![]()


Kinh 96. Di Bà-La-Môn
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà, Xá-vệ. Bấy giờ, vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy, có Bà-la-môn tuổi già sức yếu, chống gậy, cầm bát, đi khất thực từng nhà một. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bà-la-môn:
“Nay ông đă tuổi già sức yếu rồi, sao lại c̣n phải chống gậy cầm bát đi khất thực từng nhà?”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Bạch Cù-đàm, bao nhiêu tài vật có được ở trong nhà tôi, tất cả đều giao cho con trai, cưới vợ cho con trai. Nhưng sau đó chúng lại đuổi ra khỏi nhà, nên phải chống gậy, cầm bát đi khất thực từng nhà.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ông có thể học thuộc ḷng một bài kệ của Ta, rồi trở về nhà, ở giữa mọi người Bà-la-môn, đọc cho con trai của ông nghe được không?”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Bạch Cù-đàm, có thể được.”
Bấy giờ, Đức Phật liền nói bài kệ:
Sanh con ḷng vui mừng,
V́ con tích chứa của,
Rồi cưới vợ cho con.
Nhưng ḿnh phải bỏ nhà.
Đứa con quê mùa kia,
Nghịch, phụ ân cha mẹ,
Thân người, tâm La-sát,
Xua đuổi bậc già cả.
Như ngựa già vô dụng,
Bị cướp mất thóc lúa,
Con trẻ mà cha già,
Phải xin ăn từng nhà.
Gậy cong này hơn hết,
Ân ái hơn con đẻ,
V́ ta ngừa trâu dữ,
Tránh đất hiểm, được an,
Xua đuổi loài chó dữ,
Giúp ta qua chỗ tối,
Tránh hầm sâu, giếng thẳm,
Cây cỏ và gai gốc;
Nhờ sức oai cây gậy,
Đứng vững không té ngă.
Sau khi nhận bài kệ từ Đức Thế Tôn, người Bà-la-môn liền trở về giữa đám đông Bà-la-môn, đọc lại cho con trai nghe. Trước hết ông cáo bạch mọi người: “Hăy nghe tôi nói.” Sau đó ông đọc lại bài kệ như trên. Người con trai vừa xấu hổ vừa sợ hăi, liền ôm choàng người cha ḿnh đưa vào nhà, tắm rửa lau ḿnh, mặc áo quần sạch sẽ và lập làm gia chủ.
Rồi th́, Bà-la-môn tự nghĩ: “Ta có được ḍng họ tôn quư như hôm nay, là nhờ ân đức của Sa-môn Cù-đàm. Như kinh điển của ta đă dạy: ‘Là Thầy th́ cúng dường như bậc Thầy; là Ḥa thượng th́ cúng dường như là Ḥa thượng. Những ǵ ta đă được hôm nay đều nhờ vào oai lực của Sa-môn Cù-đàm, Ngài là Thầy của ta. Hôm nay ta sẽ đem chiếc y quí giá tốt đẹp nhất cúng dường cho Cù-đàm.”
Bấy giờ, Bà-la-môn đem chiếc y quí giá nhất đến chỗ Đức Thế Tôn. Trước mặt Thế Tôn, cùng thăm hỏi sức khỏe rồi, sau đó ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch Cù-đàm, ngày nay gia cư của con được thành tựu là nhờ vào oai lực của đức Cù-đàm. Như kinh điển bên con đă dạy: “Là Thầy th́ cúng dường như là bậc Thầy, là Ḥa thượng th́ cúng dường như là Ḥa thượng.” Ngày nay Cù-đàm là Thầy của con, xin thương xót con mà nhận chiếc y này.”
V́ thương xót mà Đức Thế Tôn đă nhận chiếc y.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn v́ Bà-la-môn mà nói đủ các pháp, chỉ dạy, làm sáng tỏ, làm cho vui mừng.
Bà-la-môn nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, tùy hỷ hoan hỷ, làm lễ cáo lui.
