Duy Lực Ngữ Lục

( Phẩm 1: Từ năm 1983- 1989)

Cuốn 1-10

Duy Lực Ngữ Lục

 

Hỏi: Thế nào là CHƠN KHÔNG DIỆU HỮU ?
Đáp: Chơn không Diệu hữu thuộc về Giáo môn. Giáo môn nói đến Tự tánh về CÓ và KHÔNG: KHÔNG là Chơn không, CÓ là Diệu hữu; ư là cái "có" chẳng phải thật có, cái "không" chẳng phải thật không, là muốn mọi người không có chấp thật. V́ chấp thật là bệnh của chúng sanh, sở dĩ có cái khổ sanh tử luân hồi đều do bệnh chấp thật sinh ra. Tự tánh chẳng thể dùng lời nói tỏ bày, nói Chơn không Diệu hữu cũng là phương tiện tạm thời mà thôi.

Vậy thế nào là Diệu hữu, thế nào là Chơn không ? Chữ DIỆU trong kinh Phật là vi diệu, bất khả tư ngh́, chẳng thể dùng tâm suy lường được; những ǵ có thể dùng tâm suy nghĩ tức chẳng phải là diệu . Cái KHÔNG tức thật không, hư không này chẳng phải thật không, chẳng phải chơn không, v́ hễ người kiến tánh th́ hư không tan nát, nếu là chơn không th́ chẳng tan nát được.

Tôi giảng về CHƠN KHÔNG là hiển bày cái dụng : KHÔNG tức trống rỗng, trống rỗng tức không, ấy là cái dụng; có rỗng không chúng ta mới có thể ngồi tại đây, như cái bàn này, nếu chẳng có Không ( trống rỗng) th́ chẳng thể sử dụng, cái tách chẳng có cái Không th́ chẳng thể đựng nước đựng trà v.v. Nên phàm nói đến cái KHÔNG là để hiển bày cái dụng; muốn dụng ắt phải có cái Không, chẳng có cái Không th́ chẳng thể sử dụng được. Cái Không lớn chừng nào th́ sự dụng phát huy lớn chừng nấy.

Dụng của Tự tánh cũng vậy, sở dĩ ḿnh sử dụng chẳng được là do các thứ tham sân si, phiền năo che lắp cái Không, nay tham Thiền dùng "cây chổi automatic" quét trống được bao nhiêu th́ cái Không hiển bày được bấy nhiêu, tự động xài ra. KHÔNG tới cực th́ dụng tới cực, tức là Phật. Trước mắt dùng chưa được, chỉ có thể tạm gọi là "tiềm năng", tức tiềm trong Tự tánh, đợi khi nào quét trống không rồi th́ tự hiện ra cái dụng, như thế mới có thể gọi là Chơn không, cũng gọi là Diệu hữu ( Bởi v́ nếu không phát huy được sự dụng th́ chẳng thể gọi là Diệu hữu).

Tức không tức dụng, tức dụng tức không, Chơn không Diệu Hữu đồng thời. Diệu hữu là dụng, Chơn không là thể, thể với dụng đồng thời, không có phân chia, ấy mới đúng với nghĩa "Tự tánh bất nhị". Nếu chia ra thể và dụng tức đă thành hai, v́ để giải thích nên mới nói thành hai vậy. Nay chúng ta chỉ thấy được cái dụng, muốn t́m ra cái thể th́ chẳng thể được. Phật tử tham Thiền, đề khởi câu thoại đầu th́ tự động hiện ra cái dụng, chẳng cần tác ư. Như tôi thường kể về cầu thủ Trương Quốc Anh ( thủ môn ), không qua tác ư mà chụp được quả banh. Trước khi chưa tham Thiền, khởi tâm muốn chụp được quả banh lại bị tuột mất, nay anh ấy đang ở Paris, thường tham gia các trận đấu tại Đức, Thụy Điển v.v. đều giành được thắng lợi, ấy là sự dụng automatic, không cần qua bộ năo. Điều này nếu theo sự phân tích của khoa học th́ thật vô lư, nhưng thật tế là vậy. Bởi v́ dụng của Tự tánh chẳng cần qua bộ năo nhưng làm việc của bộ năo, nên mới gọi là Diệu hữu, chẳng thể hiểu theo tâm suy nghĩ.

Hỏi: Thế nào là nghĩa ba câu trong Kinh Kim Cang ?

Đáp: Như câu " Chúng sanh, tức phi chúng sanh, thị danh chúng sanh"; " Thế giới, tức phi thế giới, thị danh thế giới"; " Đệ nhất Ba La Mật, tức phi đệ nhất Ba la mật, thị danh đệ nhất Ba la mật". Kinh Kim Cang từ đầu đến cuối đều chẳng ngoài nghĩa ba câu này. Câu thứ nhất chấp "Thị chúng sanh" là đúng, câu thứ nh́ quét câu thứ nhất nhưng lọt vào cái "Phi", câu thứ ba "Thị danh" tức là giả danh: Câu thứ nhất "thị chúng sanh" là giả danh, câu thứ nh́ "Phi chúng sanh" là giả danh, câu thứ ba "thị danh chúng sanh" cũng là giả danh. Nên câu thứ ba quét câu thứ nhất, câu thứ nh́ và quét luôn cả câu thứ ba, quét triệt để mới đúng là nghĩa ba câu.

Nghĩa ba câu với nghĩa tứ cú giống nhau, cũng là quét triệt để, chẳng trụ ở cú nào. Nếu chúng ta thấu suốt được, chẳng những nghĩa ba câu của Kinh Kim Cang, bất cứ kinh nào cũng vậy, không ngoài ư nghĩa ba câu và tứ cú kệ. Đối với vũ trụ vạn vật cũng thế : Cái tách, tức phi tách, thị danh tách; cái b́nh, tức phi b́nh, thị danh b́nh; cái ta, tức phi ta, thị danh ta; Phật, tức phi Phật, thị danh Phật v.v. chẳng ngoài nghĩa ba câu của Kinh Kim Cang vậy.

Hỏi: Làm sao hàng phục tâm ?

Đáp: Làm sao hàng phục được ư ? Hễ khởi niệm th́ lọt vào cú thứ nhất, "Không khởi niệm" lọt vào cú thứ hai, " chẳng khởi niệm chẳng không khởi niệm" lọt vào cú thứ ba, " Cũng khởi niệm cũng không khởi niệm" lọt vào cú thứ tư. Muốn hàng phục chỉ có tham thoại đầu khởi lên nghi t́nh, ngoài ra chẳng c̣n cách nào khác ! Chính cái nghi t́nh "không hiểu không biết" là cây chổi automatic hàng phục hết ! Có hàng phục được mới an trụ được, nếu không th́ làm sao an trụ ? Khi đề khởi câu thoại đầu, không cần biết đến có chạy theo lục trần hay không, hễ có chạy theo hay không chạy theo đều nằm trong tứ cú, nên chẳng biết tới.

