|
Bên cạnh nhà tôi có một căn nhà bỏ
hoang. Đó là căn nhà của ông Phúc. Ông Phúc đă được con đón ra
thành phố sinh sống. Căn nhà hai gian ẩm thấp, xây bằng gạnh
tro ḷ, lợp ngói mũi. Rêu bám tràn qua bậc thềm lên tận bức
tường hè.
Nom căn nhà im ỉm như khu miếu cổ. Không có
người ở, cái sân gạch cũng xanh loang lổ rêu và đầy lá rụng.
Trước nhà có một cây bưởi xum xuê. Vào tiết xuân cây bưởi nở
hoa trắng xóa. Từ pḥng học bên này tôi thường ngồi trước bàn
sách, buồn bă ngắm những cánh hoa bưởi lặng lẽ rơi xuống. Thứ
hương bưởi không có chủ bần thần đến hoang lạnh.
Một
hôm, trong bữa cơm, bố tôi bảo nhà tôi sắp có hàng xóm mới. Sẽ
có một gia đ́nh từ ngoài đê chuyển vào. "Ông Phúc nhượng lại
khu nhà ấy có năm triệu đồng. Rẻ thật...", bố tôi xuưt xoa. Mẹ
tôi chép miệng: "Ở đây đồng trũng nước chua, làm ăn ǵ cũng
khó. Căn nhà ấy c̣n bán được là tốt".
Tôi hồi hộp chờ
đợi chủ nhân mới của căn nhà. Tháng tám, nắng thu vương văi
trên sân rêu. Những trái bưởi rám nắng, thả hương lăng đăng
bay sang t́m tôi như để chia sẻ sự cô đơn. Măi gần tối tôi mới
thấy họ dọn đến - những người hàng xóm mới của nhà tôi. Một
người đàn ông gầy g̣ mặc bộ quân phục cũ, chiếc ba-lô đeo trễ
một bên vai. Theo sau ông là cô bé khoảng 17 tuổi gánh một
gánh có vẻ không lấy ǵ làm nặng lắm. Họ đẩy cánh cửa cổng rít
ken két bước vào sân. Tôi định đứng dậy sang làm quen với
những người hàng xóm mới nhưng tôi cứ thấy ngài ngại. Có lẽ v́
sự có mặt của cô bé. Tôi kịp nhận ra cô bé khá xinh. Toàn thân
cô bé tỏa ra mầu trắng ngời như những bông hoa bưởi. Đặt gánh
xuống cô reo nho nhỏ chạy ngay đến chỗ gốc bưởi. Nhặt những lá
bưởi vàng, cô ấp chúng vào giữa đôi bàn tay xinh xinh như hai
cái bím tóc nhỏ của cô.
- Huyền ơi, vào nhà dọn dẹp,
con!
Nghe tiếng người đàn ông gọi, cô bé giật ḿnh chạy
vào. Vậy là tôi đă biết tên cô bé. Tỳ tay xuống bàn tôi vẩn vơ
suy nghĩ. Từ nay cây bưởi đă có chủ mới. Hương bưởi sẽ không
c̣n cô đơn nữa. Nhưng không hiểu v́ sao tôi lại thấy thoáng
buồn.
Mấy hôm sau tôi biết bác Tấn (tên người hàng xóm
mới) là bệnh binh. Hơn ba mươi tuổi bác Tấn mới lấy vợ. Vợ bác
cũng là bộ đội chuyển ngành. Họ lấy nhau, mười năm chưa có
con. Các bác sĩ chẩn đoán cặp vợ chồng lớn tuổi này cả hai đều
bị ảnh hưởng chất độc da cam thời chiến tranh chống Mỹ, cứu
nước. Thuốc thang măi, mấy năm sau người vợ mới có thai. Nhưng
khi đứa bé chào đời th́ người đàn bà đó không bao giờ được
nghe tiếng khóc của con ḿnh. Ca đẻ khó, các bác sĩ chỉ cứu
được đứa bé. Đứa bé ấy chính là Huyền.
