Văn Hóa Phật Giáo                

TƯỢNG PHẬT NHẬP NIẾT BÀN  

 

 

 Núi Tà Cú (núi Cú) là một danh lam thắng cảnh (thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện hàm Thuận Nam, Tỉnh Bình Thuận) gắn liền với quần thể di tích lịch sử văn hoá chùa Tổ (chùa trên) và Linh Sơn Long Đoàn (chùa dưới). Năm 1993, Bộ văn hoá - Thông tin công nhận di tích danh lam thắng cảnh núi Tà Cú là di tích lịch sử văn hoá. Chùa Tự Cổ được vua Tự Đức ban sắc phong bốn chữ "Linh Sơn Trường Thọ", toạ lạc trên lưng chừng núi, độ cao 420 mét so với mực nước biển quần thể chùa hình thành theo thế núi nên chùa trên và chùa dưới đều quay mặt về hướng Đông Nam, với kiền trúc đặc trưng theo Phật giáo Bắc Tông thời Nguyễn, được sư Tổ Hữu Đức khai sơn vào khoảng năm 1870 - 7880 và được các chư hậu Tổ tiếp tục tùng tu. Cấu trúc chùa Tổ có ba gian. Giữa là chánh điện thờ Phật, bên trái là nhà giám tự, bên phải là nơi thờ Tổ Hữu Đức.

Trải qua thời gian 135 năm, dấu tích cổ kính vẫn hằng in, rêu phong phủ đầy trên những nét cong huyền hoặc của mái chùa, trên nét chạm khắc lưỡng long chầu nguỵệt. Các câu chú chuẩn Đề ở vòng linh phù được chạm khắc trên vách đá sau chùa in dấu với thời gian  về Đại lão Hoà Thượng đã có nội lực tu luyện, thấu triệt tinh thần Mặt tông đích thực làm phương tiện tu chứng đạt hai chữ của bậc đại trí, giác ngộ.

Từ Tổ đình Linh Sơn Trường Thọ ở lưng chừng núi sẽ thấy trên cao cảnh Tịnh độ nhân gian gồm tam thế Phật nổi bật giữa không trung bạt ngàn xanh của cây cổ thụ. Tượng Phật Di Đà cao 7 mét, Tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí cao 6,5 mét như hoà vào bức tranh trầm mặc của rừng già. HT trụ trì Thích Vĩnh Thọ đã có công phát thảo công trình này từ năm 1960, do kỹ sư Trương Đình Ý, pháp danh Quảng Lưu xây dựng. Công trinh là một trong bảy cấp của cảnh Tịnh Độ đạo tràng theo Quán kinh và kinh Di Đà. Nhưng, công trình mỹ thuật mang tính đồ sộ nhất Đông Nam Á và độc đáo nhất là pho Tượng lộ thiên Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn trên đỉnh núi dài 49 mét, cao 11 mét với tư thế nằm nghiêng, lưng tựa vào vách núi, gối đầu lên tay. Pho Tượng bằng bê tông cốt thép phủ vôi trắng được khởi công xây dựng từ năm 1962, sau 4 năm công trình mới hoàn thành với tổng thể chu vi 832 mét, tượng trưng đầy đủ hình tứ thánh lục phàm và thất chúng Phật tử. Đức phật nằm nghiêng dài  49 mét tượng trưng cho 49 năm từ khi đức Phật thành đạo đến khi nhập diệt. Bên dưới Tượng là những tam cấp được nối kết bằng đá chẻ, phía sau lưngTượng là vách núi và cây rừng cổ thụ âm u, tĩnh tịch. Từ Tổ Đình Linh Sơn Trường Thọ đến viêng Tượng Phật nhập niết bàn phải đi men theo lối đá lớn nhỏ ngoằn ngoèo, hai bên là hàng cây cổ thụ.

Tổ sư Hữu Đức nguyên quán là Bạc Má, quận Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên sinh năm 1812 trong một gia đình quí tộc. Thuở nhỏ Tổ rất thông minh, hiền lành, sớm an tường thi lễ. Năm 17 tuổi cha mẹ qua đời, 5 năm sau, Ngài giao lại gia sản cho anh em, bắt đầu cuộc hành trình tìm đạo. Trên mảnh thuyền nan lướt sóng, suốt ba ngày liền Tổ Hữu Đức tìm đền chùa Phước Hưng bái yết sư phụ là Ngài Trí Chất và được đặt pháp danh Thông Ân. Suốt 13 năm liền, Tổ Hữu Đức luôn  dùi mài kinh điển, giữ nghiêm giới luật. Sau đó, Tổ rời chùa Phước Hưng, đến làng kim thành, xứ Bàu Trâm dựng nên  ngôi thảo am chuyên tu thiền và bốc thuốc tế độ cho dân làng. Đức độ của một thiền sư trẻ đã lan dần khắp nơi nên dân làn góp nhau dựng nên chùa Kim Quang mời Tổ về hành đạo. Ở đây được 30 năm thì duyên lành đến, Ngài được Hoà thượng Bửu Tạng truyền Đại Giới. Lúc này, nhận thấy đường tu cần phải ẩn mình để tịnh niệm, nghiền ngẫm những giáo lý thâm sâu, Tổ Hữu Đức, tìm đến Bàu Siêu gần bãi Kê Gà tịnh tu nhưng dân chúng lại kéo nhau đến xin qui y ngày càng đông. Lúc này, tuổi đã cao nhưng tâm niệm tịnh tu vẫn cha thành, Tổ Hữu Đức lại âm thầm bằng ngàn...

