Kinh Tạp A Hàm

Quyển 6

 

 

 

Hán dịch: Tống, Tam tạng Cầu-na-bạt-đà-la -      Việt dịch: Thích Đức Thắng -      Hiệu đính & Chú thích: Tuệ Sỹ

Kinh 125. Ma Pháp

Tôi nghe như vầy: 

Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là Tỳ-kheo La-đà.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:

“Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần tất cả chúng đều là ma, tạo tác của ma. Và đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật bảo La-đà:

“Này La-đà, ư ngươi nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

Lại hỏi:

“Vô thường có phải là khổ chăng?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

Lại hỏi:

“Nếu vô thường, khổ là pháp biến dịch, đa văn Thánh đệ tử ở trong đó có thấy ngă, khác ngă, hay ở trong nhau không?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, không.”

“V́ vậy, này La-đà, đa văn Thánh đệ tử, đối với sắc nên sanh tâm nhàm chán. V́ đă nhàm chán nên không thích, v́ đă không thích nên giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”

Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, hoan hỷ phụng hành.

  

Kinh thứ ba cũng như vậy, nhưng có chỗ khác là:

Phật bảo La-đà: Đa văn Thánh đệ tử ở nơi năm thọ ấm này mà quán sát là chẳng phải ngă, chẳng phải ngă sở. Khi đă quán sát, th́ đối với các pháp trên thế gian đều không có ǵ để mà chấp giữ. V́ không có ǵ để chấp giữ nên không dính mắc, v́ không dính mắc nên tự giác ngộ Niết-bàn: “Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.”

Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Kinh 126. Tử Pháp

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là Tỳ-kheo La-đà.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:

“Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hăy quán sát tất cả chúng đều là pháp chết. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Ngoài ra như đă nói kinh trên.

 

Kinh 127. Phi Ngă Phi Ngă Sở

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy, có thị giả là Tỳ-kheo La-đà.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo La-đà:

“Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc là vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; hăy quán sát tất cả chúng đều là pháp đoạn tận. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Đa văn Thánh đệ tử quán sát như vậy đối với sắc mà sanh nhàm chán; đối với thọ, tưởng, hành, thức mà sanh nhàm chán. V́ đă nhàm chán nên không thích, v́ không thích nên giải thoát, giải thoát tri kiến: ‘Ta, sự sanh đă dứt, phạm hạnh đă lập, những ǵ cần làm đă làm xong, tự biết không c̣n tái sanh đời sau nữa.’”

Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Cũng như kinh “Ta quán sát pháp đoạn tận”, các kinh tiếp theo cũng vậy, gồm:

1.      Quán sát diệt pháp,

2.      Quán sát khí xả pháp (vứt bỏ),

3.      Quán sát vô thường pháp,

4.      Quán sát khổ pháp,

5.      Quán sát không pháp,

6.      Quán sát phi ngă pháp,

7.      Quán sát vô thường-khổ-không-phi ngă pháp,

8.      Quán sát bệnh pháp,

9.      Quán sát ung pháp (ung nhọt),

10. Quán sát thích pháp (gai nhọn),

11. Quán sát sát pháp (giết hại),

12. Quán sát sát căn bản pháp,

13. Quán sát bệnh, ung (ung nhọt), thích pháp (gai nhọn), sát (giết hại), sát căn bản

 

Kinh 128. Đoạn Pháp (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo La-đà:

“Những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; quán sát tất cả chúng đều là pháp đoạn tận. Đă quán sát như vậy rồi, th́ đối với sắc, dục tham được đoạn trừ. Dục tham đă được đoạn trừ rồi, th́ Ta nói đó là tâm khéo giải thoát. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, hoan hỷ phụng hành.

Cũng vậy, có mười bốn kinh, nội dung như trên.

 

Kinh 129. Đoạn Pháp (2)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại núi Ma-câu-la. Khi ấy có Tỳ-kheo thị giả tên là La-đà.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo La-đà:

“Những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; quán sát tất cả chúng đều là pháp đoạn tận[43]. Đă quán sát như vậy rồi, th́ đối với sắc, dục tham được đoạn trừ. Dục tham đă được đoạn trừ rồi, th́ Ta nói đó là tâm khéo giải thoát. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, Tỳ-kheo La-đà nghe những ǵ Đức Phật đă dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Kinh 130. Cầu Đại Sư (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Muốn đoạn trừ năm thọ ấm, th́ phải cầu Đại sư. Những ǵ là năm? Sắc thọ ấm; thọ, tưởng, hành, thức thọ ấm. Muốn đoạn trừ năm thọ ấm này, th́ phải cầu Đại sư.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Cũng như kinh “Đương đoạn”, các kinh tiếp theo cũng vậy, có tên như sau:

-         Đương thổ (hăy nhả ra);

-         Đương tức (hăy đ́nh chỉ);

-         Đương xả (hăy xả bỏ).