Hỏi: Thế nào là "Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ" ?

Đáp: Ấy là trong Kinh Pháp Hoa. Nếu nói đến "Thế gian tướng thường trụ" th́ thế gian tướng là tướng sanh diệt, làm sao thường trụ được ? Nhưng v́ có câu "Thị pháp trụ pháp vị", tức là pháp nào trụ theo ngôi pháp đó; ví như cái tách th́ trụ nơi ngôi pháp tách, khi nào cái tách đập bể rồi th́ pháp vị "tách" mất, trụ ngôi pháp vị miểng, hiện tiền trụ ngôi pháp vị miểng. Nếu đem miểng đốt thành tro th́ trụ ngôi pháp vị tro, một làn gió thổi tro bay mất, từ pháp vị tro đổi thành pháp vị không, trụ nơi pháp vị "không". Thế gian tướng thường trụ nơi pháp vị hiện tiền ấy: Pháp vị "sanh" hiện tiền trụ ngôi pháp vị sanh, Pháp vị "diệt" hiện tiền trụ ngôi pháp vị diệt, nên nói Thế gian tướng thường trụ, là cái dụng của Tự tánh vậy. "Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ" có thể nói là hai câu cao nhất trong Kinh Pháp Hoa.

Hỏi:Thiền tông lấy câu "Niệm Phật là ai" để tham, Tịnh độ niệm Phật lấy câu "A Di Đà Phật" , vậy sự thù thắng như thế nào để đạt đạo ?

Đáp: Đức Phật dạy chúng sanh tu hành gồm tám mươi bốn ngàn pháp môn, tùy theo căn cơ của mọi chúng sanh. Mục đích của Phật chỉ muốn mọi chúng sanh đều thành Phật, đạt đến tự do tự tại, vĩnh viễn thoát khỏi tất cả khổ. Sở dĩ có tám mươi bốn ngàn pháp môn là tùy theo căn cơ tŕnh độ, sở thích của từng chúng sanh , do vọng tâm của chúng sanh muôn ngàn sai biệt nên mới dạy nhiều pháp môn, nhưng qui tụ lại thành bốn loại : Tham Thiền, niệm Phật, tŕ chú, quán tưởng.

Tham Thiền là tham câu thoại đầu, niệm Phật là Tịnh độ, hai cách tu khác nhau.
Tông chỉ của Tịnh Độ là TÍN, NGUYỆN, HÀNH. TÍN là tin, gồm có ba :

                                    1/ Tin lời của Phật không vọng ngữ.
                                        2/ Tin kiếp này sẽ được văng sanh.
                                        3/ Tin Cơi Tịnh Độ không bệnh không già không chết, muốn ǵ được nấy.

NGUYỆN có hai : Đại nguyện và tiểu nguyện. Thế nào là tiểu nguyện ? Là cầu cho ḿnh được văng sanh. Nhưng tiểu nguyện th́ không hợp nhân quả, không được văng sanh. Tại sao ? Như đă kể trên, tin Tịnh độ không có già, không bệnh, không chết th́ làm sao có đi đầu thai để trả nợ ? Phật pháp là nói về nhân quả; hễ tạo thiện nhân th́ được thiện quả, tạo ác nhân ắt chịu ác quả, thiện quả tạm gác qua, về ác quả th́ từ nhỏ tới lớn có ăn thịt cá không? Có sát sanh không? Cho dù bắt đầu từ bụng mẹ ra chưa hề đập chết con muỗi, không đạp chết con kiến, thế c̣n có ăn thịt không ? Có ăn cá không ? Nếu có, ăn một miếng thịt phải trả nợ một miếng thịt, ăn một con cá phải trả nợ một con cá, ấy mới hợp với nhân quả. Nếu văng sanh Cực Lạc không trở lại nữa th́ ai đầu thai trả nợ ? Thế là không hợp với nhân quả rồi ! Không hợp nhân quả th́ không phải Phật pháp, nên nói tiểu nguyện không hợp với nhân quả, phải phát đại nguyện.

Đại nguyện như thế nào ? Ví như người thiếu nợ không có tiền trả, hẹn lại kỳ sau : Những nợ mạng nợ thịt mà ḿnh thiếu, nay dù làm việc thiện bố thí cúng dường. đều hồi hướng cho tất cả chúng sanh, nguyện cùng ta sanh Cơi Cực Lạc, c̣n những chúng sanh chưa sanh Cơi Cực Lạc th́ sau khi ta thành Phật rồi sẽ trở về độ hết tất cả chủ nợ, tất cả chúng sanh, ấy mới là đại nguyện, mới hợp nhân quả.

Lại, có hai thứ hạnh khi niệm Phật: Tán tâm niệm Phật và Nhất tâm niệm Phật. " Nhất tâm niệm Phật một câu hơn tán tâm niệm Phật ngàn lần". Thế nào là tán tâm niệm Phật ? Vừa niệm Phật vừa lo đủ thứ việc nhà, việc làm, lo Phật sự, lo ứng phó thí chủ v.v. C̣n Nhất tâm niệm Phật là chỉ biết niệm Phật, ngoài ra không biết đến việc khác.Làm thế nào có thể nhất tâm niệm Phật ?
Ngài Ấn Quang Pháp sư, Tổ thứ mười ba Tông Tịnh Độ Trung Quốc dạy về nhất tâm niệm Phật bằng cách ghi số ( nhớ số ) niệm Phật, từng câu một, từ 1 nhớ đến 10. Ví như niệm một câu "A Di Đà Phật" nhớ là 1. ( chứ chẳng phải niệm thành "A Di Đà Phật 1, A Di Đà Phật 2.) . Vậy từ 1 nhớ đến 10, nếu dài quá nhớ không hết th́ chia thành hai đoạn như từ 1 -5, từ 6 - 10, hoặc chia thành ba : ! -3, 4 -6, 7 - 10. Đến khi nào thuộc ḷng rồi bỏ sự ghi số mà chỉ niệm Phật, đến lúc quen thuộc rồi bốn chữ A Di Đà Phật luôn ở trong tâm, niệm cũng ở trong tâm, không niệm cũng ở trong tâm, ấy gọi là "Niệm mà không niệm, không niệm mà niệm", đạt đến nhất tâm bất loạn vậy.

- Nhưng pháp môn niệm Phật là chấp thật, cần có chữ Tín; tham Thiền là phá chấp thật, cần có sự nghi. Tức là niệm "A Di Đà Phật cần có ḷng tin, c̣n tham câu "Niệm Phật là ai" cần phải nghi. Do đó, nói "Thiền Tịnh song tu" là không được, hễ tu Tịnh Độ phải đúng theo tông chỉ của Tịnh Độ, tham thiền phải theo đúng tông chỉ của Thiền tông, nếu Thiền Tịnh song tu th́ dứt khoát hai cái đều không thành.