Ở cái vùng quê
hẻo lánh này, tất cả thanh niên chúng tôi đứa nào cũng khát
khao muốn vượt qua "cánh đồng làng". Mẹ thường động viên tôi:
"Cố mà học con ạ, may ra mới thoát khỏi cảnh Bán mặt cho đất,
bán lưng cho trời". Tôi được bố mẹ chăm sóc, tạo điều kiện cho
ăn học. Nhà người hàng xóm mới không giống nhà tôi. Bệnh cũ
tái phát, bác Tấn đau ốm liên miên. Cô bé Huyền phải nghỉ học
từ lớp 10 để chăm sóc bố. Họ sống tằn tiện, có phần đạm bạc,
không ồn ào, và cũng âm thầm như cái vùng quê heo hút
này.
Mùa thu qua nhanh, cây bưởi đă gần vơi hết quả.
Bầu trời luôn xám xịt, thấp lè tè. Những cơn gió lạnh đầu mùa
se sẽ vào vườn, rứt xuống đất những chiếc lá bưởi vàng cuối
cùng. Buổi chiều chủ nhật tôi sang nhà người hàng xóm mới.
Không thấy bé Huyền đâu. Người đàn ông ngồi im ĺm trong nhà.
Không đáp lại tiếng chào của tôi ông nói khe khẽ như đang nói
với chính ḿnh:
- Nó đi rồi... nó đi thật
rồi...!
Tôi hiểu "nó" ở đây là Huyền. Ánh mắt người đàn
ông vẫn đăm đăm nh́n ra ngơ. Ông thở dài lẩm bẩm:
- Sao
nó phải đi cơ chứ. Vào tận miền nam. Miền nam, tận miền
nam...
- Tại sao bác để cô ấy đi?
- Nó nói nếu
không để nó đi, liệu tôi có lo được tương lai cho nó? - Bất
thần người đàn ông đứng phắt dậy đấm vào ngực ḿnh b́nh bịch:
- Tại cái bệnh chết tiệt này. Tại tôi hèn quá. Tôi không lo
được tương lai cho nó... Tại tôi... Tại tôi...!
Tôi
buồn rầu nói với người đàn ông rằng lớp trẻ bây giờ đứa nào
cũng muốn bay bổng, muốn vượt qua cánh đồng làng. Rằng ở xóm
này những ai lớn lên không theo con đường học hành th́ cũng
phiêu tán ngược xuôi khắp nơi. Rằng không thể trói chúng tôi ở
măi cái nơi đồng trũng nước chua, không có nhà máy, không có
khu công nghiệp này. Tôi nói một thôi, vẻ hùng hồn lắm. Người
đàn ông lặng lẽ ngồi xuống. Khuôn mặt hốc hác của ông nhăn
lại. Rồi ông ho. Những tiếng ho như muốn nổ tung cái lồng ngực
lép kẹp của ông.
Thỉnh thoảng tôi gặp người bưu tá đến
nhà bác Tấn. Rút từ chiếc cặp vải sờn mép ông đưa cho bác Tấn
khi là lá thư, khi là giấy mời nhận tiền. Mẹ tôi nói với bố:
"Ông Tấn sướng, con Huyền làm trong miền nam lương cao, tháng
nào cũng gửi tiền về". Bố tôi không mặn mà lắm với câu chuyện
của mẹ. Người thủng thẳng: "Có lẽ nó sắp gửi cả một cô vợ miền
nam về cho ông Tấn đấy". Mẹ tôi nguưt dài. Bố tôi bỗng cáu
kỉnh: "Không à, tưởng gửi tiền về là đủ à. Ông ấy sống lủi
thủi một ḿnh, thanh niên thời buổi này đứa nào cũng thích đi
xa, nhăm nhăm bỏ cả làng, cả quê...". Tôi không biết cô bé
Huyền vào trong ấy làm nghề ǵ. Ngồi trong pḥng học tôi nh́n
sang căn nhà người hàng xóm. Cây bưởi trơ ra những cành gầy
guộc không một cọng lá, run rẩy trong mưa. Cái sân gạch đầy lá
rụng và rêu tràn xanh lên bậc hè. Tôi thấy bác Tấn cặm cụi
ngồi đan cót. Dạo này bác đan cót nhập cho hợp tác xă. Mẹ tôi
bảo: "Ông Tấn hà tiện, một tháng vừa lương bệnh binh vừa tiền
con Huyền gửi về dễ đến năm trăm ngh́n đồng. Có tiền mà chẳng
dám ăn, chẳng dám uống. Thuốc bệnh chỉ toàn uống loại thuốc lá
rẻ tiền". Nhiều đêm tôi nghe tiếng ho từ bên nhà người hàng
xóm vọng sang. Mùa hoa bưởi chưa đến. Cái hương bưởi ngan ngát
chưa về. Thay vào đó là mùi thuốc lá hăng hắc xông qua ô cửa
pḥng học của tôi.
