại ở quyển sau, đều sáng tỏ nghĩa này (Vạn Pháp Vốn Vô Sanh). *****
|
(QUYỂN HAI HẾT)
Thực hiện: Ánh Liên