![]()


Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Có bảy thân, chẳng phải tạo tác, chẳng phải là được tạo tác; chẳng phải biến hóa, chẳng phải là được biến hóa, là chắc thật, không dao động, không giết. Những ǵ là bảy? Đó là: thân đất, thân nước, thân lửa, thân gió, khổ, lạc, mạng. Bảy loại thân này chẳng phải tạo tác, chẳng phải là được tạo tác; chẳng phải biến hóa, chẳng phải là được biến hóa, là chắc thật, không dao động, không giết, không chuyển, không biến, không bức bách nhau; hoặc phước, hoặc ác, hoặc phước ác; hoặc khổ, hoặc vui, hoặc khổ vui; hoặc người bị bêu đầu, hoặc người chém đầu, cũng không bức bách thế gian; hoặc mạng, hoặc thân, trong khoảng bảy thân, chịu đựng đao đâm qua lại cũng không hại mạng; ở đây không giết, không người giết; không trói buộc, không người trói buộc; không nhớ nghĩ, không người nhớ nghĩ; không dạy dỗ, không người dạy dỗ?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Làm, bảo làm, đoạn mạng, bảo đoạn mạng, nấu, bảo nấu; giết, bảo giết, sát hại chúng sanh; trộm của người; hành tà dâm; biết mà nói dối; uống rượu; khoét tường, bẻ khóa, cướp đoạt; đón đường, phá làng xóm, hại thành ấp, dùng kiếm cực bén, chém, chặt, cắt, chất thành đống thịt lớn; học tập như vậy, làm như vậy, chẳng phải là nhân duyên ác, cũng chẳng phải chiêu mời quả báo ác. Đi về phía Nam sông Hằng, sát hại. Đi đến phía Bắc sông Hằng mở đại hội cúng tế; làm như vậy, chẳng phải là nhân duyên phước hay là ác và cũng chẳng phải chiêu mời quả báo phước hay là ác; bố thí tự chế ngự, hộ tŕ, hành lợi, đồng lợi, những việc làm ở đây cũng chẳng phải là phước'?"
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp.(…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Ở đây có mười bốn trăm ngàn cửa sanh, sáu mươi ngàn, sáu trăm; có năm nghiệp, ba nghiệp, hai nghiệp, một nghiệp, nửa nghiệp; sáu mươi hai đạo tích, sáu mươi hai nội kiếp, một trăm hai mươi Nê-lê, một trăm ba mươi căn, ba mươi sáu tham giới, bốn mươi chín ngàn loại rồng, bốn mươi chín ngàn loại kim sí điểu, bốn mươi chín ngàn loại ngoại đạo tà mạng, bốn mươi chín ngàn loại ngoại đạo xuất gia, bảy kiếp tưởng, bảy kiếp vô tưởng, bảy A-tu-la, bảy Tỳ-xá-giá, bảy trời, bảy người, bảy trăm biển, bảy mộng, bảy trăm mộng, bảy vực thẳm, bảy trăm vực thẳm, bảy giác, bảy trăm giác, sáu sanh, mười tăng tiến, tám đại sĩ địa. Ở trong tám vạn bốn ngàn đại kiếp này, hoặc ngu si, hoặc trí tuệ, qua lại từng trải, rồi mới cùng tận mé khổ. Ở đó không có Sa-môn, Bà-la-môn có thể nói như vầy: ‘Tôi luôn luôn giữ giới, nhận các khổ hạnh, tu các phạm hạnh; để nghiệp chưa chín mùi khiến được chín mùi, nghiệp đă chín mùi rồi th́ buông bỏ.’ Tiến thoái, không thể biết. Ở đây, khổ và lạc là thường trụ, sống và chết có giới hạn nhất định. Giống như ống chỉ, ném vào giữa hư không từ từ rơi xuống dần, cho tới đất rồi dừng lại; việc sống chết có giới hạn nhất định, trong tám vạn bốn ngàn đại kiếp cũng như vậy.’”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Gió không thổi, lửa không cháy, nước không chảy, tên không bắn, mang thai không sanh, sữa không vắt, mặt trời mặt trăng mọc mà như lặn, hoặc sáng hoặc tối, không thể biết’?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Đại Phạm này là đấng tự tại, đấng sáng tạo, là cha của chúng sanh?