Quyển 2 Phần 2

|
LƯỢC GIẢI Tại sao nói kiến tinh này là ngươi chẳng phải vật? Nếu kiến tinh là vật th́ kiến tinh của ta ngươi cũng thấy được, nhưng sự thật th́ kiến tinh của ta ngươi chẳng thể thấy. Nếu nói ta thấy ngươi thấy, lúc cùng thấy tức là thấy kiến tinh của ta, vậy th́ lúc ta thấy, ngươi đă thấy được rồi, lúc ta chẳng thấy, ngươi cũng phải thấy được chứ, mà sự thật lại chẳng như thế. Nếu nói lúc thấy là dùng cái thấy để thấy, lúc chẳng thấy là dùng cái chẳng thấy để thấy, gọi là thấy chỗ chẳng thấy của ta, vậy đă chẳng tự thấy, lấy ǵ để thấy cái tướng chẳng thấy kia? Nếu cái tướng chẳng thấy kia cho ngươi thấy được, tức là tướng thấy, lại chẳng phải tướng chẳng thấy. Vậy biết: chỗ chẳng thấy của ta, ngươi nhất định chẳng thể thấy được; lúc ta chẳng thấy, ngươi đă chẳng thể thấy được th́ lúc cùng thấy cũng chẳng thể thấy, thấy và chẳng thấy đều chẳng thể chỉ ra kiến tinh, vậy kiến tinh của ta rơ ràng phi vật. Kiến tinh của ta phi vật th́ kiến tinh của ngươi cũng là phi vật vậî. Kiến tinh của ngươi đă phi vật th́ chẳng thuộc nơi vật, làm sao chẳng phải ngươi? Đây là dùng cái nghĩa chẳng thể thấy để sáng tỏ kiến tinh phi vật. Nếu kiến tinh có thể thấy được th́ kiến tinh cũng là vật vậy, làm sao được làm chủ vạn tượng mà an lập cơi thế gian.
|
*****
- Bạch Thế Tôn! Nếu tánh thấy này chắc là con chứ chẳng phải ai khác, th́ khi con và Như Lai xem cung điện của Tứ Thiên vương và cung trăng, tánh thấy này cùng khắp cơi Ta Bà, khi lui về tịnh xá, chỉ thấy vườn chùa, trước cửa giảng đường chỉ thấy hành lang. Thế Tôn, tánh thấy như vậy, bản thể vốn cùng khắp một cơûi, nay ở trong pḥng th́ chỉ một pḥng, vậy là do tánh thấy rút lớn thành nhỏ, hay do vách tường làm cho ngăn cách? Nay con chẳng biết nghĩa này thế nào, mong Phật từ bi giảng rơ.
Phật bảo A Nan:
- Tất cả sự vật lớn, nhỏ trong, ngoài trên thế gian đều thuộc về tiền trần, chẳng nên nói rằng cái thấy có co giăn, ví như trong khuôn vuông thấy có hư không vuông, ta lại hỏi ngươi: Hư không vuông ở trong khuôn vuông này là vuông nhất định hay chẳng nhất định? Nếu vuông nhất định, đặt lại khuôn tṛn th́ hư không ấy chẳng thể tṛn; nếu chẳng nhất định th́ trong khuôn vuông chẳng có hư không vuông. Ngươi nói chẳng biết nghĩa này thế nào, nghĩa tánh như thế, đâu c̣n thế nào nữa! A Nan, nếu muốn hiển bày chẳng có vuông tṛn, chỉ cần trừ bỏ khuôn vuông, hư không vốn chẳng có h́nh thể vuông tṛn, chớ nên nói "trừ bỏ tướng vuông của hư không" (khuôn dụ cho vọng thức phân biệt, hư không dụ cho bản tâm).