Hỏi: Đời mạt pháp nên tu pháp môn nào thích hợp ?
Đáp: Theo lời của Tổ Sư cũng như lời của Phật nói :" Nhất thiết duy tâm tạo", bốn câu kệ trong Kinh Hoa Nghiêm :" Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo". Chánh pháp cũng là duy tâm tạo, mạt pháp cũng là duy tâm tạo, "nhất thiết" bao gồm tất cả pháp, đâu có phân biệt chánh pháp hay mạt pháp ! Do tâm của ḿnh chấp thật thành có. Tổ sư Thiền tông nói "Có thể chuyển mạt pháp thành chánh pháp"; thượng căn, hạ căn cũng do tâm chấp thật thành có phân biệt, nên Tổ sư nói "chuyển hạ căn thành thượng căn".
Nói đến mạt pháp chánh pháp, trước kia chưa mở trí huệ, tôi cũng tin rằng trong mạt pháp con người không tham thiền được v́ không có nhân tài. Nên trước kia tôi hoằng pháp Tịnh Độ, trải qua mười mấy - hai mươi năm, sau đó phát hiện chưa một người nào tu đúng tông chỉ Tịnh Độ, tu c̣n không có, nói chi văng sanh !

* Ngày mùng 2 tháng 4 năm 1977 ÂL, ngài Trụ Tŕ Chùa Từ Ân bảo tôi hoằng pháp Tổ Sư Thiền, ấy chẳng phải ư tôi muốn, tôi đă từng phát nguyện là chưa kiến tánh th́ không thuyết pháp. Trước đó một ngày , tôi được mời cúng dường tại Tịnh Xá Giác Huê ở Quận 5, Ḥa Thượng Trụ Tŕ lúc cúng ngọ tại Chùa Từ Ân tuyên bố với các Phật tử rằng ngày mai sẽ có thầy Duy Lực ra hoằng pháp Tổ Sư Thiền, lúc đó tôi c̣n chưa hay biết. Tối đến, Ḥa Thượng mới thông báo cho tôi biết là sáng ngày Mùng 2 Phật tử đến nghe pháp.
Tôi bất đắc dĩ phải ra hoằng pháp, nhưng c̣n mang một thành kiến rằng Tịnh Độ thích hợp hơn pháp Thiền, nên mỗi ngày tôi đều giảng ba lần về pháp Tịnh Độ. Ngày hôm sau, Ḥa Thượng đến pḥng tôi bảo "Đừng nói pháp Tịnh Độ nữa mà phải giảng về pháp Thiền,Tịnh Độ đă nhiều người hoằng dương rồi nhưng pháp thiền th́ chưa có người nào." Mặc dù vậy, tôi vẫn giảng tiếp pháp môn Tịnh Độ trong vài ngày.

Tôi hoằng pháp Tịnh Độ, vạch rơ đường đi và tăng cường ḷng tin cho Phật tử, kể các sự tích của Cổ Đức và các vị tu trong thời nay để chứng tỏ, nhưng người nghe vẫn không thực hành đúng theo tông chỉ của Tịnh Độ.

Tôi bắt đầu hoằng pháp Tổ Sư Thiền, Phật tử tham thiền trên năm trăm người, mặc dù chúng không hoàn toàn chuyên tu tham thiền, nhưng số tiểu ngộ phát huệ cũng có gần trăm người. So sánh với lúc hoằng Tịnh độ gần hai mươi năm, chưa có một người tu đúng tông chỉ, ngược lại khi hoằng pháp Tổ Sư Thiền từ mấy năm nay, lại có hơn mấy trăm người thực hành và cả trăm người được phát huệ, thông suốt kinh điển, th́ biết pháp nào thù thắng hay không thù thắng, pháp nào thích hợp hay không thích hợp rồi.

Thật ra, thù thắng hay không thù thắng, thích hợp hay không thích hợp, đều lọt vào tứ cú. Nghi t́nh là quét sạch tứ cú th́ có ǵ là thù thắng hay không thù thắng, thích hợp hay không thích hợp ? Hiện nay nhân tài tham thiền rất nhiều, số người tham thiền đă xuất ngoại có mặt ở nhiều nước trên thế giới : Anh, Pháp, Mỹ, Uùc, Canada. Vậy nếu hỏi đến pháp nào thù thắng, pháp nào thích hợp th́ không biết đâu mà nói, tất cả đều do tâm ḿnh, chứ không thể chấp vào lời của Phật, của Tổ.

Nếu chấp vào lời nói, ví như chấp vào tứ cú của Phật: Cú thứ nhất "Có", cú thứ nh́ "Không", cú thứ ba :" Chẳng có chẳng không", cú thứ tư :" Cũng có cũng không". Mà ư Phật là muốn ḿnh ĺa tứ cú; hễ chấp "Có" th́ Phật nói "Không" để phá chấp, hễ chấp "không" th́ Phật nói "Có" để phá chấp của chúng sanh. Lúc Phật nói "Có" ư Phật chẳng phải là có, lúc nói "Không" ư của Phật chẳng phải không, nếu chấp vào lời nói là nghịch với ư, nên Tổ Sư Thiền tông thí dụ như "con chó và con sư tử" :

Có người liệng ra một cục xương, con chó liền đuổi theo cục xương, c̣n sư tử chẳng màng đến cục xương mà cắn ngay người đó. Con người dụ cho Tự tánh, cục xương dụ cho lời nói của Phật, của Tổ; hễ hướng về lời nói của Phật, Tổ mà ngộ ấy là con chó,hướng về Tự tánh mà ngộ mới là sư tử. Phật muốn ḿnh làm con sư tử chứ không muốn ḿnh là con chó, chớ nên đuổi theo lời mà chấp là thật. Lời nói ấy là khai thị cho người ngộ vào tự tánh, trong Kinh Pháp Hoa nói " Khai thị ngộ nhập tri kiến Phật", khai thị đó chẳng phải để ngộ nhập cái khai thị, mà là nhờ khai thị ngộ nhập tự tánh của ḿnh. Thế th́ không cần phân biệt thù thắng hay chẳng thù thắng, thích hợp hay chẳng thích hợp, tất cả đều do tâm của ḿnh, do ḷng tin của ḿnh vậy.

Hỏi: Tham Thiền kiếp này chưa kiến tánh, khi chết rồi đi về đâu ?