Kinh 97. Khất Thực
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y cầm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Lúc ấy có một Bà-la-môn tuổi già sức yếu, chống gậy cầm bát đi khất thực từng nhà. Bà-la-môn này từ xa nh́n thấy Đức Thế Tôn liền tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm chống gậy bưng bát, đi khất thực từng nhà. Ta cũng chống gậy ôm bát đi khất thực từng nhà. Ta cùng Cù-đàm đều là Tỳ-kheo.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ để trả lời:
Được gọi là Tỳ-kheo,
Chẳng chỉ v́ khất thực.
Kẻ tŕ pháp tại gia,
Sao được gọi Tỳ-kheo?
Đă ĺa dục tai hại,
Tu tập các chánh hạnh,
Tâm ḿnh không sợ hăi,
Đó gọi là Tỳ-kheo.
Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn kia nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, tùy hỷ hoan hỷ làm lễ cáo lui.
Kinh 98. Canh Điền
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật từ Câu-tát-la du hành trong nhân gian đến trụ trong rừng Nhất-na-la, tại tụ lạc Nhất-na-la. Bấy giờ Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào tụ lạc Nhất-na-la khất thực. Rồi Thế Tôn nghĩ: “Nay trời c̣n quá sớm. Giờ Ta hăy đi đến chỗ phân phát ẩm thực của Bà-la-môn làm ruộng là Bà-la-đậu-bà-giá.” Bà-la-môn chuẩn bị đủ năm trăm cái cày, đang phân phát ẩm thực. Từ xa Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá nh́n thấy Đức Thế Tôn, bèn thưa rằng:
“Bạch Cù-đàm, nay tôi cày ruộng, gieo giống để cung cấp lương thực. Vậy, Sa-môn Cù-đàm cũng nên cày ruộng gieo giống để cung cấp lương thực!”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ta cũng cày ruộng gieo giống, để cung cấp lương thực.”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Tôi không thấy Sa-môn Cù-đàm sắm cái cày, cái ách, dây buộc, cái bừa, hay cái roi, mà nay Cù-đàm lại nói: “Ta cũng cày ruộng, gieo giống, để cung cấp lương thực!”
Lúc ấy, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá liền nói kệ rằng:
Người tự nói cày ruộng,
Mà không thấy cái cày;
Lại bảo tôi cày ruộng.
Xin cho biết phép cày.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp lại rằng:
Tín tâm là hạt giống,
Khổ hạnh mưa đúng mùa,
Trí tuệ là cày, ách,
Tàm quư là cán cày.
Tự ǵn giữ chánh niệm,
Là người giỏi chế ngự.
Giữ kín nghiệp thân, miệng,
Như thực phẩm trong kho.
Chân thật là xe tốt,
Sống vui không biếng nhác,
Tinh tấn không bỏ hoang,
An ổn mà tiến nhanh,
Thẳng đến không trở lại,
Đến được chỗ không lo.
Người cày ruộng như vậy,
Chứng đắc quả Niết-bàn.
Người cày ruộng như vậy,
Không tái sinh các hữu.
Bấy giờ, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Phật rằng:
“Cù-đàm rất giỏi cày ruộng! Cù-đàm cày ruộng thật hay!”
Rồi th́, sau khi nghe Đức Thế Tôn nói kệ, tín tâm đối với ông càng tăng, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá đem dâng cúng Phật một bát đầy đồ ăn thức uống thơm ngon. Đức Thế Tôn không nhận, v́ có được là do nói bài kệ. Ngài bèn nói kệ rằng:
Không v́ việc nói pháp,
Nhận ăn thức ăn này.
Chỉ v́ lợi ích người,
Nói pháp không thọ thực.
Nói rộng như đă nói rộng với Hỏa chủng Bà-la-môn ở trước như vậy.
Lúc này, Bà-la-môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Đức Phật rằng:
“Bạch Cù-đàm, giờ con đem thức ăn này để chỗ nào?”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ta không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, thiên thần, hay người thế gian nào, mà dùng thức ăn này được an ổn được. Này Bà-la-môn, ông hăy đem thức ăn này để vào trong nước không có trùng hay chỗ đất nào ít cỏ tươi.”
