Duy Lực Ngữ Lục

PHẦN 1 (CUỐN 1 - 10)

Phẩm 1 Phần 5

Hỏi: Trong cuốn " Thiền Đạo Tu Tập" của ông Trương Trừng Cơ nói rằng Phái Tào Động là Mặc Chiếu, phải không?

Đáp: Trương Trừng Cơ là người tu theo Mật Tông, chẳng có thực hành Tổ Sư Thiền, chỉ nghiên cứu sách Thiền mà tự cho Tào Động Tông là Mặc Chiếu. Ông ấy cũng biết hễ có lư luận là nghịch với ư chỉ Tổ Sư Thiền, nhưng cũng bất giác lập ra lư luận đặc biệt về Tổ Sư Thiền, chia công án thành bốn loại, ấy là tại tác giả chẳng biết về Tổ Sư Thiền, chẳng thực hành Tổ Sư Thiền, tự lấy ư ḿnh suy ra tưởng là đúng. Người tham thiền chẳng thể căn cứ vào đó mà phải căn cứ Tổ Sư kiến tánh. Quyển "Lá Thư Thiền" của Ngài Đại Huệ nói " Mặc Chiếu là Tà Thiền".

Hỏi: Thế nào là Năm tông bảy phái?

Đáp: Thiền tông là một, tại sao lại chia thành năm tông bảy phái? Ấy là do thủ đoạn của Tổ Sư có khác biệt.Ví như bảy người có bảy món ăn đặc biệt , ông A là món canh chua, ông B th́ món xào, Ông C th́ món hầm v.v... Mỗi người một món đặc biệt ngon, mặc dù món ăn đó sáu người khác vẫn làm được nhưng không ngon bằng. Người thích món canh chua phải đến chổ ông A, người thích món xào đến ông B, hễ người thích món xào mà đến với ông A th́ giới thiệu ngay đến ông B... Tùy theo căn cơ, sở thích của người tu nên chia thành năm tông bảy phái. Đến khi Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ra đời, thủ đoạn của Tổ Sư chẳng xài ra được nữa.

Hỏi: Chẳng có vọng tưởng cũng chẳng chấp không, có phải là ư của " Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" không?

Đáp: ƯNG VÔ SỞ TRỤ là giữ cái hoạt bát vạn năng của Tự tánh, NHI SANH KỲ TÂM là dụng của Tự tánh xài ra. Tôi thường lấy cánh tay để thí dụ: Sự dụng của tay hoạt bát vạn năng, lấy ǵ cũng được, hễ có sở trụ, chấp vào một vật ǵ th́ đánh mất tánh hoạt bát vạn năng của tay, nên chư Phật chư Tổ dạy phải quét đi, khôi phục lại tánh hoạt bát vạn năng. Chấp vào một vật là Có, hay chấp vào cái Không, cũng là đánh mất sự hoạt bát vạn năng, nên cái không ấy cũng phải quét. Nếu chẳng có vọng tưởng cũng chẳng chấp không th́ cái " chẳng có vọng tưởng" ấy có biết không?

Hỏi: Thế nào là "Nhập lưu vong sở"?

Đáp: Kinh Lăng Nghiêm quyển sáu :" Từ văn tư tu, nhập Tam Ma Địa". Lúc đầu ở trong cái nghe nhập lưu vong sở, hễ có cái năng nghe th́ có sở nghe. Thế nào là nhập lưu ? Không có sở nhập mới là nhập lưu. Nhĩ căn trong lục căn là nghe, nếu nghe ở bên ngoài là xuất lưu, chẳng nghe bên ngoài, trở vào bên trong gọi là nhập lưu. Nhập lưu th́ sở nghe hết, gọi là vong sở, sở đă diệt th́ tịch tịnh. , chẳng c̣n tướng động tịnh.

Hỏi: Thế nào là "Hàn lu trục khối, sư tử giăo nhơn "?

Đáp: Tổ Sư Thiền có một thí dụ về con chó và con sư tử : Một người liệng ra cục xương, con chó thông minh của nước Hàn đuổi theo cục xương mà cắn, c̣n con sư tử chẳng thèm để ư cục xương mà cắn ngay người ấy. Người ấy là ǵ? Là Tự tánh; cục xương là ǵ ? Là lời nói của Phật, của Tổ. Hễ đuổi theo lời nói của Phật, Tổ để hiểu là con chó, hướng vào Tự tánh để ngộ là con sư tử. Đức Phật muốn chúng ta làm con sư tử chứ chẳng muốn chúng ta làm con chó, nên Kinh Lăng Nghiêm nói "Phàm hữu ngôn thuyết giai phi thật nghĩa", lời nói của Phật cũng là ngôn thuyết vậy, làm sao căn cứ chỗ đó, chấp vào chỗ đó, nói là thật nghĩa !

Nên biết tất cả lời của Phật, của Tổ chỉ là phương tiện tạm thời để ngộ nhập Tự tánh của ḿnh, như Kinh Pháp Hoa nói "Khai thị ngộ nhập", chẳng phải ngộ nhập cái khai thị đó của Phật, mà là nhờ khai thị ngộ nhập Tự tánh. Nay hễ chấp lời th́ nghịch ư, như tôi thường giảng về "ĺa tứ cú": Chúng sanh chấp có th́ Phật nói là không; chúng sanh chấp không th́ Phật nói là có. Lúc Phật nói "có", ư của Phật chẳng phải có, lúc Phật nói "không", ư của Phật chẳng phải không , đă rơ ràng rồi. Nếu Phật nói "Có", ḿnh chấp cái có là chơn lư, lúc Phật nói "Không", ḿnh chấp cái không là chơn lư , là nghịch với ư của Phật. Phải hiểu ư của Phật, theo ư của Phật mà ngộ nhập tự tánh, hễ đuổi theo lời nói của Phật để hiểu là con chó, chẳng phải con sư tử.

Hỏi: Có người giảng về câu "Phản văn văn tự tánh", là khi lỗ tai ḿnh chạy theo âm thanh th́ liền cắt đứt ḍng chạy theo mà trở về Tự tánh, vậy có đúng không? Không những là nhĩ căn, cho đến nhăn, tỷ, thiệt, thân, ư, lục căn chạy theo lục trần mà ngay đó trở về Tự tánh, ứng dụng như thế để trở về tự tánh, như Kinh Viên Giác dạy " Tri huyển tức ĺa, chẳng cần phương tiện. Ĺa huyễn tức giác, không có thứ lớp", vậy có đúng không ?

Đáp: Như thế làm sao trở về ? Làm sao không chạy theo ?

TRI HUYỂN TỨC LY, BẤT TÁC PHƯƠNG TIỆN: Bất tác phương tiện chẳng phải là không cần phương tiện, nhưng không tác ư; cũng như Tôi thường dạy tham Thiền là dùng phương tiện để đi, chẳng được tác ư buông bỏ vọng tưởng, chẳng được trừ vọng tưởng, chẳng được đè nén vọng tưởng. Chẳng những không được tác ư phá trừ vọng tưởng, cho đến hễ tác ư "không phá trừ vọng tưởng? cũng không được. Hễ có tác ư là sai, chứ chẳng phải không cần phương tiện. Cần phương tiện mà không cho tác ư, nên nói là "bất tác phương tiện". Nếu có tác ư phương tiện th́ tác ư ấy cũng là vọng, làm sao ĺa được !

LY HUYỂN TỨC GIÁC, DIỆC VÔ TIỆM THỨ: Nay biết đó là huyển, dùng phương tiện để ĺa. Như chúng ta tham thiền dùng câu thoại làm phương tiện để ĺa, nhưng không được khởi niệm là ĺa, ấy mới được đến với cái Giác. Ĺa huyển tức giác, nhưng không có tiệm thứ mới ĺa được cái huyển. Từ biết được cái huyển là bắt đầu khởi lên nghi t́nh là không có tiệm thứ, chẳng c̣n ĺa hay không ĺa, giác hay không giác, ấy mới được giác. Bởi v́ nếu c̣n có năng sở, năng ĺa sở ĺa (huyển), năng giác sở giác là có tương đối, có tiệm thứ, ấy là sai. Pháp vốn chẳng có đốn tiệm, chẳng tiệm thứ, do chấp tâm của người nên sanh ra tiệm thứ. Kinh là nói về pháp chứ không nói về người, nhưng cũng có người một hơi thấu tam quan, chẳng có tiệm thứ, v́ người ấy chấp tâm ít . Chấp nhiều chừng nào th́ tiệm thứ nhiều chừng nấy.