- Cũng như ngươi hỏi: Khi vào pḥng rút cái thấy cho nhỏ lại, vậy khi nh́n mặt trời th́ phải kéo cái thấy cho bằng với mặt trời sao? Nếu xây vách tường làm cho cái thấy bị ngăn cách, vậy khi đục một lỗ nhỏ, sao chẳng thấy dấu tích nối liền của sự thấy? Nghĩa này chẳng đúng. Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, mê ḿnh là vật, lạc mất bản tâm, tùy vật xoay chuyển, nên thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật th́ đồng với Như Lai, ngồi bất động đạo tràng, thân tâm tṛn đầy sáng tỏ, gồm mười phương quốc độ trên đầu một mảy lông.
- Bạch Thế Tôn! Nếu kiến tinh này là diệu tánh của con, th́ diệu tánh nay ở ngay trước mắt; diệu tánh đă là con th́ thân tâm con lại là vật ǵ?
- Nếu nói thân tâm chẳng phải diệu tánh th́ nay thân tâm thật hay phân biệt sự vật; nếu nói trước mắt đều là diệu tánh, th́ cái kiến tinh kia sao lại chẳng phân biệt được thân con?
- Nếu nói kiến tinh vô h́nh, mà có tự thể đồng như các vật, có cảm ứng mới sanh khởi sự dụng kia, thật là bản tâm của con th́ phải cho con thấy ngay, vậy kiến tinh trước mắt là thật con, c̣n thân này th́ chẳng phải con, thế th́ kiến tinh đă ở bên ngoài thân, sao được gọi là diệu tánh của con? Có khác ǵ Như Lai trước kia đă hỏi gạn rằng: "Vật thấy được con"? Mong Phật từ bi khai thị cho kẻ chưa ngộ.
Phật bảo A Nan:
- Nay ngươi nói kiến tinh ở trước mắt ngươi, nghĩa này chẳng đúng. Nếu thật ở trước mắt ngươi mà ngươi thật thấy được, th́ kiến tinh này đă có phương sở, chẳng phải không chỉ ra được. Nay ta cùng ngươi ngồi trong rừng Kỳ Đà, xem khắp rừng suối và điện đường, trên từ nhật nguyệt, dưới đến sông Hằng, ngươi hăy ở trước ṭa Sư Tử của ta, dùng tay chỉ rơ đủ thứ tướng ấy, chỗ mát là rừng, sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, thông là hư không, cho đến cỏ cây, chỉ mành, lớn nhỏ dù khác, hễ có h́nh tướng th́ đều chỉ ra được. Nếu kiến tinh thật ở trước mắt ngươi, th́ ngươi phải dùng tay xác thật chỉ rơ cái nào là kiến tinh. A Nan nên biết, nếu hư không là kiến tinh th́ cái nào là hư không? Nếu vật là kiến tinh th́ cái nào là vật? Ngươi hăy ở nơi vạn tượng phân tích kỹ càng, chỉ cho ta xem cái kiến tinh sáng tỏ ấy, rơ ràng đồng như các vật, chẳng được lầm lẫn!
A Nan nói:
- Nay con ở giảng đường này; nh́n ra từ sông Hằng, trên đến nhật nguyệt, tùy nơi tay chỉ mắt nh́n, những ǵ chỉ được đều là vật chứ chẳng phải kiến tinh. Thế Tôn, như lời Phật vừa nói; chẳng những hàng hữu lậu sơ học Thanh Văn như chúng con, cho đến Bồ Tát, cũng chẳng thể ở nơi vạn tượng chỉ ra cái kiến tinh ĺa tất cả vật riêng có tự tánh.
Phật nói:
- Đúng thế! Đúng thế!
Phật lại bảo A Nan:
- Như lời ngươi nói, chẳng có kiến tinh ĺa tất cả vật riêng có tự tánh, vậy th́ trong các vật mà ngươi chỉ, chẳng có cái nào là kiến tinh. Nay ta lại bảo ngươi: ngươi và Như Lai ngồi trong rừng Kỳ Đà, xem từ rừng cây cho đến nhật nguyệt, đủ thứ h́nh tướng sai biệt, nhất định chẳng có kiến tinh cho ngươi chỉ, ngươi hăy phát minh nơi những vật kể trên cái nào chẳng phải kiến tinh?