  

Cũng như kinh “Cầu Đại sư”, các kinh sau đây có nội dung tương đồng (có năm mươi chín kinh):

-         Cầu Thắng sư (bậc thầy cao cả),

-         Thuận thứ sư (bậc thầy thuận theo thứ lớp),

-         Giáo giới giả (người răn dạy),

-         Thắng giáo giới giả (người răn dạy hơn nhất),

-         Thuận thứ giáo giới giả (người răn dạy thuận theo thứ lớp),

-         Thông giả (người thông suốt),

-         Quảng thông giả (người thông suốt rộng răi),

-         Viên thông giả (người thông suốt tṛn đầy),

-         Đạo giả (người dẫn đường),

-         Quảng đạo giả (người dẫn đường rộng răi),

-         Cứu cánh đạo giả (người dẫn đường rốt ráo),

-         Thuyết giả (người thuyết giảng),

-         Quảng thuyết giả (người thuyết giảng rộng răi),

-         Thuận thứ thuyết giả (người thuyết giảng theo thứ lớp),

-         Chánh giả (người chân chánh),

-         Bạn giả (người đồng hành),

-         Chân tri thức giả (bằng hữu chân thật),

-         Thân giả (người thân cận),

-         Mẫn giả (người thương xót),

-         Bi giả (người từ bi),

-         Sùng nghĩa giả (người sùng nghĩa),

-         An ủy giả (người an ủi),

-         Sùng lạc giả (người sùng lạc),

-         Sùng xúc giả (người sùng xúc),

-         Sùng an ủy giả (người sùng sự an ủi),

-         Dục giả (người muốn),

-         Tinh tấn giả (người tinh tấn),

-         Phương tiện giả (người phương tiện),

-         Cần giả (người chuyên cần),

-         Dũng mănh giả (người dơng mănh),

-         Cố giả (người kiên cố),

-         Cường giả (người mạnh mẽ),

-         Kham năng giả (người có khả năng),

-         Chuyên giả (người tinh chuyên),

-         Tâm bất thoái giả (người tâm không thoái lui),

-         Kiên chấp tŕ (người giữ ǵn chắc chắn),

-         Thường tập giả (người thường tu tập),

-         Bất phóng dật giả (người không buông lung),

-         Ḥa hiệp giả (người ḥa hợp),

-         Tư lương giả (người suy xét),

-         Ức niệm giả (người nhớ nghĩ),

-         Giác giả (người tỉnh giác),

-         Tri giả (người biết),

-         Minh giả (người sáng suốt),

-         Tuệ giả (người trí tuệ),

-         Thọ giả (người lănh thọ),

-         Tư duy giả (người tư duy),

-         Phạm hạnh giả (người phạm hạnh),

-         Niệm xứ giả (người có niệm xứ),

-         Chánh cần giả (người có chánh cần),

-         Như ư túc (người được như ư túc),

-         Căn giả (người được căn),

-         Lực giả (người được lực),

-         Giác phần giả (người được giác phần),

-         Đạo phần giả (người được đạo phần),

-         Chỉ giả (người được chỉ),

-         Quán giả (người được quán),

-         Niệm thân giả (người được niệm thân),

-         Chánh ức niệm (người được chánh ức niệm).

 

Kinh 131. Tập Cận

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào tập cận với sắc, bị ma chi phối, rơi vào tay ma, theo ước muốn của ma, bị ma trói buộc, không thoát ra khỏi sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không tập cận sắc, th́ những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không không bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không chạy theo ước muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Cũng như kinh “Tập cận”, các kinh sau đây có nội dung giống vậy:

-         Tập trước giả (quen thói đam mê),

-         Vị giả (hảo vị ngọt),

-         Quyết định trước giả (đam mê thành tánh cố định),

-         Chỉ giả (dừng nghỉ),

-         Sử giả (sai sử),

-         Văng giả (đi đến),

-         Tuyển trạch giả (lựa chọn),

-         Bất xả (không xả),

-         Bất thổ (không nhả ra),

“Những Sa-môn, Bà-la-môn nào như vậy không bị ma chi phối” như nói ở kinh trên. Như đă nói ở trên.

 

Kinh 132. Bất Tập Cận

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào không tập cận sắc, th́ những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không bị ma chi phối, không rơi vào tay ma, không chạy theo ước muốn của ma, sẽ không bị ma trói buộc, thoát sợi dây trói của ma. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

Cho đến “Thổ sắc” lại cũng như vậy.

 

Kinh 133. Sanh Tử Lưu Chuyển

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Do có cái ǵ, do sanh khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ mà có kiến chấp ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử, không biết biên tế tối sơ là ǵ?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Lành thay, Thế Tôn! Xin thương xót mà nói rộng nghĩa này. Sau khi các Tỳ-kheo nghe xong sẽ vâng lời thực hành.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ v́ các ông mà nói.