Hỏi: Có một vị dạy người "Chú tâm vào một việc", ví như khi mặc áo th́ biết là áo, ăn cơm biết là cơm, tŕ chú biết là chú v.v. Theo phương pháp này có thể ứng dụng để tu hành và đi đến giác ngộ không ?

Đáp: Ấy cũng là một phương pháp của Giáo môn, nhưng không vào cửa Thiền được, chỉ có thể gieo cái nhân đến muôn ngàn kiếp sau, hoặc may có thể thành Phật, chứ chẳng thể tức thân thành Phật.

Thiền Giáo môn tiếng Ấn Độ là Thiền Na, dịch là tịnh lự. Theo người thường hễ tịnh th́ chẳng lự, lự th́ chẳng tịnh, c̣n Thiền th́ tịnh lự đồng thời, lúc đang tịnh cũng đang lự. Phương pháp của ông nói là cứ đuổi theo vật chất hoài, hễ uống nước th́ đuổi theo cái ly, cái nước, nằm th́ đuổi theo cái ḿnh và cái giường, mặc áo th́ đuổi theo cái áo, cứ đuổi theo ngoại cảnh hoài , tâm làm sao tịnh được? Làm sao nhập Thiền Na được? Hôm qua tôi có giảng đến bốn câu kệ của ngài Lục Tổ :

- Thường ứng chư căn dụng, mà chẳng khởi dụng tưởng.

Phân biệt tất cả pháp, chẳng khởi phân biệt tưởng.

Nếu biết ta mặc áo là dụng tưởng, biết ta uống nước cũng là dụng tưởng rồi, làm sao nhập Thiền na được ?

Hỏi: Vậy có thể nhập Như Lai Thiền không?

Đáp: Cũng không được, ấy là nằm trong câu thứ nhất của nghĩa ba câu, c̣n chấp thật hiện hữu, chưa biết ấy là vọng, là huyển, chưa thể cho là tu hành. Nhưng v́ hễ niệm được một câu chú hoặc một tiếng Phật cũng gieo trồng được thiện căn, muôn ngàn kiếp sau cũng được thành Phật. Tu hành là phải phá chấp: Trước phá nhân ngă chấp, sau phá pháp ngă chấp. Nay chẳng kể căn cơ nào, chẳng kể thích hợp hay không mà dạy người tu như thế rất có hại, khiến nhiều người uổng tu một đời.

Phật với Tổ đều dạy người phải chuyên tu một pháp môn, nhất môn thâm nhập. Bất cứ trong cuốn kinh nào Đức Phật cũng nói "Kinh này đệ nhất", ư là muốn chúng ta nhất môn thâm nhập, chứ chẳng phải có kinh nào hơn kinh nào. Hể tham Thiền th́ cứ ngày đêm đề câu thoại đầu hỏi tới hoài, ở trong câu thoại đầu đầy đủ tất cả pháp: Tŕ chú cũng ở trong đó, lễ Phật cũng ở trong đó, tụng kinh cũng ở trong đó. V́ nghi t́nh đă là thực hành theo ư Phật, Phật là muốn chúng ta giải thoát, giải thoát cần phải giác ngộ, nên nói "phát Bồ đề tâm" là cầu giác ngộ.

Tŕ chú là cách tu của Mật tông, muốn tu phải theo đúng tông chỉ của Mật tông, nếu không theo đúng tông chỉ của pháp môn mà đem áp dụng qua áp dụng lại là ḷng tin chưa đủ, chẳng thể thành tựu được. Nếu suốt ngày mặc áo cũng tŕ chú, uống nước cũng tŕ chú, và cho rằng "phải tŕ chú để làm trợ duyên cho sự tu hành" ấy là sai lầm, bày đặt. Như người hay nói "Thiền Tịnh song tu", cuối cùng Thiền cũng chẳng tin, Tịnh cũng chẳng tin, chẳng được thành tựu.

Hỏi: Đời nhà Minh có ngài Liên Tŕ Đại sư sưu tập những Luận tiểu : Luật Tỳ Ń, Sa Di, Oai Nghi, Sa Di Cảnh Sách, sau đó ngài Hoằng Tán có sớ giải bộ luật trên, vậy có lợi ích không? Có sai lầm không ?

Đáp: Các Luật sư bên Trung Quốc có phê b́nh rằng ngài Liên Tŕ không phải Luật sư, không có nghiên cứu sâu vào Luật, nên khi ngài nói về Luật, có chỗ c̣n trái với ư Phật. Phật chế luật là hoạt bát, khai giá tŕ phạm rất linh động; v́ sự phá giới là tùy theo phong tục địa phương, tùy theo thời đại mà biến đổi. Như theo giới Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni ở Ấn Độ, hễ làm ruộng là phạm giới, nhưng ở Trung Quốc làm ruộng là tŕ giới; v́ theo phong tục ở Ấn Độ, tu sĩ không được làm ruộng, làm ruộng th́ người đời chê bai, chướng ngại sự hoằng pháp nơi thế gian, nên Phật chế giới để che ngăn không cho người đời phê b́nh Tăng đoàn, ảnh hưởng đến sự hoằng hóa.

Và Luật có khác : Giới là để bảo vệ cá nhân, Luật là để bảo vệ Tăng đoàn, tức có Luật mới bảo vệ được Giới. Nay chúng ta không có Tăng đoàn nên giới chẳng được Luật bảo vệ: Người tu sĩ phạm giới Ba La Di chẳng ai can thiệp, vẫn giữ chức vị Trụ tŕ trong chùa, vẫn được Phật tử lễ bái cúng dường, ấy là do không có Luật ! Nếu có Tăng đoàn th́ khác, hễ thọ giới rồi phải sống ở trong Tăng đoàn, giới được Luật Tăng đoàn bảo vệ, không ai dám phạm phải. Ví như ở Campuchia, hễ ai phạm giới Ba La Di  bị tước áo Cà sa và giao cho Chính phủ trị tội, nên chẳng ai dám phạm.

Hiện nay, ở Việt nam cũng như ở Trung Quốc, ai cũng tự có ngôi chùa, tự là Trụ tŕ, phá giới Ba La Di cũng chẳng ai can thiệp, vẫn là Trụ tŕ, vẫn thọ nhận sự lễ bái cúng dường của Phật tử, chỉ là sau này đọa địa ngục thôi ! Nên chẳng có ai sợ. Do đó giới luật thời nay không có tác dụng.

Người ta thường nói" Thiền sư không chú trọng h́nh thức bề ngoài, trông bề ngoài th́ dường như chẳng giữ ǵn giới luật". Kỳ thật Thiền sư rất Chú trọng giới luật, Theo tiểu sử ngài Bác Sơn : Ngài là vị Tổ sư về Thiền,Luật song song, làm Tổ của Tông Tào Động, đồng thời làm Tổ cho Luật tông. Thời gần đây có ngài Lai Quả và ngài Hư Vân cũng vậy. V́ người đă ngộ Phật pháp rồi hễ thuyết ra là kinh, hành vi là giới luật, tâm là Thiền, Tổ sư nào cũng thế. Ví như ngài Lục Tổ vốn là người dốt nát không biết chữ, nhưng nói ra cũng thành kinh, hành vi cũng đúng theo giới luật.

Hỏi: Đắc quả A La Hán có phải kiến tánh không? Có phải đại tử đại hoạt không?

Đáp: Đắc quả A La Hán chưa phải kiến tánh, có thể nói là phá được Sơ quan. Theo Nguyệt Khê Pháp sư th́ A La hán và ngoại đạo chưa phá căn bản vô minh, tức vô thỉ vô minh. Tồ Sư Thiền th́ phá được vô thỉ vô minh mới là kiến tánh, tức là phá thức ấm. V́ phá được thức ấm tức đă ĺa tâm, ư, thức , chẳng c̣n chấp pháp. A la Hán c̣n chấp pháp của ḿnh tu là thật, chấp quả của ḿnh chứng là thật, nên bị Phật quở. V́ A La Hán đă phá được nhơn ngă chấp, nên được ra khỏi phần đoạn sanh tử, nhưng c̣n biến dịch sanh tử chưa hết.

Hỏi: Tham Thiền đến đầu sào trăm thước đă ĺa ư thức chưa ?

Đáp: Chưa, c̣n phải tiến thêm một bước nữa mới rời khỏi ư thức. Ở trên đă nói, ngoại đạo và Tiểu thừa chỉ đến được đầu sào trăm thước, c̣n thiếu một bước là đến được nguồn gốc của ư thức, lúc đó thanh thanh tịnh tịnh, không có vọng tưởng, như Cơi Trời Vô Tưởng , đến chỗ đó đă hết đường đi, tưởng là cứu cánh, tưởng là chứng ngộ, cứ ngồi măi chỗ đó. Nhưng đó mới chỉ là nguồn gốc của ư thức, chưa ĺa ư thức, c̣n dính líu với ư thức th́ căn bản vô minh chưa hết, nên Thiền tông nói là "phải từ đầu sào trăm thước tiến thêm một bước mới ĺa khỏi ư thức. Giây phút ĺa ư thức ấy là kiến tánh. Nếu người không có tham thiền th́ chẳng thể nào ĺa ư thức được, nếu muốn biết đó là huyển mà ĺa th́ chẳng bao giờ ĺa được.