Năm sau tôi vào đại học. Ước mơ vượt
cánh đồng làng của tôi đă thành hiện thực. Nghỉ hè tôi về thăm
nhà. Pḥng học giờ bố tôi làm nơi cất lúa khoai. Buổi tối bố
tôi từ nhà người hàng xóm chạy về gọi giật:
- Sang nhà
bác Tấn ngay, bác trở bệnh nặng lắm. E không qua
được.
Tôi và mẹ chạy sang. Nhà bác Tấn đông nghịt
người. Những người hàng xóm và các bác ở Hội Cựu chiến binh
xă. Người ta bảo bác Tấn đang lóe sáng những phút giây cuối
cùng, như ngọn đèn cạn dầu vụt sáng lên để rồi tắt. Bác vẫn
nhận ra tôi. Bàn tay xương xẩu của bác khẽ vẫy, gọi tôi lại.
Giọng bác thều thào, đứt quăng:
- Cháu điện... miền
nam... gọi Huyền... Huyền về, cái rương... rương này... bác
gửi... gửi nhà cháu cho... cho nó...
Bố tôi gật gật
đầu, gương mặt xúc động tột độ.
Gần nửa đêm, bác Tấn
trở ḿnh gọi mấy tiếng: "Con ơi. Huyền ơi..." rồi "đi". Không
có tiếng gào khóc, những người chung quanh lặng lẽ lau nước
mắt. Tiếng gió rú ào ào ngoài vườn. Trời lắc rắc mưa. Bản tin
thời tiết báo đêm nay có gió lạnh tràn về.
Hơn mười
ngày sau cô bé Huyền mới từ miền nam ra. Hai cái bím tóc xinh
xinh không c̣n. Thay vào đó là mái tóc ngắn, được ốp sấy kiểu
cách. Bố tôi trao chiếc rương lại và bảo tôi sang giúp Huyền
dọn dẹp căn nhà lại cho "đỡ hơi lạnh". Cánh cổng lại rít lên
ken két. Tôi giúp Huyền cạy nắp chiếc rương được bác Tấn đóng
đinh cẩn thận. H́nh như đồ đạc trong rương bác đă sắp xếp,
chuẩn bị từ lâu. Một chồng báo xếp ngay ngắn. Một bọc tiền gói
trong hai lớp ni-lông. Trong bọc tiền là một lá thư có rất
nhiều lỗi chính tả. "... số tiền chín triệu đồng gồm tất cả
tiền của con gửi về và tiền lương của bố dành dụm cho con sau
này... Bố lo cho con lắm...". Huyền vừa đọc thư vừa khóc. Tôi
thắp hương lên bàn thờ bác Tấn. Trên bàn thờ không có ảnh của
bác, chỉ có chiếc ba-lô bạc mầu. Chiếc ba-lô tôi đă trông thấy
bác Tấn đeo trễ một bên vai hôm dọn về nhà này.
Tốt
nghiệp ra trường tôi quyết định xin về quê công tác. Căn nhà
người hàng xóm vẫn c̣n. Huyền không vào miền nam làm nữa. Cô
lập một trại trồng nấm tại làng. Mẹ tôi nói: "Con Huyền giỏi,
vốn của nó bây giờ có đến vài trăm triệu đồng. Nó giúp hơn hai
mươi đứa con gái thất nghiệp ở làng này có công ăn việc làm".
Tôi vào căn pḥng học cũ, mở toang cửa sổ. Cái sân gạch và khu
vườn bên nhà người hàng xóm đă thành một khu trại nuôi nấm.
Lảnh lót tiếng cười con gái. Cây bưởi vẫn đứng đó. Cái tán lá
của nó nhô lên khỏi mái trại, xanh ŕ. Mùa hoa bưởi chưa đến
nhưng hương thơm cứ ngào ngạt đâu
đây...
Nhân Dân
Thực hiện: Ngọc Liên |