Đáp: Đức Phật nói "Nếu người giữ được ngũ giới th́ không mất thân người," tức kiếp sau sẽ đầu thai thành người, khỏi bị đọa vào tam ác đạo. Kiếp này ḿnh tŕ ngũ giới, mặc dù chưa ngộ, kiếp sau đầu thai thành người, tiếp tục tham nữa, bởi cái nhân cách ấm cũng chẳng thể mất được. V́ Trí Bát Nhă của ḿnh trong A Lại Da thức được chứa trong kho không mất, đợi khi nào khởi lên vận hành rồi chủng tử mới mất, nếu chưa vận hành cứ giữ măi trong kho Tạng thức, dù trải qua muôn ngàn kiếp cũng không mất.

Kiếp này tham Thiền ví như đi đường từ Chợ Lớn ra Sài G̣n gồm một trăm bước, hễ đi được một bước th́ c̣n lại chín mươi chín bước, đi hai bước c̣n chín mươi tám bước, đi ba bước chín mươi bảy bước.Hễ đi được ba bước chết đi , kiếp sau bắt đầu từ bước thứ chín mươi bảy, hễ đi được năm mươi bước chết đi th́ kiếp sau đi thêm năm mươi bước nữa, chứ không cần bắt đầu lại một trăm bước. Nay chúng ta c̣n sống th́ cứ tham măi, khỏi cần lo cho việc chết, nếu cứ lo cho việc chết , chẳng những kiếp này không được tiến bộ, cũng khó được kiến tánh.

Nhiều người cho rằng "Ḿnh nghiệp chướng nặng quá làm sao kiến tánh?" Kỳ thật nghiệp chướng cũng là do tâm tạo, chứ có ai cho ḿnh đâu ! Ngài Vĩnh Gia trong bài Chứng Đạo Ca nói :" Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không", Liễu tức liễu ngộ tự tánh. Trong lúc chiêm bao, phạm tội bị chính phủ trong chiêm bao bắt ở tù, chịu đủ thứ khổ, đến lúc thức tỉnh rồi t́m chính phủ trong chiêm bao ở đâu ? Đủ thứ khổ trong chiêm bao, kể cả thân trong chiêm bao ở đâu ?

Như tôi thường nói, hai thứ nhắm mắt chiêm bao và mở mắt chiêm bao ; nhắm mắt chiêm bao ngủ đến sáng là hết, c̣n mở mắt chiêm bao phải đợi kiến tánh mới thức tỉnh được, mới hết. Chớ có nói do nghiệp chướng nặng, nói chẳng kiến tánh được, ấy là tâm ḿnh tự bó buộc ḿnh. Ví như trong kinh Phật nói người nữ có năm thứ chướng, chẳng được làm cái này cái kia. Cũng chính lời Phật phá năm thứ chướng này trong Kinh Pháp Hoa, có phẩm kể về Long Nữ thành Phật, chẳng những là nữ c̣n thuộc hàng súc sinh nữa !

Nên biết, lời nói của Phật chẳng thể chấp thật, mà chỉ để phá chấp thật của ḿnh thôi. Người nào cũng có thể thành Phật, chỉ cần quyết tử dụng công phu, bất kể là nam hay nữ, già hay trẻ, thông minh hay ngu si v.v. đều có thể thành Phật. Chớ có nói rằng "ngày nay tham thiền mai chết sẽ ra sao", chớ có lo cho chết sẽ đi về đâu, hạt giống thành Phật đă gieo th́ ắt có ngày thành Phật.

Hỏi: Nhiều người nghĩ rằng "Niệm Phật nếu ḿnh vẫn c̣n nghiệp chướng , khi văng sanh tiếp tục nhờ tha lực tiếp dẫn", c̣n Thiền tông phải tự lực, hễ tự lực yếu th́ kiếp sau dẫu được làm người, làm quan, có địa vị nhưng mê muội, phải lăn lóc trong ḍng đời th́ bao nhiêu công sức của kiếp trước bỏ hết sao ?

Đáp: Không đúng. Phật pháp nói là nhân duyên, ví như trong kinh Pháp Bảo Đàn, ngài Lục Tổ nói : "Quí vị được nghe tôi thuyết pháp, ấy là nhân duyên đă được gieo trồng từ bao nhiêu kiếp". Đă có nhân duyên rồi th́ nhân duyên ấy làm sao mất được ! Nếu có mất là không đúng nhân quả. Lời của Sư bà vừa hỏi là lời nói bên Tịnh Độ, hễ chuyên về pháp mônTịnh Độ th́ lời nói cũng hướng về pháp môn ấy.

Phật thuyết đủ thứ kinh, ở kinh này th́ tán thán hạnh của kinh này hạng nhất, ở quyển kinh kia th́ tán thán hạnh của kinh kia hạng nhất, kết quả là kinh nào thù thắng ? Ư của Phật là muốn chúng ta nhất môn thâm nhập, nên nói những lời phương tiện ấy. Như tôi vừa nói ở trên, về một phương diện khác, Phật nói người nữ có năm thứ chướng, nhưng ở kinh Đại thừa liễu nghĩa như Kinh Pháp Hoa th́ Phật lại phá năm thứ chướng của người nữ.

Về vấn đề tự lực và tha lực : Nếu có TỰ và THA chẳng phải pháp bất nhị của Tự tánh; Tự tánh bất nhị làm sao có tự và tha, mà nói là có tha lực để nhờ ! Nếu có tha lực để nhờ th́ Phật Thích Ca đă thành Phật, A Nan là em trai của ngài, ắt có thể nhờ Phật lực của người anh mà thành Phật sao ! ( Kinh Lăng Nghiêm ). A Nan là em của Phật cũng chẳng thể nhờ, La Hầu La là con của Phật cũng chẳng thể nhờ, kể cả cha mẹ của Phật cũng chẳng thể nhờ th́ tha lực làm sao nhờ được !

Bởi do tâm chấp thật của người tu Tịnh Độ rất nặng, Đức Phật chẳng thể nào khiến bỏ chấp được, nên phải tùy thuận chúng sanh: Tất cả mười pháp giới nếu chấp vào đó th́ chi bằng tạm thời cho chấp vào Phật, tạo nhân duyên cho sanh cơi Tây Phương rồi, do hoàn cảnh khiến buông bỏ tập khí xong, chuyển qua tham Thiền mới có thể kiến tánh thành Phật . Bây giờ do tâm chấp quá nặng, nếu không tạm cho chấp thật th́ chẳng có phương tiện cứu độ. Phật cứu độ chúng sanh không bỏ sót chúng sanh nào, mặc dù bệnh chấp quá nặng, nên mới có pháp môn Tịnh Độ.

Nếu có thể bỏ được bệnh chấp ngay kiếp này th́ đâu cần đợi đến kiếp sau ! kiếp này thành Phật có phải hơn không ? Ví như nói " Hạ phẩm hạ sanh", sau khi chết phải trải qua mười hai đại kiếp mới có thể ra khỏi, một đại kiếp biết phải trải qua thời gian bao lâu không ? Nếu có thể ngay trong kiếp này , trải qua mấy mươi năm được thành Phật th́ hay biết bao !