Hỏi: Có người dẫn lời của Tổ Sư nói "Một niệm mê là chúng sanh, một niệm giác tức Phật", lại, " Chẳng sợ niệm khởi, chỉ e giác chậm", cho rằng hễ vọng niệm khởi lên liền giác là Phật, giác liên tục là Phật, c̣n giác được một lúc th́ làm Phật được một lúc, phải không ?

Đáp: Ấy cũng như Thiền Sư Minh Bổn ở Tịnh Xá Quan Âm, sau đổi tên thành Quang Tông Thiền sư. Trong tác phẩm " Giải thoát Học", cho rằng không có vọng tưởng, cảm thấy thanh thanh tịnh tịnh, lọt vào vô kư không; hễ lọt vào năm phút là phá sơ quan, lọt vào một tiếng đồng hồ là kiến tánh triệt để  Lấy Thiền bệnh cho là kiến tánh, tự xưng là Thiền sư, tự nêu ra mười mấy chức danh, tự cho là kiến tánh. Nếu là người đă kiến tánh th́ đâu phải như thế !

"Chẳng sợ niệm klhởi, chỉ e giác chậm" : Thông thường th́ Giác là biết, nếu khởi niệm ác mà giác chậm sẽ đi làm, tạo tội nặng. Theo giới Tiểu thừa ( Thanh Văn ) th́ niệm khởi chưa phạm, thân đi làm mới phạm, hễ phạm là bị đọa, nếu kịp thời khởi giác th́ ngăn chặn được không phạm, nên nói "Chẳng sợ niệm khởi, chỉ e giác chậm". Bên Giáo môn không được nghĩ ác, chứ không cấm nghĩ thiện, nhưng về Tổ Sư Thiền, chẳng những không cho suy nghĩ cái ác, thiện cũng chẳng cho. Lai Quả Thiền sư nói "Giáo môn th́ sanh tử là vọng phải bỏ, Niết Bàn là chơn phải lấy, Thiền môn th́ sanh tử Niết bàn đều phải quét". Lời của Phật của Tổ chỉ là phương tiện tạm thời để tuỳ cơ thuyết pháp, nên có kinh liễu nghĩa và bất liễu nghĩa.

Hỏi: Thế th́ chẳng thể dùng cái Giác để tu đến kiến tánh ?

Đáp: Không phải . Như ở trên nói, Quang Tông Thiền sư cũng là Thiền sư. Thiền sư Đời xưa có người kiến tánh có người chưa kiến tánh, cũng có khi tùy trường hợp tùy căn cơ mà nói. Như Kinh Duy Ma Cật nói :"Kinh có liễu nghĩa có bất liễu nghĩa", kinh bất liễu nghĩa cũng do Phật thuyết. Nếu y theo đó mà căn cứ th́ chẳng được, nên phải y kinh liễu nghĩa chứ đừng y kinh bất liễu nghĩa.

Dù có y kinh liễu nghĩa cũng chẳng thể chấp thật, phải y cái ư của Phật chứ chẳng được y theo lời Phật, v́ chấp lời là nghịch ư. Cho nên, trong Kinh Kim Cang, Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu " Chẳng có Phật pháp gọi là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề"," Chẳng có thật pháp Như Lai chứng được". " Nếu ta chứng được thật pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, th́ Phật Nhiên Đăng không thọ kư ta thành Phật , hiệu Thích Ca Mâu Ni", là v́ sợ chúng sanh chấp lời của Phật, hễ chấp lời là nghịch ư, v́ lời nói là phải theo ngôn ngữ của thế gian ( Thế lưu bố tưởng ), nếu ở nơi thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng, ấy là oan cho Phật, nên gọi "Y văn giải nghĩa, tam thế Phật oan".

Kinh Kim Cang rơ ràng là do Phật sở thuyết, nhưng trong kinh Phật lại nói " Nếu có người nói Ta có thuyết pháp ấy là phỉ báng Phật", Lời của Phật c̣n chấp không được, huống là lời của Kinh Kim Cang!

Nay những sách Thiền lưu hành ở ngoài đều là tự lấy ư ḿnh để giải thích thoại đầu và công án, nghịch với ư của Tổ sư. Ư của Tổ là muốn chúng ta nghi, muốn chúng ta ngộ, v́ khi nghe được lời của Tổ sư, hễ ngộ th́ ngộ ngay lúc đó, nếu không th́ phải phát nghi, nghi rồi sau đó mới được ngộ. Nên Tổ sư không cho chúng ta hiểu, hễ hiểu rồi là hết nghi. Hiện nay những vị tự xưng Thiền sư cứ giải thích công án khiến người hết nghi, lấp bít cửa ngộ của người tham Thiền. Theo kinh Phật nói là người ấy có tội.

Hỏi: Kính bạch Sư Phụ, ở trong nhà lửa th́ làm sao lấy kiến giải phá kiến giải ?

Đáp: Trong Kinh Pháp Hoa có thí dụ nhà lửa, trẻ con ham chơi dụ cho chúng sanh; nhà đang bốc cháy nhưng trẻ con chẳng hay biết, chỉ một mực ham chơi, chẳng tin lời Phật bảo :" Nhà đang cháy, rất nguy hiểm, hăy mau chạy ra, có thể bị thiêu đốt!" Nên Phật phải dùng phương tiện để dụ dỗ rằng :" Ngoài cửa có đủ thứ xe, xe dê, xe nai, xe trâu, hăy ra đây cho mỗi người một chiếc. " Trẻ con nghe nói được đồ chơi đều mừng rỡ chạy ra, khi chạy ra rồi Phật cho mỗi người một chiếc xe lớn, ấy là Đại thừa. Lời Phật nói gạt ấy là phương tiện chứ chẳng phải vọng ngữ, nên chẳng có tam thừa nói thành tam thừa, chỉ để gạt chúng sanh ra khỏi nhà lửa thôi.

- C̣n Kinh Pháp Bảo Đàn là kinh của Tổ Sư Thiền , về bài kệ do Pháp Đạt làm, nhiều người hiểu sai nên dịch sai, đây là bài kệ phá cái nhà lửa đó. Pháp Đạt tụng kinh Pháp Hoa trong chín-mười năm, được ba ngàn bộ, tưởng là công đức lớn lao, thật ra bị Pháp Hoa chuyển mà chẳng chuyển được Pháp Hoa, sau khi được ngài Lục Tổ khiến khai ngộ rồi, hoan hỉ tán thán rằng :

Tụng kinh ba ngàn bộ, bị Tổ một lời tiêu

Chưa thấu đạo xuất thế, sao dứt lụy kiếp mê

Dê, nai, trâu giả thiết, Ba đoạn thiện quét sạch.

Ai ngờ trong nhà lửa, vốn là Tự tánh Phật.

Dịch: Kinh tụng ba ngàn bộ, bị Tào Khê một tiếng nói liền tiêu. Hễ chưa rơ được tông chỉ xuất thế gian th́ làm sao ngưng được cuồng vọng từ ngàn kiếp ! Kỳ thật, xe dê, xe nai, xe trâu đều là phương tiện tạm thời , bất đắc dĩ đặt ra,

Sơ, trung hậu thiện dương: nhiều người dịch sai cho là "Sơ, trung hậu khéo hoằng dương", kỳ thật đây là nghĩa ba câu : Sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đều quét sạch. Ai ngờ trong nhà lửa chẳng phải nhà lửa, vốn là pháp trung vương. Khỏi cần ra nhà lửa, trong nhà lửa là Phật, Tự tánh Phật ở trong đó !

Hỏi: Xin Sư giảng lại câu " Sơ, trung, hậu thiện dương".