A Nan đáp:
- Con xem khắp cả rừng Kỳ Đà, thật chẳng biết trong đó cái nào chẳng phải kiến tinh. Tại sao? Nếu cây chẳng phải kiến tinh th́ sao lại thấy cây? Nếu cây là kiến tinh th́ chẳng nên gọi là cây; như vậy cho đến nếu hư không chẳng phải kiến tinh th́ sao lại thấy hư không? Nếu hư không là kiến tinh th́ chẳng nên gọi là hư không. Con lại suy xét kỹ càng, phát minh trong vạn tượng không vật nào chẳng phải kiến tinh cả.
Phật nói:
- Đúng thế! Đúng thế!
Bấy giờ, những người chưa đến bậc vô học trong chúng nghe Phật nói vậy, ngơ ngác chẳng hiểu đầu đuôi của nghĩa này, đánh mất lư lẽ đă hiểu biết từ xưa nay, bỗng nhiên cảm thấy run sợ,
Như Lai biết họ băn khoăn lo sợ, sanh ḷng thương xót, an ủi A Nan và đại chúng:
- Các thiện nam tử, lời chơn thật của Vô Thượng Pháp Vương chaüng dối chẳng vọng, như sở như thuyết, chẳng phải như bốn thứ tà thuyết càn loạn bất tử của bọn Mạc Già Lê, các ngươi hăy suy xét kỹ, chớ nên làm mất ḷng tự tin!
| LƯỢC GIẢI
Tại sao ngơ ngác chẳng biết đầu đuôi của nghĩa này? V́ trước th́ nói kiến tinh chẳng phải vật, sau lại nói kiến tinh đều là vật; trước nói diệu tánh hiện tiền, sau lại nói chẳng thể chỉ ra, nên ngơ ngác đánh mất lư lẽ đă hiểu biết từ xưa nay vậy. "Nói lời chơn thật, như sở như thuyết" v.v... tức ngũ ngữ trong Kinh Kim Cang. Phật thuyết chơn ngữ là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh tử để diệt, có Niết Bàn để chứng); thật ngữ là nghĩa chung với Bồ Tát (nghĩa đại thừa, sanh tử và Niết Bàn đều như hoa đốm trên không); như ngữ là nghĩa chẳng chung với tam thừa (trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả); vô thật vô hư; vô hư nên bất cuồng ngữ (chẳng dối), vô thật nên bất dị ngữ (thấy trước việc chưa đến gọi là Bất Dị). Ở đây chỉ dùng hai chữ "chẳng vọng" để bao gồm. Bà Sa Luận nói: Ngoại đạo chấp cơi trời thường trụ gọi là Bất tử, cho "chaüng đáp càn" được sanh cơi trời ấy, nếu thật chẳng biết mà đáp càn, sợ thành càn loạn, nên có ai hỏi th́ đáp rằng "Lời bí mật chẳng nên nói hết", hoặc đáp chẳng định. Phật quở rằng: họ thật là kẻ càn loạn vậy.
|
*****
Lúc ấy, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi thương xót tứ chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
- Đại chúng trong Hội này chẳng ngộ hai nghĩa Thị, Phi Thị với Kiến Tinh và Sắc Không của Như Lai vừa hiển bày. Thế Tôn, những hiện tượng sắc không nơi trước mắt, nếu là kiến tinh th́ phải chỉ ra được, nếu chẳng phải kiến tinh th́ chẳng thể thấy. Nay chẳng biết nghĩa ấy do đâu, nên có kinh sợ chứ chẳng phải v́ xưa kia thiện căn thiếu kém, mong Như Lai từ bi, phát minh những vật tượng và kiến tinh, trong đó chẳng có Thị và Phi Thị kia vốn là vật ǵ?