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Sắc là ngă, ngoài ra chỉ là hư danh; không sắc là ngă, ngoài ra chỉ là hư danh; sắc phi sắc là ngă, ngoài ra chỉ là hư danh; phi sắc phi phi sắc là ngă, ngoài ra chỉ là hư danh; ngă là hữu biên, ngoài ra chỉ là hư danh; ngă là vô biên, ngoài ra chỉ là hư danh; ngă là hữu biên và vô biên, ngoài ra chỉ là hư danh; ngă chẳng phải là hữu biên và chẳng phải là vô biên, ngoài ra chỉ là hư danh; một tưởng, đa dạng thứ tưởng, nhiều tưởng, vô lượng tưởng; ngă chỉ một mực là lạc, chỉ một mực là khổ, hoặc vừa khổ vừa lạc, không khổ không lạc ngoài ra chỉ là hư danh’?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Sắc là ngă, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; phi sắc phi phi sắc là ngă, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; ngă là hữu biên, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; ngă là vô biên, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; ngă chẳng phải là hữu biên và chẳng phải là vô biên, ngoài ra chỉ là vọng tưởng; một tưởng, đa dạng thứ tưởng, nhiều tưởng, vô lượng tưởng; ngă chỉ một mực là lạc, chỉ một mực là khổ, hoặc vừa khổ vừa lạc, không khổ-không lạc ngoài ra chỉ là hư danh’?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: 'Thế gian là thường, thế gian là vô thường; thế gian là thường - vô thường; thế gian là chẳng thường, thế gian là chẳng vô thường. Thế gian là hữu biên, thế gian là vô biên; thế gian là hữu biên - vô biên; thế gian là chẳng phải hữu biên, chẳng phải vô biên. Mạng tức là thân, mạng khác thân khác. Sau khi Như Lai mất là có, sau khi Như Lai mất là không; sau khi Như Lai mất là vừa có vừa không; sau khi Như Lai mất là vừa chẳng phải có vừa chẳng phải chăng'?"
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Thế gian, ngă là thường; thế gian, ngă là vô thường; thế gian, ngă là thường – vô thường; thế gian, ngă là chẳng phải thường chẳng phải vô thường; ngă khổ là thường; ngă khổ là vô thường; ngă khổ là thường – vô thường; ngă khổ là chẳng phải thường chẳng phải vô thường; thế gian, ngă là tự tạo; thế gian, ngă là cái khác tạo; thế gian, ngă là tự tạo và cái khác tạo; thế gian, ngăø chẳng phải là tự tạo, chẳng phải là cái khác tạo, chẳng phải tự cũng chẳng phải cái khác, không nhân tạo tác; thế gian, ngă khổ là tự tạo; thế gian, ngă khổ là cái khác tạo; thế gian, ngă khổ vừa tự vừa cái khác tạo; thế gian, ngă khổ chẳng phải tự cũng chẳng phải cái khác, không nhân tạo tác’?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Nếu không khoái lạc ngũ dục, th́ sẽ Bát-niết-bàn ngay trong đời hiện tại. Nếu ly dục, ĺa pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có lạc phát sanh do ly dục, nhập vào Sơ thiền, cho đến, đệ Tứ thiền. Đó là đệ nhất nghĩa Bát-niết-bàn’?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (...)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Do có cái ǵ, do khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ, do đắm đuối cái ǵ, do thấy ngă nơi cái ǵ, khiến cho chúng sanh thấy như vầy, nói như vầy: ‘Nếu sắc bốn đại thô đoạn hoại, không c̣n ǵ, th́ đó gọi là ngă bị đoạn diệt thật sự. Nếu ngă ở dục giới đoạn hoại, sau khi chết sẽ không c̣n ǵ nữa, th́ đó gọi là ngă bị đoạn diệt thật sự. Nếu ngă ở sắc giới, sau khi chết không c̣n ǵ nữa, th́ đó gọi là ngă bị đoạn diệt thật sự. Nếu đạt được không nhập xứ, vô sở hữu nhập xứ, phi tưởng phi phi tưởng nhập xứ, sau khi chết ngă bị đoạn hoại không c̣n ǵ nữa, th́ đó gọi là ngă bị đoạn hoại thật sự.’”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thế Tôn là gốc pháp, là mắt pháp, là sở y của pháp. (…)”
Chi tiết như kinh trên. Theo thứ tự như ba kinh trên (kinh 139, 140, 141).