Đáp: Nguyên văn hai câu ấy là :" Dương, lộc, ngưu quyền thiết, sơ , trung, hậu thiện dương", tức sơ thiện, trung thiện, hậu thiện đều quét sạch. Theo ngài Bá Trượng nói " Lúc đầu th́ khuyên người ta làm thiện ( chấp có cái thiện thật), câu thứ hai là "thiện tức phi thiện", đừng chấp cái thiện nữa, câu thứ ba là "Thị danh thiện". Quét câu thứ nhất, câu thứ nh́ và quét luôn cả câu thứ ba, tâm không chấp thật cũng quét luôn mới là hậu thiện; luôn cả hậu thiện cũng quét sạch, đến chỗ này mới ĺa được tâm ư thức, mới được kiến tánh. Hễ c̣n "hậu thiện " tức c̣n nằm trong ư thức, chưa ĺa ư thức. Ĺa được ư thức mới là ngộ, ngộ rồi mới biết ở trong nhà lửa vốn là Pháp vương, Tự tánh Phật vốn saün đủ, chẳng cần t́m kiếm bên ngoài.

Hỏi: Trong Pháp Bảo Đàn Kinh có câu " Tâm b́nh hà lao tŕ giới, hạnh trực hà dụng tham Thiền" như thế nào ?

Đáp: Hai câu này nhiều người cũng lấy làm cớ để khỏi cần tu, ấy là sai. TÂM B̀NH, HẠNH TRỰC đâu phải người nào cũng làm được ! Như ngài Hư Vân hỏi " Tâm ông đă b́nh chưa ? Gặp cô gái đẹp tâm ông có bị động không? Nếu Tâm ông c̣n động, chưa được b́nh th́ không được nói câu này!"

Tâm b́nh khỏi cần tŕ giới: câu này là nói sau khi kiến tánh , tập khí đă dứt sạch rồi mới được. Chứ chẳng phải là "Tâm b́nh thường là đạo" mà người ta cho rằng cái tâm thế gian b́nh thường, chẳng làm ác là đạo, ấy là hiểu sai. "B́nh thường tâm" là cái dụng automatic của Tự tánh Bát nhă, không được lọt vào tương đối, hễ có dính mắc chút xíu cũng chẳng phải là b́nh thường tâm. Chúng ta đâu dễ đạt đến cảnh giới đó !

Theo hai câu này, chẳng những đă kiến tánh mà đă qua sự bảo nhiệm, là tập khí đă hết nên tâm mới được b́nh thường. C̣n tâm b́nh thường chẳng làm ác ấy là tâm b́nh thường của thế gian, cũng như trí huệ của thế gian, nhà Phật cho là ngu si, c̣n tâm b́nh thường của thế gian đối với nhà Phật th́ có thể là thô bạo.

- Đối với hai chữ HẠNH TRỰC, tâm được b́nh th́ hạnh trực, bây giờ có gặp được một người nào là hạnh trực không? Chưa có. Chính tôi cũng hạnh chưa trực.

Hỏi: Thế nào là tông chỉ của Tịnh Độ ?

Đáp: Tông chỉ của Tịnh Độ là : TÍN, NGUYỆN, HÀNH

* TÍN: Có ba thứ tin :

  1. Tin lời Phật Thích Ca chẳng dối gạt người.

  2. Tin Cơi Cực lạc không già không bệnh, không chết, muốn ǵ được nấy.

  3. Tin ḿnh kiếp này sẽ được văng sanh, chẳng cần đợi kiếp sau.

* NGUYỆN: Có hai thứ nguyện :

  1. Tiểu nguyện: Hễ phát tiểu nguyện th́ không hợp nhân quả, chẳng được văng sanh. Tại sao ? V́ tiểu nguyện chỉ phát nguyện cho một ḿnh được văng sanh, nếu không trở lại đầu thai th́ làm sao có quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này : Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi con kiến không ? Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả là một mạng phải đền một mạng, ăn một cục thịt trả một cục thịt, thế th́ làm sao trả nợ mạng,nợ thịt? Nên phải phát đại nguyện.

  2. Đại nguyện: Ví như ḿnh hiện nay không có tiền mặt để trả nợ, kư phiếu hẹn đến kỳ sau. Sau này được sanh Cơi Cực lạc rồi, thành Phật trở về độ hết tất cả chúng sanh. Ngoài Phát nguyện như thế , c̣n phải thực hành.

* HÀNH: Cần nhất là phải hành theo đại nguyện của ḿnh, nếu không thực hành là nguyện giả, cũng như người tu Tịnh Độ mà không ăn chay là nguyện giả. Tại sao ? V́ đă phát nguyện độ chúng sanh , c̣n ăn thịt chúng sanh,chẳng phải nguyện giả ư ? Như câu hồi hướng trong Kinh Di Đà :" Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, phàm hữu chư phước thiện,chí tâm cùng hồi hướng", tức làm bất cứ việc phước thiện ǵ đều hồi hướng cho tất cả chúng sanh, trong đó có chủ nợ của ḿnh. Bất cứ con người hay súc sinh; gặp con chó cũng phải phát tâm độ, mặc dù con chó không biết nghe ḿnh nhưng cũng nói, gặp con mèo th́ độ con mèo. thử hỏi hiện nay có ai làm như vậy không ? Có người phát tâm tu Tịnh Độ đă hơn ba mươi năm, cũng có phát đại nguyện, nhưng hỏi về phần thực hành th́ không có.

Hỏi: Ban ngày nghe giảng pháp, tối nằm chiêm bao cũng nghe giảng pháp, vậy là đồng thời ư thức biến hiện hay độc đầu ư thức biến hiện ?

Đáp: Tối ngủ nghe giảng là cái bóng, trong Phật học gọi là "Độc ảnh cảnh" và " Đới chất cảnh". Ví như chúng ta ngồi cạnh người ngủ đang chiêm bao mà không nghe được tiếng nói của người trong chiêm bao, v́ ấy chỉ là cái bóng của tiếng chứ chẳng phải thật sự có tiếng, nên gọi là độc ảnh cảnh. Như nay tôi nói, mọi người đều nghe được, ấy là có cái chất của tiếng, nên gọi đới-chất-cảnh. Kỳ thật, đới chất cảnh hay độc ảnh cảnh đều là duy tâm tạo, ban ngày hay ban đêm tham thiền, lúc thức lúc ngủ tham Thiền đều là một. Lại, nếu ở trong chiêm bao tham Thiền được ấy là tiến bộ . Nhắm mắt cũng là chiêm bao, mở mắt cũng là chiêm bao, ở trong Tự tánh vốn chẳng có hai, do phương tiện diển đạt mới nói thành có hai.

Hỏi: Tại sao mặc chiếu lại là tà thiền ?

Đáp: V́ mặc chiếu là trụ tâm ở một nơi. Kinh Kim Cang nói " Vô sở trụ", Kinh Pháp Bảo Đàn nói " lấy vô trụ làm gốc", Thiền tông đâu cho trụ tâm ở một nơi ? Ấy là nghịch với ư của Tổ, hễ trụ tâm ở một nơi th́ chẳng phải tà thiền là cái ǵ ? Tại sao Phật với Tổ dạy chúng ta vô sở trụ ? Ví như bàn tay của ḿnh vốn hoạt bát vạn năng, làm ǵ cũng được, hễ có trụ ở nơi nào th́ tánh hoạt bát của tay bị đánh mất, nên Phật và Tổ dạy ḿnh phải quét, khôi phục lại tánh hoạt bát của tay. Vật chất là sự có, nay không chấp có mà lại trụ ở nơi không ( nắm tay ), cũng đánh mất sự hoạt bát vạn năng, nên cái KHÔNG cũng phải qué. Do đó phải lấy vô trụ làm gốc vậy.

Hỏi: Chỗ ngộ của Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền cao thấp ra sao ?

Đáp: Chỗ ngộ của Như lai Thiền có giai cấp, tất cả Giáo môn đều thuộc Như Lai Thiền, phải qua giai cấp. Giáo môn ở Trung Quốc có bốn tông : Thiên Thai, Hiền Thủ, Duy Thức, Tam Luận. Thiền quán của Tông thiên thai là Chỉ Quán Thiền, Tông Hiền Thủ là Pháp Giới Quán Thiền, Tông Duy Thức là Tứ Tầm Tư Quán Thiền, Tông Tam Luận là Tách Không Quán Thiền. Thiền quán tưởng th́ có giai cấp, như trong Kinh Lăng Nghiêm kể là có năm mươi bảy cấp là : Thập tín, Thập trụ, thập hạnh, Thập hồi hướng , Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, Càn huệ địa và Tứ gia hạnh. C̣n Tổ Sư Thiền th́ chẳng có giai cấp; từ địa vị phàm phu trực chứng quả Phật, không cần trải qua giai cấp.

Hỏi: Ư nghĩa của Qui y Tam Bảo như thế nào ?