Hỏi: Thế nào là đuổi theo lời nói ?

Đáp: Kinh Lăng Nghiêm nói "Tri giác năi chúng sanh", nghĩa là sự biết của ḿnh là chúng sanh. Căn bản của vô minh là tri giác (tri kiến), nên đối với người tham thiền, tri cũng là vọng, vô tri cũng là vọng, phải quét sạch, bởi v́ vô tri cũng là tri. Tại sao vô tri cũng là tri ? Nếu thật sự vô tri th́ ai biết vô tri ? Đă biết vô tri th́ vô tri cũng là biết, là tri rồi.

Hỏi: Vĩnh Gia Đại sư nói là phá ngă chấp và pháp chấp, vậy phàm phu cũng phá ngă chấp và pháp chấp, tại sao không được kiến tánh ?

Đáp: Tôi nói nghi t́nh là cây chổi automatic, hễ khởi niệm "phá" cũng lọt vào tứ cú, khởi niệm "Không phá" cũng lọt vào tứ cú. Phá là lọt vào cú thứ nhất, "không phá" lọt vào cú thứ hai, tại ông có tâm chấp mới đuổi theo lời nói, hễ tôi giải thích lời này th́ ông bắt theo lời kia để hỏi, vậy kiếp này hỏi đến kiếp kia cũng sẽ không hết. Như tôi đă ví dụ "Con chó và con sư tử", lời nói của Tổ, của Phật nếu hướng vào đó đuổi theo là con chó; nếu hướng về Tự tánh mà ngộ mới là con sư tử. Hễ cứ đuổi theo lời nói th́ không bao giờ dứt được, chỉ có tham thiền khởi nghi t́nh, đến khi ngộ vào tự tánh th́ không cần hỏi nữa.

Hỏi: Làm sao phân biệt Chơn nghi và hồ nghi?
Đáp: Trước đời nhà Tống, người tham thiền tự phát nghi mà không biết ấy là nghi, hễ khởi nghi mà tự chẳng biết ḿnh đang tham Thiền th́ sức nghi mạnh, nên thủ đoạn của Tổ sư hay khiến người tham nghi t́nh nặng, mau ngộ. Sau đời nhà Tống, thủ đoạn của Tổ được kể ra, khiến không c̣n công hiệu, muốn phát nghi phải bắt buộc tham công án hay thoại đầu, đưa vào sự bó buộc để phát nghi th́ sự nghi đó yếu .

- Ví như Đạo Lâm Thiền sư có một thị giả tên Hội Thông, ở với Sư nhiều năm chẳng được khai thị, trong tâm rất bức bách, tự nghĩ "đến đây học đạo gần mười năm mà chẳng được khai thị điều ǵ, cứ một năm qua rồi một năm như thế làm sao kiến tánh được !" Nghi t́nh rất nặng, rồi đến xin từ giả Sư, rằng :" Con xuất gia là muốn học đạo, đến đây mấy năm thầy chẳng dạy bảo th́ làm sao con kiến tánh được ? Nay con xin đi nơi khác để học".
Sư nói: " Nếu nói về thiền th́ ở đây thầy cũng có một ít."
Hỏi:" Là cái ǵ ? Xin thầy khai thị."

Sư nhổ một sợi lông trên tà áo dài đang mặc, đem thổi trước mặt Hội Thông, Thông liền ngộ. V́ lúc đó nghi t́nh đă chín mùi .
Ngài Sùng Tín ở dưới Long Đàm : Thầy của ngài là Đạo Ngộ Thiền sư. Ngài ở nơi Đạo Ngộ mấy năm chẳng được dạy bảo, trong tâm rất nghi, cũng muốn từ giă đi nơi khác, bạch với thầy :
- "Con ở đây nhiều năm nhưng không được thầy khai thị, nay con xin đi chỗ khác."

Thầy bảo:" Sao nói không có khai thị ? Con bới cơm th́ thầy ăn, rót trà th́ thầy uống !" Sùng Tín ngay đó kiến tánh. Ấy là do nghi t́nh sâu nặng từ mấy năm mà tự chẳng hay biết, nói bể ra là kiến tánh liền.
Ngài Lâm Tế ở dưới Tổ sư Huỳnh bá mấy năm, Lâm Tế không có hỏi pháp, làm viiệc ǵ đều đúng qui củ, đều tốt. Lúc ấy ngài Mục Châu làm Thủ tọa, thấy Lâm Tế là một pháp khí, một ngày kia hỏi Lâm Tế :" Đến đây bao lâu rồi ?"
    Đáp:" Ba năm".

Hỏi: " Đă đến hỏi pháp Ḥa thượng chưa ?"
 " Không hỏi ".
    Hỏi:" Tại sao không đi hỏi ?"

Đáp:"Không biết hỏi ǵ."
- " Sao không hỏi đại ư của Phật pháp là ǵ ?"
Lâm Tế vâng lời, đến Trượng thất hỏi ngài Huỳnh Bá :" Thế nào là đại ư của Phật pháp ?" Hỏi chưa dứt câu,liền bị Huỳnh Bá đánh đập đuổi ra mà chẳng hiểu tại sao đi hỏi pháp lại bị đuổi ra ? Trong tâm phát khởi nghi t́nh nặng. Gặp lại Thủ tọa, Thủ tọa hỏi thăm, đáp :" Tôi hỏi chưa dứt câu đă bị đánh đập đuổi ra rồi ."

Thủ tọa nói :" Thế th́ hăy đi hỏi một lần nữa !"

Lâm Tế nói :"Thôi thôi.", Thủ tọa cứ giục đi hỏi một lần nữa, kỳ này chắc chắn là sẽ thay đổi. Do nể Thủ tọa nên Lâm Tế vâng lời đi hỏi thêm một lần, y như cũ, câu hỏi chưa dứt đă bị đánh đập đuổi ra, khiến nghi t́nh càng thêm nặng.

Ngài Thủ tọa lại cứ giục đi hỏi lần thứ ba, rằng :" Việc ǵ cũng phải ba lần mới xong". V́ thường ngày vị Thủ tọa đối xữ với Lâm Tế rất tốt, nên bất đắc dĩ đi hỏi lần thứ ba, vẫn bị đánh đập đuổi ra. Trong bụng Lâm Tế rất nghi, hỏi pháp là việc đúng đắn, chẳng hiểu tại sao bị thầy đuổi ?! Bèn đến pḥng của Thủ tọa từ giă xin đi nơi khác.

Thủ tọa nói :" Muốn đi cũng được, nhưng phải đến từ giă Ḥa Thượng."

Lâm Tế đến từ giă, Huỳnh Bá bảo đi đến Cao An Thang gặp Đại Ngu Thiền Sư. Khi gặp Đại Ngu, hỏi :" Từ đâu đến ?"