Khi ấy, người Bà-la-môn này đem thức ăn đặt vào trong nước không có trùng, nước liền bốc khói, sôi bùng kêu xèo xèo. Như ḥn sắt nóng được ném vào trong nước lạnh phát ra tiếng kêu xèo xèo; cũng vậy, thức ăn này được để vào trong nước không có trùng th́ sôi bùng khói bốc lên và phát ra tiếng kêu xèo xèo. Bà-la-môn tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ đặc, có oai đức lớn, có oai lực lớn nên mới có thể làm cho đồ ăn thức uống thần biến như vậy.” Khi Bà-la-môn thấy thức ăn hiện điềm lành, ḷng tin của ông càng tăng, lại bạch Phật rằng:
“Bạch Cù-đàm, nay con có thể được phép ở trong chánh pháp xuất gia thọ cụ túc không?”
Đức Phật bảo Bà-la-môn:
“Nay ông có thể được phép ở trong chánh pháp, xuất gia thọ cụ túc; được làm Tỳ-kheo.”
Sau khi Bà-la-môn này xuất gia rồi, một ḿnh lặng lẽ tư duy về lư do người ḍng họ quư tộc cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín, xuất gia, học đạo, sống không gia đ́nh, cho đến đắc quả A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
Kinh 99. Tịnh Thiên
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại thành Vương xá. Bấy giờ có Tôn giả tên là Tịnh Thiên, từ nước Tỳ-đề-ha du hành trong nhân gian đến trong vườn Am-la tại thành Di-hy-la. Sáng hôm ấy, Tôn giả Tịnh Thiên đắp y mang bát vào thành Di-hy-la khất thực, theo thứ tự khất thực, đi lần đến nhà cũ.
Cũng lúc ấy, mẹ của Tịnh Thiên, tuổi đă già, đang dâng lễ cúng thần lửa tại nhà giữa để cầu sanh lên cơi Phạm thiên, mà không biết Tôn giả Tịnh Thiên đang đứng ngoài cửa. Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Thiên vương đối với Tôn giả Tịnh Thiên sanh ḷng kính tin cực kỳ. Tỳ-sa-môn Thiên vương, cùng với các hàng Dạ-xoa theo sau, đang nương vào hư không mà đi, thấy Tôn giả Tịnh Thiên đang đứng ngoài cửa; lại thấy trong nhà giữa mẹ Tôn giả đang bưng đồ ăn thức uống dâng cúng thần lửa, mà không thấy con ḿnh đang đứng ngoài cửa. Thấy vậy, từ không trung hạ xuống, đến trước mặt mẹ Tịnh Thiên nói kệ rằng:
Bà-la-môn-ni này,
Phạm thiên thật xa vời,
V́ muốn sanh nơi đó,
Ở đây thờ cúng lửa.
Chẳng phải đường Phạm thiên,
Thờ tự chi vô ích?
Này Bà-la-môn-ni,
Tịnh Thiên đứng ngoài cửa,
Cấu uế đă dứt sạch,
Là trời trong các trời.
Vắng lặng không có ǵ,
Một ḿnh không tài sản,
V́ khất thực vào nhà,
Là người đáng cúng dường.
Tịnh Thiên khéo tu thân,
Ruộng phước tốt Trời, Người,
Xa ĺa tất cả ác,
Không hề nhiễm, bị nhiễm,
Đức đồng với Phạm thiên.
Thân tuy ở nhân gian,
Mà không nhiễm pháp nào,
Như rồng đă thuần thục,
Tỳ-kheo sống chánh niệm,
Tâm ḿnh khéo giải thoát.
Nên dâng nắm cơm đầu,
Là ruộng phước tối cao.
Nên đem tâm chánh tín,
Kịp thời cúng dường nhanh.
Nên dự lập ḥn đảo,
Khiến vị lai an lạc.
Bà xem ẩn sĩ này,
Đă qua ḍng biển khổ.