Đáp: Khi qui y Tam Bảo, Phật bảo chúng ta phải phát Tứ hoằng thệ nguyện :" Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,

Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,

Phật Đạo vô thượng thệ nguyện thành".
Thông thường, người thế gian chẳng biết, cứ theo thói quen gọi "Phật", tưởng là một vị thần linh, nói Phật sẽ gia hộ cho ḿnh, bảo vệ ḿnh, ấy là sai lầm. Phải biết tất cả chúng sanh đều có tư cách thành Phật, chữ PHẬT là giác ngộ,người nào giác ngộ th́ người ấy có tư cách thành Phật. Phật là tánh của ḿnh, là tâm của ḿnh, nên nói "Ngoài tâm chẳng có Phật, ngoài tâm chẳng có pháp". Thời nay nhiều người qui y Tam Bảo mấy mươi năm, c̣n chưa biết Tam Bảo là ǵ, chỉ biết rằng nhờ Phật sẽ phù hộ cho ḿnh, mà chẳng biết Phật chỉ dạy ḿnh cách tu, chính ḿnh phải tự ḿnh đạt đến, tự ḿnh phù hộ cho ḿnh. Nếu như Phật đại từ đại bi phù hộ cho chúng ta th́ chúng ta khỏi cần tu hành rồi, Phật c̣n dạy chi cách tu hành!
Xưa kia có người hỏi Phật :

  • "Ngài có phải Thượng đế chăng?"

  • Đáp:"Không phải".

  • " Ngài có phải một vị thần chăng ?"

  • "Không phải".

  • Ngài có phải là một đấng có oai quyền chăng ?"

  • "Không phải."

  • "Thế Ngài là ai?"

  • " Ta là người giác ngộ (Phật Đà)".
    Phật là tiếng Ấn Độ, dịch là "Người giác ngộ".

    Tại sao phải giác ngộ ? Nếu không giác ngộ th́ chẳng thể giải thoát. Tại sao ? Nói "Giải thoát" là phải đạt đến tự do tự tại, muốn tự tại th́ phải làm chủ cho ḿnh, muốn làm chủ cho ḿnh phải biết ḿnh là cái ǵ ? Nay tất cả chúng sanh đều chẳng biết ḿnh là cái ǵ, ở trong mịt mù đen tối, do mắt thấy tai nghe nên chỉ biết ở ngoài, c̣n ḿnh là cái ǵ th́ chẳng biết; chẳng biết sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ? Hễ không được tự do th́ không muốn già vẫn phải già, không muốn chết vẫn phải chết, không muốn bệnh vẫn phải bệnh, sanh tử không được tự do. Nếu ngộ được chính ḿnh tức là Phật, tự do tự tại, vĩnh viễn dứt hết tất cả khổ. Nếu c̣n một chút khổ chưa dứt cũng chẳng tự tại vậy.

    Cho nên, Phật pháp rất tích cực, hễ giác ngộ đến cùng tột là vĩnh viễn đạt đến tự do tự tại, khổ chẳng bao giờ trở lại, chẳng phải kiếp này chẳng phải kiếp sau, chẳng phải mười kiếp, trăm kiếp, cho dù muôn triệu ngàn kiếp cũng không màng. Tại sao? Nói tự do tự tại là không bị thời gian, không gian, số lượng hạn chế, nếu muôn triệu ngàn kiếp sau khổ c̣n trở lại tức chẳng tự do tự tại.

    Hỏi: Có phải sau khi ngài Vĩnh Gia Huyền Giác ngộ đạo rồi, phải nhờ ngài Lục Tổ ấn chứng mới ra hoằng pháp ?

    Đáp: Đúng. Thời nay có nhiều người tự làm tài khôn, tưởng ḿnh đă chứng ngộ triệt để, hoặc cho sự giải ngộ là chứng ngộ, thấy cảnh giới này cảnh giới kia cũng cho là ngộ, thấy thanh thanh tịnh tịnh cũng cho là ngộ, nên phải nhờ thiện tri thức ấn chứng. Nhưng trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói :" Hễ nói nhất định phải nhờ thiện tri thức ấn chứng cũng không đúng, là những người tăng thượng mạn mới cần thiện tri thức ấn chứng, c̣n những người không phải là tăng thượng mạn, nếu thực hành đúng pháp vô sở đắc th́ không cần ai ấn chứng cũng được".

    Như tôi thường thí dụ : Từ Chợ Lớn đến Sai G̣n là một trăm bước, chúng ta tham Thiền khởi nghi t́nh là đi, nếu đi được một bước c̣n chín mươi chín, đi được hai bước c̣n chín mươi tám, ba bước c̣n chín mươi bảy. có đi th́ phải đến. Nên Lai Quả Thiền Sư trong Thiền Thất Khai Thị Lục nói " Nếu công phu thành khối rồi không cần ngộ cũng được." V́ khi công phu thành khối, chẳng giây phút gián đoạn th́ chẳng có tướng, vô tướng th́ Diêm La Vương chẳng thấy, không thể sai quỷ sứ đến bắt. Nhưng đă đến Sài g̣n rồi, nói ḿnh chưa đến cũng không được, và cũng không cần khoe với người khác rằng "Tôi đă đến Sài g̣n rồi.", ấy là những người tăng thượng mạn vậy.

    Hỏi: Tại sao nói "Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả"?

    Đáp: Bất cứ pháp thế gian hay xuất thế gian đều có nhân quả, nhưng nhân quả là do tâm tạo; tâm khởi một niệm thiện th́ có thiện quả, tâm khởi một niệm ác chiêu cảm ác quả, khởi niệm chẳng thûiện chẳng ác th́ tạo cái nhân vô kư, có nhân ắt có quả.

    Người đời thường nói "Bồ Tát sợ nhân, phàm phu sợ quả", V́ Bồ Tát không tạo nhân nên chẳng có quả, phàm phu tạo nhân rồi lại sợ quả nhưng cũng không tránh khỏi. Bồ Tát chẳng những không tạo ác nhân, thiện nhân cũng chẳng tạo __Chẳng phải là không làm thiện, nhưng làm thiện mà chẳng khởi tâm cho đó là thiện. Bởi tâm không tạo nên chẳng có thiện nhân; hễ có thiện nhân th́ được thọ hưởng phước báo, nhưng Bồ tát th́ không màng. Nên Lục Tổ nói " Chẳng nghỉ thiện chẳng nghỉ ác" là vậy.

    Thế th́ chúng ta muốn làm như thế có được không? Không được. Vậy phải làm sao ? Nên Phật dạy chúng ta tám mươi bốn ngàn pháp môn để tu, tu theo pháp môn th́ lúc đầu làm không được, nhưng làm măi cũng sẽ được. Tám mươi bốn ngàn pháp môn qui nạp lại thành bốn đại loại : Tham Thiền, niệm Phật, tŕ chú, quán tưởng. Tham Thiền là chỉ Tổ Sư Thiền, niệm Phật là theo pháp môn Tịnh Độ, tŕ chú là Mật tông, quán tưởng thuộc Giáo môn, như Tông Thiên thai, Hiền thủ v.v. mỗi tông đều có pháp quán tưởng riêng biệt, hễ thích hợp với tông phái nào th́ tu đúng theo tông chỉ tông phái đó.

    Tôi là chuyên hoằng Tổ Sư Thiền, chỉ biết dạy người tham Tổ Sư Thiền. Nếu biết ôm chặt câu thoại đầu mà tham, chẳng nghỉ đến việc khác, chỉ có nghi t́nh th́ không tạo nhân, v́ nghi t́nh chẳng biết ǵ cả, chẳng những niệm ác không khởi lên được, kể cả niệm thiện cũng chẳng khởi, đă không tạo nhân th́ quả từ đâu đến ? Cách tu hành trên chẳng phải do tôi đặt ra mà là do Tổ sư Thiền tông đặt ra, cũng có người hỏi tôi về vấn đề truyền thừa, xưa kia là Tổ Tổ tương truyền, tức tṛ đă kiến tánh th́ thầy chứng minh cho, gọi là truyền tâm ấn. Sau này sự kiến tánh bị gián đoạn, nói chữ "Truyền" chỉ là truyền cách tham Thoại đầu, công án đúng theo Tổ sư dạy. Hễ người nào siêng năng th́ được kiến tánh, người nào lôi thôi, làm biếng th́ chẳng được kiến tánh; như đi mau th́ mau đến, đi chậm th́ chậm đến. Nếu đề khởi nghi t́nh ngày đêm không dứt th́ nhân chẳng thể khởi lên, tất nhiên cũng chẳng có quả, chứ khỏi cần khởi niệm muốn quét nhân quả, tự nhiên nhân quả chẳng có. Do đó, có ba cách tŕ giới :

    • Cách thứ nhất: B́nh thường cứ mỗi nửa tháng Bố tát tụng giới một lần.