Phật bảo Văn Thù và Đại Chúng:
- Mười phương Như Lai và Đại Bồ Tát tự trụ nơi chánh định, thoát khỏi căn trần, kiến tinh (năng kiến) với sắc không (sở kiến), ư năng tưởng, tướng sở tưởng vốn chẳng thật có, cũng như hoa đốm trên không, vậy kiến tinh và sắc không vốn là diệu thể trong sạch sáng tỏ của Vô Thượng Bồ Đề, sao lại có Thị hay Phi Thị ở trong đó? Văn Thù, nay ta hỏi ngươi, như ngươi là Văn Thù, lại có Văn Thù nào Thị Văn Thù hay Phi Thị Văn Thù chăng?
- Bạch Thế Tôn! Đúng thế, con là chơn Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao? Nếu có Thị tức có hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng Thị và Phi.
Phật nói:

- Bản kiến diệu minh với hư không và lục trần cũng đều như thế, vốn là chơn tâm sáng tỏ, tṛn đầy trong sạch của Vô Thượng Bồ Đề, vọng thành sắc không và kiến văn, như đệ nhị nguyệt, vậy cái nào là Thị nguyệt, cái nào là Phi nguyệt? Văn Thù, chỉ một chơn nguyệt, trong đó vốn chẳng Thị nguyệt Phi nguyệt. Cho nên nay ngươi phát minh đủ thứ kiến tinh và cảnh trần, gọi là vọng tưởng, chẳng thể chỉ ra Thị hay Phi Thị. V́ giác tánh tinh diệu sáng suốt, nên khiến ngươi được vượt khỏi "chỉ và phi chỉ" vậy.
A Nan bạch Phật rằng:
- Đúng như Pháp Vương nói, Bản Giác khắp mười phương thế giới, trạm nhiên thường trụ, tánh chẳng sanh diệt. Vậy với cái chấp Minh Đế của bọn Sa Tỳ Ca La và những ngoại đạo nói có Chơn Ngăû cùng khắp mười phương có ǵ sai biệt? Thế Tôn đă từng ở núi Lăng Già giảng dạy nghĩa này cho Đại Huệ rằng: "Bọn ngoại đạo thường nói tự nhiên, ta thuyết nhân duyên, chẳng phải cảnh giới của họ". Nay con xét thấy cái giác tánh tự nhiên này phi sanh phi diệt, xa ĺa tất cả hư vọng điên đảo, h́nh như chẳng phải nhân duyên, vậy so với cái thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo như thế nào? Xin Phật khai thị để cho chúng con khỏi lọt vào bọn tà, được giác tánh chơn thật sáng tỏ của diệu tâm.
Phật bảo A Nan:
- Nay ta dùng phương tiện chơn thật như vậy khai thị cho ngươi, ngươi c̣n chưa ngộ, lại lầm cho là tự nhiên. A Nan, nếu chắc là tự nhiên th́ tự phải xét rơ cái thể của tự nhiên, ngươi hăy quán xét trong bản kiến diệu minh này, lấy ǵ làm tự thể? Lấy sáng làm tự thể hay lấy tối làm tự thể? Lấy rỗng không làm tự thể hay lấy ngăn bít làm tự thể? Nếu sáng là tự thể th́ chẳng thể thấy tối, nếu rỗng không là tự thể th́ chẳng thể thấy ngăn bít, như vậy cho đến nếu lấy tướng tối làm tự thể, th́ khi sáng, tánh thấy đă đoạn diệt, sao lại thấy sáng?
A Nan nói:
- Nếu bản tánh diệu kiến này chẳng phải tự nhiên, nay con phát minh là do nhân duyên sanh, nhưng tâm c̣n chưa rơ. Xin hỏi Như Lai: Nghĩa này như thế nào mới hợp với tánh nhân duyên?