Cho nên hăy tín tâm,
Kịp thời cúng dường nhanh;
Nên dự lập ḥn đảo,
Khiến vị lai an lạc.
Thiên vương Tỳ-sa-môn,
Chỉ bày, bỏ thờ lửa.
Bấy giờ, Tôn giả Tịnh Thiên v́ mẹ ḿnh mà nói pháp bằng nhiều cách, soi sáng chỉ bày, làm cho an vui, rồi trở ra đường mà đi.
Kinh 100. Phật
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại vườn Cấp cô độc, cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Bà-la-môn đến chỗ Phật, cùng thăm hỏi sức khỏe, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch Cù-đàm, gọi là Phật, vậy thế nào là Phật? Là tên do cha mẹ đặt, hay là do Bà-la-môn đặt?”
Rồi Bà-la-môn liền nói kệ rằng:
Phật là tên hơn hết,
Vượt lên cả thế gian,
Là do cha mẹ đặt,
Gọi đó là Phật chăng?
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Phật thấy đời quá khứ,
Thấy vị lai cũng vậy,
Cũng thấy đời hiện tại,
Tất cả hành khởi diệt,
Trí sáng biết rơ ràng,
Điều cần tu đă tu,
Điều nên đoạn đă đoạn,
Cho nên gọi là Phật.
Nhiều kiếp t́m lựa chọn,
Thuần khổ không chút vui,
Có sanh ắt có diệt,
Xa ĺa dứt bụi nhơ,
Nhổ gốc gai kết sử,
Đẳng giác gọi là Phật.
Phật nói kệ xong, Bà-la-môn nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, tùy hỷ hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
Kinh 101. Phật (1)
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, ngồi nghỉ trưa dưới một bóng cây giữa hai thôn Hữu-tùng-ca-đế và Đọa-cưu-la. Lúc ấy có một Bà-la-môn thuộc ḍng họ Đậu-ma đang đi trên con đường kia, đến sau Phật. Ông thấy dấu chân Phật hiện ra như bánh xe ngàn căm, dấu chỉ rơ ràng, chỉ bên trong th́ đều, ṿng chỉ bên ngoài th́ tṛn, tất cả đều đẹp đẽ và đầy đặn. Thấy vậy, liền tự nghĩ: “Ta chưa từng thấy người thế gian nào mà có dấu chân như vậy. Giờ ta phải theo dấu mà t́m ra người này.”
Ông liền theo dấu chân đưa đến chỗ Phật, thấy Đức Thế Tôn đang ngồi nghỉ trưa dưới một bóng cây, dung mạo đoan nghiêm tuyệt thế, các căn vắng lặng, tâm Ngài an định tịch tĩnh, điều phục đệ nhất, thành tựu chánh quán, ánh sáng rực rỡ, giống như núi vàng.
Sau khi đă thấy vậy rồi, liền bạch:
“Ngài là Trời chăng?”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ta chẳng phải là Trời.”
Lại hỏi:
“Là Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân chăng?”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ta chẳng phải Rồng … cho đến Nhân, Phi nhân.”
Bà-la-môn bạch Phật:
“Nếu bảo rằng chẳng phải Trời, chẳng phải Rồng… cho đến chẳng phải Nhân, chẳng phải Phi nhân, vậy th́ Ngài là ai?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Trời, Rồng, Càn-thát-bà,
Khẩn-na-la, Dạ-xoa,
A-tu-la không lành,
Những La-hầu-la-già,
Nhân cùng chẳng phải Nhân,
Đều do phiền năo sanh.
Lậu hoặc phiền năo này,
Tất cả, Ta đă bỏ,
Đă phá, đă diệt sạch,
Như hoa Phân-đà-lợi,
Tuy sanh từ trong nước,
Nhưng chưa từng dính nước.
Ta tuy sanh thế gian,
Chẳng bị nhiễm thế gian,
Nhiều kiếp thường lựa chọn,
Thuần khổ không chút vui.