    • Cách thứ nh́: Thiền Giới, tức nghi t́nh hai mươi bốn giờ không gián đoạn, không kẽ hở, niệm thiện niệm ác chẳng thể khởi lên, mặc dù không để ư tŕ giới cũng đă tŕ giới rồi, nên gọi là Thiền giới.

    • Cách thứ ba: Cao hơn, đă chứng quả rồi dĩ nhiên không tŕ không phạm.

    Nay muốn không lọt vào nhân quả, hăy thực hành theo cách dạy của Tổ Sư.

    Hỏi: Nếu chẳng có một nhân lành nào th́ làm sao Phật thọ kư ?

    Đáp: Ư ông muốn nói là thọ kư rồi mới tu hành, phải không ? Nếu chúng sanh đ̣i hỏi phải thọ kư rồi mới tu hành th́ làm sao c̣n ai tu hành ? Vả lại, nói "thọ kư" chỉ là phương tiện của Phật, như ở trong Kinh Pháp Hoa, Đề Bà Đạt Đa là người luôn có ư đồ giết hại Phật mà Phật vẫn thọ kư ! Thông thường th́ con người sau khi chết mới xuống địa ngục, c̣n Đề Bà Đạt Đa là đang c̣n sống mà đọa địa ngục, ấy là tội nặng biết bao ! Nhưng Đức Phật vẫn thọ kư sau này sẽ thành Phật.

    Thử hỏi ông có tạo tội ǵ nặng hơn Đề Bà Đạt Đa không ? Đề Bà Đạt Đa c̣n được thọ kư th́ sao ông lại không được chứ ? Tất nhiên là được rồi ! Nhưng thời nay th́ không c̣n Phật Thích Ca để thọ kư, vậy chẳng biết t́m Phật nào thọ kư đây ?!

    Hỏi: Ư của con là Sự thọ kư do hành tŕ các pháp Ba La Mật của chư Phật từ vô lượng kiếp đến nay, công hành đầy đủ thành tựu mới được thọ kư ?

    Đáp: Sáu pháp Ba La Mật là hạnh Bồ Tát, bậc Thanh Văn không hành theo pháp đó mà Phật vẫn thọ kư , như trong Kinh Pháp Hoa nói "Những bậc Thanh văn đều được thọ kư", chứ chẳng phải hành theo sáu Ba La Mật mới được thọ kư như ông vừa nói. Sự hiểu biết của ông c̣n cạn cợt, nhưng lại chấp vào sự hiểu biết đó.

    Hỏi: Ấy là bởi căn lành của mỗi người mỗi khác, nếu không th́ làm sao tất cả căn lành đều đi đến chỗ Phật đă dạy ? Nếu chẳng phải do căn lành vô lượng vô biên th́ làm sao chỉ nhờ một công án mà thành Phật được ?

    Đáp: Nay chỉ nói về kiếp trước : Kiếp trước ông có căn lành ǵ nay ông có biết không ? Tự ḿnh c̣n chưa biết ! Đừng nói kiếp trước, hăy nói đến kiếp này : Khi ông lên năm tuổi, ông có nhớ những ǵ từ một đến bốn tuổi không ? Hăy nghe tôi kể qua một câu chuyện :

    - Vào thời Phật, có một ông tên Tô Đạt rất nghèo, đi xin ăn cũng có bữa được bữa không, nghe nói Đức Phật đến thành phố thuyết pháp, tự nghĩ :" Chắc là kiếp trước không có tu hành nên kiếp này mới phải chịu khổ như thế", bèn đến nơi Phật cầu xin xuất gia. Khi đến Tịnh xá th́ Phật đă đi khỏi, hàng đệ tử của Phật là bậc A La Hán, thần thông của A la Hán có thể biết được tám muôn kiếp trước và tám muôn kiếp sau, thấy ông Tô Đạt này từ tám muôn kiếp đến nay chưa hề gieo trồng thiện căn, Phật chẳng thể độ người không duyên, nên đuổi ông ấy ra về.

    Dọc đường, Tô Đạt cảm thấy rất buồn, tự nghĩ " Hẳn là ḿnh trong quá khứ kiếp không gieo trồng thiện căn, nên xin xuất gia cũng không được", đi đến bức tường bèn nảy ư đâm đầu vào tường tự tử. Trong lúc sắp đập đầu vào tường, gặp Phật Thích Ca đi qua cản lại, hỏi rơ nguyên do rồi dẫn về tịnh xá cho xuống tóc xuất gia, tu chẳng bao lâu chứng quả A la Hán. Những đệ tử của Phật như ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên rất thắc mắc "Sao ông ấy tám muôn kiếp chưa hề gieo trồng thiện căn vẫn được chứng quả ? Thế th́ Phật thường dạy rằng "không thể độ người chẳng có nhân duyên" ấy là vọng ngữ ư ?"

    Một hôm hỏi Phật, Phật bảo :" Các ngươi chỉ biết được nhân duyên của tám muôn kiếp mà chẳng biết được những ǵ ngoài tám muôn kiếp. Người này đă gieo trồng thiện căn từ vô lượng kiếp trước; khi ấy gia đ́nh cũng rất nghèo, làm nghề đốn củi. Một hôm lên núi đốn củi gặp cọp, hoảng sợ trèo lên cây, con cọp bèn dùng răng cạp cắn gốc cây, trong lúc kinh sợ, sực nhớ rằng người ta thường bảo hễ gặp nguy th́ niệm câu " Nam Mô Phật", có thể tránh được tai nạn. Y bèn niệm theo , được một hồi lâu, ngó xuống đất con cọp biến mất lúc nào chẳng hay, mừng rỡ trèo xuống về nhà. Mặc dù trong lúc đó chỉ niệm Phật được một vài tiếng, thiện căn ít ỏi, nhưng trải qua nhiều kiếp, nay nhân duyên chín mùi rồi mới có thể gặp Phật xuất gia chứng quả.

    Bậc A La Hán đă chứng quả, đă xuất luân hồi c̣n chưa thể biết hết được, ông làm sao mà biết được ư ? Vả lại, thời gian niệm Phật của ông chắc là nhiều hơn ông Tô Đạt rồi, thiện căn chắc sẽ sâu hơn, tại sao c̣n chẳng chịu tin mà đi hỏi người khác?

    Hỏi: Thế nào là ngũ căn, ngũ thức và bát thức ?

    Đáp: Ở trong Duy thức gồm có bát thức : Năm căn trước gọi là tiền ngũ thức, thức thứ sáu là ư thức, thức thứ bảy là Matï na thức, thức thứ tám là A Lại Da thức, cũng gọi là Tạng thức. Nhưng tám cái thức chẳng phải có tám người, chỉ là tác dụng có tám. Lục thức trước người ta hiểu nhiều hơn, c̣n thức thứ bảy và tám th́ ít người biết: Thức thứ bảy là cái thức ngày đêm chấp ngă, ngoài ra c̣n có tác dụng truyền tống, tức thức thứ sáu lănh đạo năm thức trước làm mọi việc, tạo đủ thứ nghiệp nhân, rồi thức thứ bảy truyền vào tạng thức ( thức thứ tám ), khi chủng tử trong thức thứ tám đủ nhân duyên vận hành rồi, cũng sẽ do thức thứ bảy truyền cho thức thứ sáu để lănh đạo năm thức kia thi hành.

    Khi con người ngủ nghỉ rồi, năm thức trước ngưng hoạt động, c̣n thức thứ sáu từ vô thỉ đến nay ngày đêm hoạt động chẳng ngừng. Bởi năm thức trước là dưới sự lănh đạo của thức thứ sáu, tạo thiện tạo ác đều do thức thứ sáu, nên Lai Quả Thiền sư nói "Khi cây đèn dẹp bỏ rồi th́ chẳng ai lănh đạo hoạt động, không ngưng cũng tự ngưng".

    Trước kia tôi đă giảng về Tâm Kinh " Vô lăo tử diệc vô lăo tử tận", không có già không có chết; có già có chết tức có sanh tử, có luân hồi. Nếu thật có sanh tử luân hồi th́ sanh tử luân hồi hết là tận, tức lăo tử tận, trong Kinh nói chẳng thật có sanh tử luân hồi th́ làm sao có sanh tử luân hồi để hết ? Thế th́ tại sao nay chúng ta thấy có sanh tử luân hồi, thấy có già có chết ? Như nay tôi cũng già rồi, sau này cũng phải chết vậy ! Tại sao nói không có sanh tử ? - Sở dĩ thấy có sanh tử là do cảm giác sai lầm, do bệnh chấp thật của ḿnh mới sanh ra. Cảm giác sai lầm này do thức thứ sáu ngày đêm hoạt động, tự nhiên phải thấy sanh tử luân hồi măi.