Đáp: Từ Huỳnh Bá.

Hỏi:" Ngài có dạy bảo không ?

Lâm Tế kể ra ba lần hỏi pháp đều bị đánh đuổi mà chẳng hiểu tại sao; Đại Ngu nói : "Huỳnh bá đă v́ người phát tâm đại từ bi, thế mà ngươi c̣n nói có lỗi, lỗi ở chỗ nào ?"

Lâm tế ngay đó đại ngộ, nói :" Hóa ra Phật pháp ở chỗ Huỳnh Bá không nhiều!"
Sau khi ngộ thấu tam quan, lập tức trở về nơi Huỳnh Bá, thuật lại những lời của Đại Ngu, Huỳnh Bá nói :" Sao Đại Ngu lắm chuyện thế ! Sau này phải cho ăn đ̣n mới được."

Lâm Tế nói :" Khỏi đợi sau này, phải đánh ngay bây giờ !" Liền đánh Huỳnh Bá hai bạt tai, Huỳnh Bá biết Lâm Tế đă ngộ triệt để, cười ha hả bỏ qua. Trước kia là thầy đánh tṛ, nay bị tṛ đánh lại.

Hỏi: Việc "Truy cứu ba lớp" của Lai Quả Thiền sư như thế nào ?

Đáp: Tham thoại đầu hỏi "Niệm Phật là ai" chỉ là truy cứu một lớp mà thôi. Nếu c̣n hỏi thêm "Người đang tham câu niệm Phật là ai ấy là ai ? Lại hỏi thêm " Người biết tham câu Niệm Phật là ai ấy là ai ? Là ai ? Ấy là truy cứu hai - ba lớp , làm cho thức tâm đi truy t́m th́ không phải là tham Thiền, chỉ là hồ nghi. Chánh nghi chỉ cho tâm không hiểu chứ không cho tâm đi t́m, chỉ hỏi " Niệm Phật là ai? ", không hiểu không biết, chỉ truy cứu một lớp.

Hỏi: Thế nào là khi kiến tánh th́ hư không tan ră ?

Đáp: Nói đến vấn đề này, phải biết ba thứ :Không gian, thời gian, số lượng là ǵ. Vũ trụ vạn vật, hiện tượng thế giới hễ kiến lập danh, phải dựa trên ba thứ này, nếu rút ra ba thứ trên th́ vũ trụ vạn vật liền tiêu diệt. Nhưng ba thứ này là cái ǵ ? __Chẳng phải là ǵ cả, v́ không có bản thể: Không gian vốn chẳng có bản thể, thời gian, số lượng cũng vậy. Ba thứ này chỉ là ba khái niệm ở trong vọng tâm của ḿnh, chúng ta đều bị ba khái niệm trói buộc. Người kiến tánh đập bể hư không chính là đập bể khái niệm không gian, xóa bỏ được khái niệm không gian, nên nói "Hư không tan ră", chẳng bị không gian trói buộc.

Trong Kinh Kim Cang nói "Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc" tức đập bể thời gian, xóa bỏ khái niệm thời gian, chẳng bị thời gian trói buộc.

Tổ Sư nói : "Nhất niệm vạn niên, vạn niên nhất niệm" tức đập bể khái niệm về số lượng. " Pháp thân vô vi, bất đọa chư số" cũng là đập bể khái niệm về số lượng. Nếu ba khái niệm trên được xóa bỏ hết, tan ră hết th́ được tự do tự tại, nên nói người kiến tánh đập bể hư không vậy.

Hỏi: Sự thấy của Phật và sự thấy của chúng sanh khác nhau như thế nào ?

Đáp: Trong Kinh Niết Bàn có nói đến vấn đề "Điên đảo tưởng": Ngài Ca Diếp hỏi Phật : "Tại sao bậc Thánh có điên đảo tưởng mà không có phiền năo, phàm phu có điên đảo tưởng nhưng lại có phiền năo ?"

Phật bảo :" Sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng ?"

Ca Diếp nói :" Bậc Thánh thấy con trâu cũng gọi là trâu, thấy con ngựa cũng gọi là ngựa, vậy chẳng phải điên đảo tưởng ư !"

Phật bảo :" Tưởng có hai thứ: Một là thế lưu bố tưởng, tức thế gian đă phổ biến lưu hành; hai là trước tưởng, tức tư tưởng chấp trước. Phàm phu ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, nên gọi là điên đảo tưởng. Bậc Thánh chỉ có thế lưu bố tưởng , không có trước tưởng; thế gian gọi con trâu th́ bậc Thánh cũng gọi theo nhưng không chấp thật là con trâu. Không có tư tưởng chấp thật nên không có phiền năo, chứ chẳng phải bậc Thánh có điên đảo tưởng ."

Nay chúng ta đối với không gian, thời gian, số lượng vốn chẳng có thật mà chấp cho là thật, ấy là điên đảo tưởng, sanh ra đủ thứ phiền năo, bậc Thánh đă đập bể hết nên tự do tự tại, chẳng có phiền năo.

Hỏi: Sư phụ nói "Quét trống được bao nhiêu th́ sự dụng hiện ra được bấy nhiêu, quét đến cực điểm th́ thành Phật, quét từ từ sự dụng hiện ra từ từ", vậy có giống bên Giáo môn không ?

Đáp: Giáo môn chia thành từng cấp bậc, có năm mươi bảy cấp. Sự QUÉT của Tổ Sư Thiền là cây chổi automatic, quét trống được bao nhiêu th́ sự dụng hiện ra bấy nhiêu, nhưng không chia ra từng cấp. Ví dụ một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, ấy là do con người đem thời gian chia thành hai mươi bốn tiếng chứ thời gian làm sao có hai mươi bốn tiếng ! Hễ có một phút thời gian th́ sống trong một phút , có hai phút là sống trong hai phút , mỗi phút thời gian đều có cái dụng nhưng chẳng thể chia ra từng cấp. Tổ Sư Thiền không chia theo cấp bậc, c̣n sự chứng của Giáo môn có chia theo từng cấp : Sơ địa có quả của Sơ địa v.v.

Hỏi: Vấn đề HÔN TRẦM làm sao đối trị ?

Đáp: Người tham Thiền ai cũng phải trải qua giai đoạn hôn trầm, bởi v́ buồn ngủ là nằm trong ngũ dục. Tài, sắc, danh, thực là dục, nhưng ngủ tại sao lại thuộc về dục ? Thật tế th́ tài, sắc, danh, thực thuộc ngoài thân, dễ đối trị, c̣n buồn ngủ thuộc trong thân, rất khó trị, nên Cổ Đức gọi là "ma" ( thùy ma). Đến giai đoạn này rồi ḿnh phải quyết tử, ráng thức, lấy nước lạnh rửa mặt cho thức giấc. Hễ c̣n buồn ngủ nữa phải đi kinh hành, đi kiếm việc ǵ làm, vừa làm vừa tham, chớ có bỏ qua thoại đầu.