Phật bảo:
- Ngươi nói nhân duyên, ta lại hỏi ngươi, nay ngươi nhân kiến tinh mà có tánh thấy hiện tiền, vậy cái thấy này nhân sáng có thấy hay nhân tối có thấy? Nhân rỗng không có thấy hay nhân ngăn bít có thấy?
- A Nan, nếu nhân sáng có thấy th́ chẳng thể thấy tối; nếu nhân tối có thấy th́ chẳng thể thấy sáng. Như vậy cho đến nhân rỗng không, nhân ngăn bít, đều đồng như sáng tối.
- Lại nữa, A Nan, kiến tinh này duyên sáng có thấy hay duyên tối có thấy? Duyên rỗng không có thấy hay duyên ngăn bít có thấy?
- A Nan, nếu duyên rỗng không có thấy th́ chẳng thể thấy ngăn bít; nếu duyên ngăn bít có thấy th́ chẳng thể thấy rỗng không. Như vậy cho đến duyên sáng duyên tối, đều đồng như rỗng không và ngăn bít.
- Nên biết cái bản giác diệu minh này phi nhân duyên, phi tự nhiên, phi bất tự nhiên. Vô Phi và Bất Phi, Vô Thị và Phi Thị, ĺa tất cả tướng, là tất cả pháp. Nay ngươi sao lại ở trong đó dùng chấp tâm đuổi theo những danh tướng hí luận của thế gian, vọng khởi phân biệt, cũng như dùng tay nắm bắt hư không, chỉ tự lao nhọc, hư không làm sao cho ngươi bắt được?
- Bạch Thế Tôn! Nếu bản kiến diệu minh phi nhân phi duyên, tại sao Thế Tôn thường nói với các Tỳ Kheo rằng: Tánh thấy gồm đủ bốn thứ nhân duyên, tức là nhân không, nhân sáng, nhân tâm, nhân mắt, vậy nghĩa này thế nào?
Phật nói:
- Ta thuyết những tướng nhân duyên của thế gian chẳng phải đệ nhất nghĩa. A Nan, ta lại hỏi ngươi: người thế gian nói "tôi thấy", vậy cho thế nào gọi là thấy, thế nào gọi là chẳng thấy?
A Nan đáp:
- Người thế gian nhờ ánh sáng nhật nguyệt và đèn, thấy tất cả tướng gọi là thấy, nếu không có ba thứ ánh sáng này th́ chẳng thể thấy.
- A Nan, nếu lúc không sáng gọi là chẳng thấy, th́ chẳng thể thấy tối, nếu thấy tối chỉ là không sáng th́ sao gọi là chẳng thấy?
- A Nan, nếu lúc tối chẳng thấy sáng gọi là chẳng thấy; mà lúc sáng chẳng thấy tối cũng phải gọi là chẳng thấy, vậy th́ hai tướng sáng tối đều gọi là chẳng thấy.
- Do hai tướng sáng tối tự đoạt mất nhau, chẳng phải tánh thấy của ngươi tạm thời không có. Vậy th́ cả hai đều là thấy, sao nói chẳng thấy?
- A Nan nên biết, trong lúc thấy sáng, kiến tinh chẳng phải sáng; trong lúc thấy tối, kiến tinh chẳng phải tối; trong lúc thấy rỗng không kiến tinh chẳng phải rỗng không; trong lúc thấy ngăn bít, kiến tinh chẳng phải ngăn bít, bốn thứ nghĩa này vốn saün như vậy.
- Lại ngươi nên biết: Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do ly kiến, kiến bất năng cập, tại sao lại nói nhân duyên, tự nhiên và tướng ḥa hợp? Hàng Thanh Văn như các ngươi trí kém tâm hẹp, chẳng thông đạt thật tướng trong sạch, nay ta dạy ngươi nên khéo suy tư, hăy siêng năng tinh tấn, thẳng vào diệu đạo Bồ Đề.
Thực hiện: Ánh Liên