Tất cả hành hữu vi,
Thảy đều bị sanh diệt,
Trừ nhơ, không lay động,
Đă nhổ sạch gai góc,
Cùng tột bờ sanh tử,
Cho nên gọi là Phật.
Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn Đậu-ma nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, tùy hỷ hoan hỷ, rồi tiếp tục mà đi.
Kinh 102. Lănh Quần Đặc
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ vào buổi sáng sớm, Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Vương xá khất thực, theo thứ tự khất thực, đến nhà Bà-la-môn Bà-la-đậu-bà-giá. Lúc ấy, Bà-la-môn tay cầm cái th́a gỗ đựng đầy thức ăn, sửa soạn cúng dường lửa, đang đứng ở bên cửa. Từ xa trông thấy Phật đi đến, ông liền gọi Phật rằng:
“Hăy dừng lại! Dừng lại! Này gă tiện dân, chớ đến gần cửa tôi.”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Ông có biết tiện dân và pháp của tiện dân không?”
Bà-la-môn nói:
“Tôi không biết tiện dân và cũng không biết pháp của tiện dân. Vậy, Sa-môn Cù-đàm có biết tiện dân và pháp của tiện dân không?”
Phật bảo:
“Ta biết rơ về tiện dân và pháp của tiện dân.”
Ngay lúc đó Bà-la-môn để xuống những dụng cụ thờ lửa, vội vàng trải giường ngồi, mời Đức Phật ngồi và thưa rằng:
“Bạch Cù-đàm, xin v́ tôi mà nói về tiện dân và pháp của tiện dân.”
Đức Phật liền ngồi vào chỗ ngồi và nói kệ rằng:
Tâm sân nhuế ôm hận,
Che giấu các lỗi lầm,
Khởi ác kiến, phạm giới,
Dối
trá không chân thật;
Những con người như vậy,
Nên
biết, là tiện dân.
Hung bạo, tham, bủn xỉn,
Ác dục, keo, trá ngụy,
Tâm
không hổ, không thẹn,
Nên biết, là tiện dân.
Loài một sanh, hai sanh,
Tất cả đều sát hại,
Không có ḷng thương xót,
Đó là hạng tiện dân.
Hoặc giết, trói, đánh, đập,
Thôn xóm cùng thành ấp,
Trách mắng cách vô đạo,
Biết đó là tiện dân.
Ở, dừng và đi đường,
Dẫn đầu một nhóm đông,
Hành hạ người dưới tay,
Gây sợ hăi bức hiếp,
Thủ lợi về cho ḿnh,
Biết đó là tiện dân.
Thôn xóm cùng đất trống,
Vật có chủ, không chủ,
Chiếm đoạt làm của ḿnh,
Biết đó là tiện dân.
Tự bỏ bê vợ ḿnh,
Lại không vào nhà điếm,
Mà xâm đoạt vợ người,
Biết đó là tiện dân.
Những thân thuộc trong ngoài,
Thiện tri thức đồng tâm,
Xâm phạm vật họ yêu,
Biết đó là tiện dân.
Nói dối lừa gạt người,
Gạt lây của không chứng,
Người đ̣i mà không trả,
Biết đó là tiện dân.
V́ ḿnh cũng v́ người,
V́ trách, hoặc v́ tiền,
Mà hùa theo lời người,
Nói dối, chứng cho người;
Người nói dối như vậy,
Biết đó là tiện dân.
Tạo nghiệp ác, bất thiện,
Không có người hay biết,
Ẩn giấu che tội ác,
Biết đó là tiện dân.
Nếu người hỏi nghĩa này,
Lại đáp bằng phi nghĩa,
Điên đảo lừa dối người,
Biết đó là tiện dân.
Thật trống, không có ǵ,
Mà khinh chê người trí,
Ngu si v́ lợi ḿnh,
Biết đó là tiện dân.
Cao mạn tự huênh hoang,
Đi chê bai người khác,
Kiêu mạn thật thấp hèn,
Biết đó là tiện dân.