Hỏi: Xin Sư phụ nói qua VẤN ĐỀ BỐ TÁT.

Đáp: Bố Tát là qui định của giới luật, nếu người xuất gia không bố tát dễ vi phạm giới luật. Khi Đức Phật sắp nhập Niết Bàn, môn đồ hỏi Phật " Sau khi Phật nhập diệt, lấy ǵ làm thầy?" Phật trả lời là "Lấy giới luật làm thầy". Cho nên, bất cứ tông phái nào cũng phải hành theo giới luật, chẳng được vi phạm.

Muốn giữ giới phải Bố tát, chẳng phải có năm - ba người mới bố tát, một người cũng phải bố tát. Hễ một người th́ tự tụng tự nghe, năm người th́ một người tụng bốn người nghe; ba người th́ một người tụng hai người nghe, một trăm người cũng vậy.

* Bố tát theo luật xuất gia là rất cần, chẳng những tụng giới, trước khi tụng, vị Yết-Ma hỏi chúng ba lần : Vị nào trong nữa tháng này có phạm giới th́ phải tự ḿnh đứng ra phát lồ sám hối". Hỏi ba lần và không ai đứng ra tức cả chúng đều giữ giới trong sạch; phải giữ giới trong sạch rồi mới được tụng giới, nếu có người nào giữ giới không trong sạch th́ không được tụng.

* Vị Yết-Ma thường phải hỏi ba lần, tụng một lần, tức bốn lần. Do giới luật rất nhiều nên phải nữa tháng tụng một lần để nhắc nhở. Vào thời Phật th́ thọ giới, tŕ giới luôn trong ngày Bố tát, ở Trung Quốc đời sau này, Đạo Tuyên Luật sư lập ra Luật tông, bất kể tông phái nào đều phải lấy giới luật làm căn bản, ai ai cũng phải giữ giới; người Tỳ Kheo phải tu mười năm mới được xa thầy, trong mười năm phải học hai bộ luật Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni. C̣n Tỳ Kheo Ni phải học mười hai năm mới được xa thầy. V́ Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni gọi là "Nhơn thiên sư biểu", là bậc thầy của Trời, người, là Tăng bảo. Nếu trong Tam bảo có Phật bảo, Pháp bảo mà thiếu Tăng bảo th́ làm sao giáo hóa chúng sanh ? Phật pháp ắt phải bị tiêu diệt vậy. Muốn Tam bảo thường trụ thế gian, chắc chắn phải giữ giới luật.

* Về Tổ Sư Thiền, ngài Bác Sơn Thiền sư là người kiến tánh dưới Tào Động Tông, làm Tổ của Thiền Tông và Luật Tông, Thiền với Luật đi song song chứ chẳng phải tu thiền mà bỏ luật. Thời gần đây th́ có Hư Vân Thiền sư và Lai Quả Thiền sư, cũng là vị giữ giới rất nghiêm túc. Tổ Đức Sơn có cây "Đức Sơn Bảng" rất nổi tiếng, người đến hỏi pháp chưa mở miệng đă bị gậy đánh lên đầu. Ngài có tiếng là vị mắng Phật mắng Tổ, nhưng giữ giới th́ chưa ai bằng. Sở dĩ có mắng Phật mắng Tổ là do người chấp vào Phật th́ mắng Phật, chấp vào Tổ th́ mắng Tổ để phá chấp chứ chẳng phải thật sự mắng Phật mắng Tổ. Nên nói bất cứ pháp môn nào đều phải lấy giới luật làm căn bản, không thể ĺa bỏ. Hễ lấy giới luật làm căn bản th́ tất nhiên chẳng nối pháp ṭng lâm cũng có thể hưng thịnh .

* Có người nói giữ giới và tŕ giới có hai cấp: Cấp phổ thông là giữ giới luật, cấp thứ nh́ là Thiền giới, cũng gọi là Định-Cộng-Giới. Sao gọi Thiền giới ? Ví như tham Thiền, khởi lên nghi t́nh hai mươi bốn giờ chẳng gián đoạn, vọng tưởng nổi lên không được, không tŕ không phạm, gọi là Thiền giới . Nếu công phu chưa đến đó, c̣n một giây phút gián đoạn , chính giây phút đó có thể phạm giới, chẳng được gọi là tŕ giới. Thế th́ làm sao nói " Khỏi Bố Tát" !

Hỏi: Xin Sư Phụ giảng về CÁCH THỰC HÀNH THAM TỒ SƯ THIỀN.

Đáp: Trước nhất phải biết ngồi thiền chẳng phải tham thiền, tham thiền chẳng cần ngồi. Nhiều người lầm tưởng ngồi thiền tức tham thiền, kỳ thật chẳng phải; bất cứ lúc nào cũng phải tham: Đi đứng nằm ngồi, đang làm công việc tay chân, sử dụng bộ năo, đang ăn cơm, đi cầu, ngủ mê cũng phải tham. Chư Tổ ở Ấn Độ trên h́nh ảnh có đủ thứ cách ngồi, không nhất định phải ngồi Kiết già.

* Nhưng phải tham như thế nào ? Chữ THAM là nghi, nghi tức không hiểu. Một việc ǵ đă thấu hiểu rồi th́ hết nghi; tâm suy nghĩ giải thích câu thoại đầu, cho ra một câu đáp án ấy là hồ nghi, chẳng phải chánh nghi. Chánh nghi là chỉ cho tâm nghi, không cho tâm đi t́m hiểu, không cho tâm đi giải thích đáp án. Chánh nghi mới là tham thiền, hồ nghi chẳng phải tham thiền.

* Tham Thiền rất chú trọng đến nghi, chỉ cần có nghi t́nh, ngoài ra không cần biết đến tất cả. Các pháp tu khác hay trừ vọng tưởng hoặc buông bỏ vọng tưởng, tham Tổ Sư Thiền không cho trừ vọng tưởng, không được đè nén vọng tưởng, không được buông bỏ vọng tưởng, vọng tưởng nỗi lên bao nhiêu cũng mặc kệ, không biết tới. Vậy th́ phải làm sao ? Chỉ cần đề câu thoại đầu khởi lên nghi t́nh th́ chính nghi t́nh đó là cây chổi automatic để quét sạch tất cả, có vọng tưởng cũng quét, không có vọng tưởng cũng quét, khỏi cần tác ư.

* LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHỞI LÊN NGHI T̀NH ? Phải nh́n vào câu thoại đầu. Ngài Hư Vân nói " Thoại đầu là cây gậy", như người đi đường nhờ cây gậy để đi, tham thiền nhờ câu thoại đầu làm cây gậy để đi.