    Theo Giáo môn, khi ban đêm thức thứ sáu hoạt động một ḿnh, Phật học gọi là "Độc đầu ư thức biến hiện cảnh chiêm bao". Trong cảnh giới chiêm bao cóngười quen cũng có người lạ, tất cả thế giới chiêm bao, sơn hà đại địa, nhà lầu xe hơi, luôn cả cái thân đều do thức thứ sáu biến hiện, đều do vọng tâm này biến hiện, trong kinh gọi là "Nhất thiết duy tâm tạo". Nay chúng ta không có ngủ, tiền ngũ thức hoạt động như thường, Phật học gọi là " Đồng thời ư thức biến hiện, tức tiền ngũ thức và thức thứ sáu đồng thời biến hiện hiện tượng thế giới này.

    Theo Thiền tông th́ độc đầu ư thức biến hiện nhắm mắt chiêm bao, với đồng thời ư thức biến hiện mở mắt chiêm bao đều là chiêm bao, Kinh Hoa Nghiêm nói "Nhất thiết duy tâm tạo", nhắm mắt chiêm bao là duy tâm tạo, mở mắt chiêm bao cũng là duy tâm tạo, chẳng có khác nhau, chỉ khác ở chỗ là do độc đầu ư thức hay do đồng thời ư thức biến hiện mà thôi.

    Thiền tông và Giáo môn khác nhau ở chỗ :" Thiền tông không cần nghĩa giải mà cần sự kiến tánh, c̣n Giáo môn th́ cần có nghĩa giải, về phần kiến tánh th́ từ từ cũng được, ấy là sự khác biệt vậy.

    Hỏi: Qui củ của Thiền đường như thế nào ?

    Đáp: Trong "Thiền Thất Khai Thị Lục" của Lai Quả Thiền sư có kể về qui cũ của Thiền đường : B́nh thường th́ gơ bảng hai lần cho đi tiêu tiểu, ngoài ra đóng cửa suốt; khi muốn ra ngoài th́ phải xin phép Duy Na, Duy Na đánh sáu hương bảng rồi cho mở cửa đi ra. Lúc đă thất th́ không cho xin phép, kể cả bệnh và tiểu tiện cũng không được, chẳng thà đi trong quần, đi trong chiếu nệm th́ được chứ mở cửa th́ không được. B́nh thường đă thất có người tuần hương, gặp người nói chuyện, cười giỡn hoặc quay đầu một cái là hương bảng đánh xuống liền, ấy là đối với người xuất gia. V́ người xuất gia thọ nhận sự cúng dường của thí chủ mười phương, có bổn phận tu thành Phật để độ chúng sanh, nên qui củ rất nghiêm khắc.

    Nay Thiền đường ở đây không phải chính quy, người tham dự đa số là cư sĩ tại gia, nên qui củ có phần nới rộng, ra vào tự do. Qui củ của Lai Quả Thiền sư nói là không thể áp dụng và thực hành ở đây rồi, nhưng ít nhiều cũng không được nói chuyện trong Thiền đường, không được nói chuyện, cười giỡn khi ra ngoài vệ sinh. Thiền thất kỳ này, Ḥa Thượng Trụ tŕ chính thức cho ra qui củ bằng hai thứ tiếng Việt và Hoa, hễ ai phạm phải, dù không đánh hương bảng, nhưng sẽ không cho tham dự Thiền thất nữa.

    Lai Quả Thiền Sư ví dụ Thiền đường như một bệnh viện lớn,mục đích của mọi người đến đây đều muốn giải thoát bệnh lớn sanh tử, mà bệnh sanh tử không trị th́ không bao giờ khỏi được. Nếu ai nói ḿnh không có bệnh đâu cần đến bệnh viện ? cho nên hễ ai không có ư tu hành th́ sẽ không đến .

    Hỏi: Kinh nói "Vạn pháp do nhân duyên sanh", tất nhiên vũ trụ cũng do nhân duyên sanh, ắt có chỗ bắt đầu và đoạn diệt, có thỉ có chung . Nhưng tại sao Kinh lại nói "Vô thỉ vô chung"?

    Đáp: Phật pháp nói "Tất cả duy tâm tạo", hễ duy tâm tạo là có đối đăi, có nhân duyên. Phải biết phàm là nhân duyên, duy tâm tạo th́ chẳng phải thật, nên trong Kinh Lăng nghiêm nói " Phi nhân duyên, phi tự nhiên". Theo lẽ thường t́nh của người thế gian, nếu chẳng phải nhân duyên th́ phải là tự nhiên, chẳng phải tự nhiên th́ phải là nhân duyên, nhưng sự thật th́ hai cái đều không đúng, đều không đủ lư do. Cũng như tôi thường lấy "con gà và trứng gà" làm thí dụ: Con gà và trứng gà đều là nhân duyên; con gà phải nhờ có trứng gà mới sanh ra, ấy là nhân duyên; trứng gà phải nhờ con gà mới được ấp ra, ấy cũng là nhân duyên, thế th́ cái nào là nhân duyên ban đầu ? Con gà hay trứng gà ? ___Nếu không được th́ phải là tự nhiên, tức tự nhiên có trứng gà, vậy có được không? Mọi người đều biết con gà phải do trứng gà ấp ra, trứng gà phải do con gà sanh ra. Nên Phật nói " Phi nhân duyên, phi tự nhiên", cả hai đều do chấp tâm của ḿnh mà có, tức con gà cũng là duy tâm tạo, trứng gà cũng là duy tâm tạo. Tất cả vũ trụ vạn vật đều là duy tâm tạo, nếu có một pháp nào chẳng phải duy tâm tạo th́ lời Phật là vọng ngữ !

    Tâm tạo th́ chẳng thật, nên tất cả Đại thừa liễu nghĩa đều phá chấp thật. Nếu nói là nhân duyên th́ phải có sự bắt đầu, v́ nhân duyên chẳng phải thật nên không có sự bắt đầu, gọi là "Vô thỉ". Phải biết vũ trụ vạn vật kiến lập từ chỗ nào? Ví như muốn cất một căn nhà, trước tiên phải có sườn nhà, thế th́ vũ trụ vạn vật lấy ǵ làm cái sườn ? Là lấy "Không gian, thời gian, số lượng" ba thứ để làm khung sườn, hễ rút ra ba thứ trên th́ vũ trụ vạn vật liền tiêu. Nhưng ba thứ này là ǵ ? Không gian, thời gian, số lượng chỉ là ba khái niệm ở trong vọng tâm của ḿnh, đều không có bản thể. Do ba khái niệm này kiến lập vũ trụ vạn vật, cũng chính ba khái niệm này là hư vô, không bản thể. Như tôi thường thí dụ, chúng ta đang ở trong mở mắt chiêm bao , hiện thực thế giới này vốn là hư vô, như ở trong thế giới của nhắm mắt chiêm bao. Vốn là hư vọng, nên nói là nhân duyên cũng không đúng, nói là tự nhiên cũng không đúng, cho nên Phật nói "Vô thỉ", bởi thời gian không có bắt đầu th́ tất cả đều không có bắt đầu. Nếu nói thời gian có bắt đầu th́ trước khi sự bắt đầu của thời gian có thời gian không ? Lư lẽ này chính các nhà khoa học cũng chẳng thể giải thích vậy.

    Hỏi: Trồng bí được bí, trồng đậu được đậu, đă gieo trồng thiện nhân th́ sau này ắt được phước quả. Nhưng người tham Thiền chẳng gieo trồng phước nhân ǵ th́ làm sao gặt được phước quả ?

    Đáp: Tại bệnh chấp thật của ông c̣n nặng nên có câu hỏi này. Như Kinh Pháp Hoa nói " Như thị nhân như thị quả", nhân hữu vi được quả hữu vi, phước báo thế gian thuộc về nhân quả hữu vi, c̣n tham Thiền không biết ǵ cả thuộc nhân vô vi, nhân vô vi ắt được quả vô vi__Quả vô vi là thành Phật, thần thông biến hóa, tự do tự tại, không bao giờ hưởng hết, chớ có sợ là không có phước báo !

    Về phước báo của thế gian, sự giàu sang phú quí, hưởng rồi sẽ hết, biết đâu trong khi hưởng phước báo giàu sang ấy có thể tạo ác nghiệp nặng hơn, kiếp sau sẽ thọ nhận ác báo nhiều hơn. Nên có được phước quả đồng thời cũng tạo lên khổ quả, do đó phải biết tạo nhân vô vi mới là vững chắc.

    Hỏi: " Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ" có đồng nghĩa với câu "Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng" không ?