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu pháp là vô thường, th́ nên đoạn trừ; khi đăø đoạn trừ được pháp này rồi, th́ sẽ được nhiều lợi ích và luôn luôn được an lạc. Pháp nào là vô thường? Sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức là vô thường.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Nếu pháp quá khứ là vô thường, th́ nên đoạn trừ; khi đă đoạn trừ pháp này rồi, th́ sẽ được nhiều lợi ích và luôn luôn được an lạc. Pháp quá khứ nào là vô thường? Sắc quá khứ là pháp vô thường, dục quá khứ là pháp vô thường, nên pháp này phải đoạn trừ; khi đă đoạn trừ pháp này rồi, th́ sẽ được nhiều lợi ích và luôn luôn được an lạc; đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng vậy, các kinh: Vị lai, Hiện tại, Quá khứ; Hiện tại-vị lai; Hiện tại-quá khứ; Vị lai-quá khứ; Vị lai-hiện tại; chi tiết như kinh trên.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
"V́ muốn đoạn trừ pháp vô thường, nên phải cầu Đại sư. Sao gọi là pháp vô thường? Sắc là pháp vô thường, v́ muốn đoạn trừ pháp này nên phải cầu Đại sư; đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy."
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Cũng vậy, tám kinh sau đây:
- Quá khứ,
- Vị lai,
- Hiện tại
- Hiện tại-vị lai;
- Hiện tại-quá khứ;
- Vị lai-quá khứ;
- Vị lai-hiện tại;
- Nên cầu Đại sư như thế.
Các kinh sau đây, mỗi kinh thêm các chi tiết như tám kinh trên:
- Chủng chủng giáo tùy thuận,
- An,
- Quảng an,
- Châu phổ an,
- Đạo (dẫn đường),
- Quảng đạo (dẫn đường rộng răi),
- Cứu cánh đạo (dẫn đường rốt ráo),
- Thuyết,
- Quảng thuyết,
- Tùy thuận thuyết,
- Đệ nhị bạn,
- Chân tri thức,
- Đồng ư,
- Mẫn,
- Bi,
- Sùng nghĩa,
- Sùng an uỷ,
- Lạc,
- Sùng xúc,
- Sùng an ổn,
- Dục,
- Tinh tấn,
- Phương tiện,
- Quảng phương tiện,
- Kham năng phương tiện,
- Kiên cố,
- Cường,
- Kiện,
- Dũng mănh,
- Thân tâm dũng mănh,
- Nan phục nhiếp thọ,
- Thường học,
- Bất phóng dật,
- Tu,
- Tư duy,
- Niệm,
- Giác,
- Tri,
- Minh,
- Tuệ,
- Biện,
- Tư lương,
- Phạm hạnh
- Như ư,
-
Chánh
cần,
- Căn,
- Lực,
- Giác,
- Đạo,
- Chỉ,
- Quán,
- Niệm thân,
- Chánh ức niệm.
Như kinh “Đoạn nghĩa” các kinh sau đây cũng có nội dung như vậy:
- Tri nghĩa,
- Tận nghĩa,
- Thổ nghĩa,
- Chỉ nghĩa,
- Xả nghĩa.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Như có người bị lửa đốt đầu và áo, phải làm sao để cứu?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, phải gấp rút, nhanh chóng, nỗ lực t́m cách để dập tắt nó.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Đầu và áo bị đốt cháy c̣n có thể tạm quên đi được, c̣n lửa vô thường mà hừng hực th́ cần phải đoạn trừ tận diệt. V́ muốn đoạn trừ lửa vô thường, th́ nên cần cầu bậc Đại sư. V́ muốn đoạn trừ những pháp vô thường nào nên cần cầu bậc Đại sư? V́ muốn đoạn trừ sắc vô thường, nên cần cầu bậc Đại sư; v́ muốn đoạn trừ thọ, tưởng, hành, thức vô thường, nên cần cầu bậc Đại sư.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
Như kinh “Đoạn trừ vô thường,” cũng vậy, các kinh sau đây tương tự:
- Quá khứ vô thường,
- Vị lai vô thường,
- Hiện tại vô thường;
- Quá khứ, vị lai vô thường;
- Quá khứ hiện tại vô thường;
- Vị lai, hiện tại vô thường;
- Quá khứ, vị lai, hiện tại vô thường như vậy.
Như tám kinh Thí dụ cứu lửa trên đầu đă nói chi tiết như trên.
Cũng như “Cầu bậc Đại sư”, các kinh “Chủng chủng giáo”, “Tùy thuận giáo”, chi tiết như trên đă nói.
Cũng ư nghĩa như “đoạn”, các kinh có nghĩa “tận, thổ, chỉ, xả, diệt, một” cũng chi tiết như vậy.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
"V́ để đoạn trừ vô thường, hăy tùy thuận tu tập an trụ quán thân trên nội thân.