Tham thoại đầu cũng gọi là khán thoại đầu, thoại đầu th́ rất nhiều, muôn muôn ngàn ngàn, ở đây chỉ đề ra năm câu thoại đầu, mỗi người tự chọn một câu khó hiểu nhất, cảm thấy không hiểu nỗi th́ câu đó thích hợp cho ḿnh tham. Năm câu thoại đầu gồm :

1/ Khi chưa có trời đất ta là cái ǵ ?

2/ Trước khi cha mẹ chưa sanh, mặt mũi bản lai của ta như thế nào ?

3/ Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái ǵ ?

4/ Vạn pháp qui một, một qui chỗ nào ?

5/ Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ?
Năm câu thoại đầu chỉ được chọn một câu khó hiểu nhất, tham đến kiến tánh thành Phật mới thôi, không cho lựa hai câu, cũng không được đổi qua đổi lại, phải ôm chặt lấy một câu thoại đầu tham đến cùng. Hỏi thầm trong bụng "Khi chưa có trời đất ta là cái ǵ ?" Có hỏi th́ có đáp, không hiểu th́ đáp không ra, thắc mắc không hiểu tức đă phát khởi nghi t́nh, Hỏi lần thứ nhất, đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ hai, vẫn đáp không ra, hỏi tiếp lần thứ ba. cứ hỏi tiếp hoài , ngày đêm chẳng ngừng, gọi là miên mật. Tham thiền cần có sự miên mật, miên là kéo dài, mật là không có kẽ hở, liên tiếp không có kẽ hở, không cho gián đoạn, miên mật măi mới thành khối.
* Tham thiền chú trọng đến cái không hiểu, việc thế gian muốn hiểu th́ khó, không hiểu th́ dễ, nên bà già 80 - 90 tuổi vẫn tham được; trẻ con 3 - 4 tuổi cũng tham được, chỉ cần một cái không hiểu là được.

* Tham thiền nghi t́nh nặng, không hiểu nhiều, có thể ảnh hưởng đến nhức đầu, tức ngực, khó thở, ấy th́ nhức chừng nào tốt chừng nấy, mặc dù lúc đó cảm thấy rất khó chịu nhưng phải ráng, v́ đó là t́nh h́nh tốt, phải có tâm quyết tử mới có thể kiến tánh, cứ dũng mănh tiến tới, chớ có sợ. V́ t́nh trạng đó chỉ kéo dài từ năm - bảy ngày sẽ hết. Nhưng nếu khi ngồi thiền có t́nh trạng nhức đầu tức ngực khó thở th́ không được, phải mau đứng dậy đi kinh hành hoặc kiếm việc khác làm.

* THAM THIỀN KHÔNG PHÂN BIỆT TƯ CÁCH : Theo Phật pháp th́ từ Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa cho đến Tối Thượng thừa, thuộc về chánh pháp luôn phải phá ngă chấp; nếu không phá ngă chấp th́ chẳng thể ra khỏi sanh tử luân hồi.

* Căn bản của người tham thiền là PHÁ NGĂ CHẤP, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ SỢ, phải luôn luôn nhớ lấy. Hễ có sở đắc là c̣n chấp ngă, có sở cầu là c̣n chấp ngă, có sở sợ là c̣n chấp ngă, nên phải luôn nhớ chín chữ VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ để phá. Tâm Kinh nói "Vô trí diệc vô đắc", chẳng những Thiền tông, các pháp môn khác cũng vậy.

* Thông thường, người ta nói đến "Tŕ kinh", lầm tưởng tụng kinh tức tŕ kinh, ấy là sai lầm. Tŕ là phải hành tŕ, nếu chỉ có tụng niệm , ấy là tụng niệm chứ chẳng phải tŕ kinh. Nay chúng ta tham thiền tức tŕ kinh. Tham Thiền là cây chổi automatic để tŕ kinh, tham thiền là đúng theo ư chỉ của Bát Nhă Tâm Kinh.

* Người thường cho rằng tham thiền phải thượng căn thượng trí mới có thể tham được, sự thật từ lịch đại Tổ Sư cho đến đời Măn Thanh, đă có bảy ngàn Tổ, vị Tổ nào cũng nói " Ai cũng có thể tham được", bất cứ già trẻ, nam nữ, thông minh, dốt nát, khờ ngốc v.v. Trong Truyền Đăng Lục, nhiều người khờ ngốc vẫn được kiến tánh, th́ tại sao mọi người cứ cho tham thiền là khó ? Tại không chịu thực hành, không có tham thiền mà chỉ nghe những người ham tạo tội địa ngục, chẳng biết Tổ Sư Thiền là ǵ, cứ lấy ư ḿnh đoán, hễ thấy người ta ngồi thiền tưởng là tham thiền, nói là dễ tẩu hỏa nhập ma, ấy là sai lầm.

* Những người không biết về thiền mà phê b́nh thiền, tạo tội địa ngục rất nặng. Theo ngài Lai Quả Thiền sư trong Ngữ Lục của ngài nói :" Nếu phỉ báng thiền mà tự chướng ngại không dám tham thiền, phải đọa địa ngục Vô-Gián ( Địa ngục A-Tỳ ) một đại kiếp; hễ phỉ báng thiền làm chướng ngại người khác không dám tham thiền th́ phải đọa địa ngục Vô gián bốn đại kiếp, chứ chẳng phải nói chơi vậy". Nhiều người không biết, lấy ư ḿnh nói đại, thật đáng thương xót.
* Tại sao chỉ chướng ngại ḿnh chứ chẳng phải chướng ngại người khác mà phải đọa địa ngục một đại kiếp ? Theo Lai Quả Thiền sư nói, tất cả Phật quá khứ, Phật vị lai đều do tham thiền mà thành Phật; hễ một người kiến tánh thành Phật sẽ độ vô lượng vô biên chúng sanh. Nay do ḿnh phỉ báng thiền , chẳng được thành Phật, khiến vô lượng vô biên chúng sanh không được giải thoát, ấy là lổi tại ḿnh, nên có tội nặng như thế. Cho nên, phỉ báng thiền tạo tội rất nặng; theo tội thế gian chỉ một đền một, ví như đă cắt cổ một trăm con gà, ăn thịt một trăm con gà ấy, bất quá làm con gà một trăm đời để người khác cắt cổ, ăn thịt rồi là hết.C̣n phỉ báng Phật pháp th́ tội gấp muôn triệu ngàn lần, trong địa ngục A Tỳ hết đại kiếp này đến đại kiếp khác, thậm chí thế giới này hoại rồi phải dời đến thế giới khác để chịu tội. Thế nên, hễ ḿnh không biết th́ chớ nên phỉ báng, nói là có hại.

 

          Duy Lực Ngữ Lục                                            Thực Hiện: Minh Diệu Thiện