Nghĩ rằng trà Cú là nơi thâm sơn cùng cốc, nên Tổ Hữu Đức len mình qua đại ngàn đầy nguy hiểm. Đến được bãi đá bàn hạ rồi tiếp tục chinh phục bãi đã bàn thượng, đến đây Tổ tạm dừng chân tu khổ luyện nhưng chỉ dừng có ba tháng, Ngài lại tiếp tục du gây rừng vượt lên tận đỉnh núi cao tìm được hang đá sâu thẳm, hiểm trở làm nơi "Như Lai tịch thất" ẩn tu và không một ngày xuống núi.

Núi rừng đại ngàn thâm sâu với thú dữ, khí hậu khắc nghiệt, song đã không cản ngăn quyết tâm của một bậc tu hành đầy nội lực. Nhừ nội lực cao siêu mà Tổ (thuộc dòng Lâm Tế chánh tông thứ 40) đạt được sức mạnh chuyển hoá vạn vật xung quanh trong suốt 16 năm khai sơn với biết bao huyền thoại mầu nhiệm quanh bậc đại trí, đại hùng. Tương truyền, khi Tổ dừng chân trên hang núi hẹp, sâu thẳm ẩn tu, ăn rau rủi bên vách núi, uống nước suối trong hang, toạ thiền và chuyên tụng kinh Tam Bảo. Phía chân tượng phật nằm ngày nay là hang Tổ, cửa vào rất hẹp, chỉ đủ cho một người, luồn vào trong có những tảng đá bàn là nơi Tổ thiền định càng vào sâu, hang càng ngóc ngách, âm u. Lòng đá dốc ngược như vô tận. Lối đi ngày càng trút xuống dần, nhỉều vực thẳm. Người xưa kể rằng, người đi thám hiểm phải đi đốt nhang làm dấu dể quay về, hoặc thả vào hang một quả bưởi vài hôm sau đã thấy nó ngoài biển Kê Gà.

Đức độ, nội lực tu tập của Tổ đã quy phục được muôn loài thú dữ, quanh hang Tổ lúc nào cũng có thú rừng: Chim muông, mảnh hổ,... về thọ pháp, nghe kinh. Đó là cặp chim hoàn anh lúc nào cũng đậu bên hang, hễ khách đến thì hót vang báo hiệu rồi bay đi dẫn đường cho khách. Tương truyền bạch hổ luôn phủ phục bên hang, hộ tống Tổ và được Tổ cho quy y. Ngày Tổ viên tịch (ngày 5 -10 -1888), bạch hổ buồn rầu, nhịn ăn nằm bên tháp Tổ cho đến chết. Ngày nay, khi đến viếng Tổ đình Linh Sơn Trường Thọ, ngay bên cạnh tháp của Tổ, người ta cũng nhận thấy được một nấm mồ nhỏ, nơi chôn cất nhục thân bạch hổ.

Năm Tự Đức thứ 33 (1880), Hoàng thái hậu là bà Tư Dũ bị bệnh nặng, các danh y đều bất lực. Vua được tin Tổ là người danh đức nên hạ chiếu mời Tổ về chữa bệnh. Nhưng vì đã nguyện không xuống núi nên Tổ đã đưa cho sứ thần các chú Chuẩn Đề, thảo dược cùng dùng. Thật mầu nhiệm, bệnh của Hoàng thái hậu đã giảm hẳn, vua nhớ ơn và cảm phục nên ban sắc phong bốn chữ "Linh Sơn Trường Thọ". Có người còn kể, sự linh ứng của Tổ còn mãi về sau này, đó là khi xây dựng Tượng Phật nhập niết bàn 49 mét trên đỉnh Linh Sơn Tà Cú, lúc bấy giờ để đưa được cát xây từ dưới núi lên rất khó khăn, giữa địa hình núi đá rất hiểm trở, phủ kín cây rừng. Để có các xây dựng, trước ngày thi công (tuỳ thuộc thời gian của thợ hồ), HT Thích Vĩnh Thọ, trụ trì chùa cho trữ nước dùng vào các mái chùa rồi bít kín các mạch nước chảy hàng ngày. HT thắp nhang chú nguyện, sáng ra từ các mạch nước đã trào ra những đụn cát nhuyễn dùng được cho công trình mà không cần mang từ chân núi lên..../.

Sưu tầm trong Báo Giác Ngộ

Thực hiện: Ngọc Liên

Văn Hóa Phật Giáo