Tự tạo các lỗi lầm,
Lại đổ lỗi người khác,
Nói dối chê thanh bạch,
Biết đó là tiện dân.
Trước nhận lợi dưỡng người,
Khi người ấy đến ḿnh,
Không có ḷng đền đáp,
Biết đó là tiện dân.
Sa-môn, Bà-la-môn,
Đến khất cầu như pháp,
Không cho mà quở trách,
Biết đó là tiện dân.
Nếu cha mẹ tuổi già,
Khí lực trẻ đă suy,
Không chăm lo phụng dưỡng,
Biết đó là tiện dân.
Cha mẹ, bậc tôn trưởng,
Anh em, quyến thuộc thân.
Thật không phải La-hán,
Tự hiện đức La-hán,
Là giặc lớn thế gian,
Biết đó là tiện dân.
Sanh ḍng họ tôn quư,
Học sách Bà-la-môn,
Mà ở trong chỗ đó,
Tập làm các nghiệp ác,
Không v́ sanh nơi quư,
Mà khỏi tội, thoát đường ác;
Hiện tại bị quở trách,
Đời sau vào đường ác.
Sanh nhà Chiên-đà-la,
Đời gọi Tu-đà-di,
Tiếng đồn khắp thiên hạ,
Chiên-đà-la không có;
Bà-la-môn, Sát-lợi,
Đại tộc, thảy cúng dường.
Theo đường lên Tịnh thiên,
Sống b́nh đẳng chân thật,
Không v́ chỗ sanh chướng,
Mà không sanh Phạm thiên,
Hiện tại tiếng đồn tốt,
Đời sau sanh cơi lành,
Hai đời ông nên biết,
Như Ta đă chỉ bày,
Không v́ ḍng họ sanh,
Mà gọi là tiện dân.
Không v́ ḍng họ sanh,
Mà gọi Bà-la-môn.
Hành nghiệp, thành tiện dân;
Hành nghiệp, Bà-la-môn.
Bà-la-môn bạch Phật rằng:
Đại Tinh Tấn, đúng vậy!
Đại Mâu-ni, đúng vậy!
Không v́ chỗ sanh ra,
Mà gọi là tiện dân,
Không v́ chỗ sanh ra,
Gọi là Bà-la-môn,
Hành nghiệp, thành tiện dân;
Hành nghiệp, Bà-la-môn.
Bấy giờ, Bà-la-môn thờ lửa Bà-la-đậu-bà-giá càng được thêm tín tâm, bèn lấy bát đựng đầy thức ăn thượng hảo dâng lên Đức Thế Tôn. Thế Tôn không nhận, v́ nói bài kệ này mà có được, như bài kệ đă nói trên.
Bấy giờ, Bà-la-môn thờ lửa Bà-la-đậu-bà-giá thấy thức ăn hiện ra điềm lạ (như kinh 98) ḷng tin của ông càng tăng, bạch Phật rằng:
“Bạch Thế Tôn, nay con có được phép ở trong Chánh pháp luật xuất gia thọ cụ túc không?”
Phật bảo Bà-la-môn:
“Nay ông được phép ở trong Chánh pháp luật xuất gia thọ cụ túc.”
Sau khi được xuất gia rồi, một ḿnh lặng lẽ tư duy (như trước đă nói … cho đến đắc quả A-la-hán, tâm khéo giải thoát).
Khi Bà-la-môn Bà-la-đậu-bà-giá đă đắc A-la-hán, tâm khéo giải thoát rồi, th́ tự biết được hỷ lạc, liền nói bài kệ rằng:
Trái đạo, cầu thanh tịnh,
Cúng dường tế thần lửa,
Không biết đạo thanh tịnh,
Như kẻ mù bẩm sinh.
Nay đă được an lạc,
Xuất gia thọ cụ túc,
Chứng đạt được ba minh.
Lời Phật dạy đă làm,
Trước Bà-la-môn khó,
Nay là Bà-la-môn,
Đă tắm, sạch bụi bẩn,
Vượt chư Thiên bờ kia.