    Đáp: Cũng chẳng có khác, nghĩa là bất nhị. Lục Tổ nói " Thuyết pháp không ĺa Tự tánh", tự tánh vốn bất nhị th́ tất cả pháp đều bất nhị. Như ở trên nói " Tất cả duy tâm tạo", pháp vị nào cũng là duy tâm tạo, do tâm tạo nên sanh ra đủ thứ cảnh huyển, nếu tâm không tạo th́ tất cả vốn tịch diệt.

    Hỏi: Câu " Pháp môn vô lượng thệ nguyện học" trong tứ hoằng thệ nguyện có áp dụng trong Thiền môn không?

    Đáp: Nay tôi áp dụng Tứ hoằng thệ nguyện trong Thiền với ông : VÔ BIÊN CHÚNG SANH THỆ NGUYỆN ĐỘ; trong kinh Pháp Bảo Đàn nói "chúng sanh" là chúng sanh của Tự tánh, chúng sanh của tâm: Tâm tham sân si, tâm độc ác, tâm này tâm kia. ấy là chúng sanh. Nay tham Thiền khởi nghi t́nh là cây chổi automatic quét sạch tất cả những thứ tâm tham sân si, độc ác v.v. ấy là vô biên chúng sanh đă được độ rồi !

    VÔ BIÊN PHIỀN NĂO THỆ NGUYỆN ĐOẠN: Khi khởi lên nghi t́nh, tất cả phiền năo đều tự động quét sạch, ấy chẳng phải là vô biên phiền năo đă được đoạn ?

    VÔ LƯỢNG PHÁP MÔN THỆ NGUYỆN HỌC: Người đời hay lầm tưởng là phải học hết từng môn một, đă nói là "Vô lượng" th́ làm sao học hết được ! Phật với Tổ là muốn chúng ta nhất môn thâm nhập, ví như từ Chợ Lớn đi Sài G̣n có biết bao con đường, đường Trần Hưng Đạo, Đường Nguyễn Trăi, đường Hùng Vương v.v.nếu muốn đi hết tất cả các con đường th́ đi đến chừng nào mới tới ? Nên ư của Phật là muốn chúng ta lựa chọn một trong vô số pháp môn , như nay đă chọn pháp môn tham Thiền này là bao gồm tất cả rồi, ngày đêm tham thiền tức là ngày đêm niệm Phật, ngày đêm tŕ chú. chẳng c̣n sót một pháp môn nào, tham đến thành Phật th́ là VÔ THƯỢNG PHẬT ĐẠO THỆ NGUYỆN THÀNH vậy. Cho nên, trong một pháp môn tham Thiền bao gồm cả Tứ hoằng thệ nguyện. Ở trong Giáo môn nói đến "Văn, tư , tu", trong Thiền môn cũng bao gồm cả : Nay quư vị nghe tôi dạy tham Thiền ấy là Văn, tự ḿnh bắt đầu tham là dùng ư thức để tham câu thoại đầu, ấy là Tư, có văn có tư tức là Tu.

    Hỏi: Vọng từ đâu sanh khởi ?

    Đáp: Câu hỏi này có trong Kinh Lăng Nghiêm, Phú Lâu Na hỏi Phật :" Vọng từ đâu sanh? Tại sao có vọng?" Phật bảo :" Đă gọi là vọng th́ chẳng có nguyên do, nếu có nguyên do th́ chẳng gọi là vọng" . vấn đề này dùng lời nói chẳng bao giờ thấu hiểu được, bởi hễ có lời nói th́ không lọt vào nhị biên cũng lọt vào trung đạo hoặc tứ cú, phải đợi cho đến kiến tánh th́ mọi việc tất hiểu.

    Hỏi: Làm thế nào phân biệt tham thoại đầu và niệm Phật ?

    Đáp: Niệm Phật thuộc Tịnh Độ tông, Tham thoại đầu thuộc Thiền tông. Pháp Tịnh Độ là chấp thật, tham Thiền th́ phá chấp thật, hai pháp trái ngược nhau. Tham Thiền cần có nghi t́nh, c̣n Tịnh Độ là Tín, nguyện, hành, cần có ḷng tin. Phật là tùy thuận căn cơ của từng chúng sanh, muốn cứu giúp tất cả chúng sanh. Do tánh của chúng sanh quá chấp thật, nếu bảo bỏ chấp th́ lại chẳng chịu, cho nên chấp vào Thập pháp giới th́ chi bằng cho chấp Phật, đến khi được văng sanh Cơi Tịnh Độ rồi, mới dần dần bỏ được sự chấp ấy, bởi hoàn cảnh tự nhiên khiến buông bỏ sự chấp thật và chuyển qua tham Thiền , sẽ được kiến tánh. Hễ c̣n chấp thật th́ chẳng bao giờ kiến tánh được. Như Lai Quả Thiền sư nói "Quá khứ chư Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật, chẳng vị nào không do tham Thiền mà kiến tánh".

    Hỏi: Khi đề khởi câu thoại đầu, vẫn khởi niệm nhưng không phát khởi được nghi t́nh th́ phải làm sao ?

    Đáp: Tôi nói là HỎI chứ không nói là niệm, đừng có niệm. Có hỏi phải có đáp, hỏi rồi đáp không ra, thắc mắc ấy chính là nghi t́nh. Nếu c̣n đề khởi nghi t́nh không được th́ cứ hỏi tới hoài, mười ngày, hai mươi ngày, ba mươi ngày . có người hỏi đến hai tháng mới phát khởi được nghi t́nh. Một khi đă phát khởi nghi t́nh th́ trong thời gian ngắn cũng phát được trí huệ, từï hạ căn chuyển thành thượng căn. Câu thoại đầu là câu hỏi, chính câu hỏi đó là nghi t́nh.

    Hỏi: Có một bài kệ của Tuệ Trung Thượng sĩ , có người dịch rằng " Tŕ giới kiêm nhẫn nhục, được tội chẳng được phước, muốn biết chẳng tội phước, đừng tŕ giới nhẫn nhục" , Sư thấy thế nào?

    Đáp: Nguyên văn bài kệ là :"Tŕ giới kiêm nhẫn nhục, chiêu tội bất chiêu phúc. Dục tri vô tội phúc, phi tŕ giới nhẫn nhục". Câu thứ hai "Chiêu tội bất chiêu phúc" không thể dịch là " được tội chẳng được phước", v́ chữ CHIÊU là chiêu cảm, như thiện nhân chiêu cảm thiện quả, tức vui; ác nhân chiêu cảm ác quả, tức khổ. Nhưng ở trong Phật pháp th́ thường là thiện nhân chiêu ác quả, ác nhân lại chiêu thiện quả. Tại sao? Ví như bậc tu sĩ chúng ta, chịu sự cúng dường của mười phương, nếu làm những việc bố thí từ thiện, không lấy Phât giáo làm trung tâm mà lấy tự kỷ làm trung tâm, th́ những việc từ thiện ấy chỉ làm cho địa vị danh dự của ḿnh được nổi bật, để cho ḿnh được cúng dường nhiều thêm, th́ việc ấy là thiện nhân chiêu ác quả. Kinh Lăng Nghiêm nói là "hư tiêu tín thí", thuộc tội địa ngục. C̣n "Ác nhân chiêu thiện quả" th́ chỉ ở trong Thiền tông các Tổ Sư mới thấu, người thế gian chẳng thể hiểu được, hễ bắt chước làm theo th́ tội rất nặng. Ví như Thiền sư đă kiến tánh muốn độ chúng sanh, dùng sát sanh để làm Phật sự, như ngài Nam Tuyền chém mèo, Quy Tông chém rắn. nếu người không có cảnh giới đó mà học theo th́ tạo tội rất nặng .

    - C̣n câu thứ tư "Phi tŕ giới nhẫn nhục" nếu dịch thành " Đừng tŕ giới nhẫn nhục" th́ hại người biết bao ! chữ PHI là không phải , tội với phước là đối đăi, là nhị. Ư nói muốn biết không tội phước , đạt đến chỗ không tội phước, đạt đến chỗ bất nhị ấy chẳng phải do tŕ giới nhẫn nhục mà được. Nhưng hễ người nào có ư không tŕ giới nhẫn nhục th́ người ấy không thể đạt được. Phật giáo là lấy sự tŕ giới làm căn bản, lúc Phật tại thế là y Phật làm bổn sư, sau khi Phật nhập Niết bàn th́ phải y theo Giới luật làm bổn sư, Giới là thay thế cho Phật vậy.

  • Thực Hiện: Minh Diệu Thiện

    Duy Lực Ngữ Lục                                            Xin xem tiếp phẩm 2_phần 1