“Này các Tỳ-kheo, v́ có sắc, sanh khởi sự của sắc, hệ lụy sắc, nơi sắc mà thấy ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Này các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

Lại hỏi:

“Nếu vô thường, là khổ phải chăng?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Như vậy này các Tỳ-kheo, nếu vô thường là khổ, th́ do có cái khổ này mà sự ấy sanh khởi, hệ lụy, thấy là ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cho nên, này các Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cũng vậy, cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết, cái sở cầu, cái sở đắc, cái được nhớ nghĩ; tất cả đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu có kiến chấp cho rằng có ngă, có thế gian, có đời này, là pháp thường hằng, không biến dịch, th́ tất cả đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

"Lại nữa, nếu có kiến chấp cho rằng không phải cái này là tôi, không phải cái này là của tôi, không phải là tôi trong tương lai, không phải là của tôi trong tương lai; th́ tất cả chúng đều chẳng phải ngă chẳng phải khác ngă, chẳng phải ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát chẳng phải là ngă, chẳng phải ngă sở. Quán sát được như vậy rồi, th́ dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật, dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Pháp và đối với Tăng. Đó gọi là, Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không c̣n trở lại tạo nghiệp thân, miệng, ư để đưa đến ba đường ác; giả sử có buông lung, Thánh đệ tử cũng nhất định hướng đến giác ngộ, bảy lần qua lại trời người, rồi cứu cánh biên tế khổ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Kinh 134. Hồ Nghi Đoạn (1)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

Nội dung chi tiết như kinh trên. Sai biệt ở chỗ:

“Nếu đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát chẳng phải là ngă, chẳng phải ngă sở. Quán sát được như vậy rồi, th́ đoạn trừ hồ nghi đối với Khổ, Tập, Diệt, Đạo... cho đến, rồi cứu cánh biên tế khổ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Kinh 135. Hồ Nghi Đoạn (2)

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

Nội dung chi tiết như kinh trên. Sai biệt ở chỗ:

“Nếu đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát chẳng phải là ngă, chẳng phải ngă sở. Quán sát được như vậy rồi, th́ đoạn trừ hồ nghi đối với Phật, Pháp, Tăng, Khổ, Tập, Diệt, Đạo... cho đến, rồi cứu cánh biên tế khổ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

Kinh 136. Sanh Tử Lưu Chuyển

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Do có cái ǵ, do sanh khởi cái ǵ, do hệ lụy cái ǵ mà có kiến chấp ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử, không biết biên tế tối sơ là ǵ?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Thế Tôn là gốc pháp, là con mắt pháp, là sở y của pháp. Lành thay, Thế Tôn! Xin thương xót mà nói rộng nghĩa này. Sau khi các Tỳ-kheo nghe xong sẽ vâng lời thực hành.”

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Hăy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ v́ các ông mà nói.

"Này các Tỳ-kheo, v́ có sắc, sanh khởi sự của sắc, hệ lụy sắc, nơi sắc mà thấy ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong rủi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Này các Tỳ-kheo, sắc là thường hay vô thường?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là vô thường.”

Lại hỏi:

“Nếu vô thường, là khổ phải chăng?”

Đáp:

“Bạch Thế Tôn, là khổ.”

“Như vậy này các Tỳ-kheo, nếu vô thường là khổ, th́ do có cái khổ này mà sự ấy sanh khởi, hệ lụy, thấy là ngă, khiến cho chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái cột cổ, phải dong ruổi nơi đường dài, luân hồi theo sanh tử, lưu chuyển trong sanh tử. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cho nên, này các Tỳ-kheo, những ǵ là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại; hoặc trong, hoặc ngoài; hoặc thô, hoặc tế; hoặc tốt, hoặc xấu; hoặc xa, hoặc gần; tất cả chúng đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.

“Cũng vậy, cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết, cái sở cầu, cái sở đắc, cái được nhớ nghĩ[58]; tất cả đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu có kiến chấp cho rằng có ngă, có thế gian, có đời này, là pháp thường hằng, không biến dịch, th́ tất cả đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

"Lại nữa, nếu có kiến chấp cho rằng không phải cái này là tôi, không phải cái này là của tôi, không phải là tôi trong tương lai, không phải là của tôi trong tương lai; th́ tất cả chúng cũng đều chẳng phải ngă, chẳng phải khác ngă, chẳng ở trong nhau. Đó gọi là chánh tuệ.

“Nếu đa văn Thánh đệ tử ở nơi sáu kiến xứ này mà quán sát chẳng phải là ngă, chẳng phải ngă sở. Quán sát được như vậy rồi, th́ dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật, dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Pháp và đối với Tăng. Đó gọi là Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không c̣n trở lại tạo nghiệp thân, miệng, ư để đưa đến ba đường ác; giả sử có buông lung, Thánh đệ tử cũng nhất định hướng đến giác ngộ, bảy lần qua lại trời người, rồi cứu cánh biên tế khổ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những ǵ Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

  

Kinh 137.

Kinh tiếp theo, nội dung cũng như vậy, chỉ sai khác ở chỗ: “Dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Khổ-Tập-Diệt-Đạo.”

 

Kinh 138.

Kinh thứ ba cũng như vậy, chỉ khác nhau ở chỗ: “Dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Phật-Pháp-Tăng và dứt hết mọi sự hồ nghi đối với Khổ-Tập-Diệt-Đạo.”

 

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng

 

Kinh Tạp A Hàm