


CHƯƠNG II
Đối với
một người như Phụ vương nàng, Huyền Trân không thể kể lể dài ḍng. Trúc
Lâm đại sĩ đă từng thăm viếng Chiêm Thành và đă lưu lại kinh đô Trà Bàn
của nước này hơn bảy tháng trời. Trong thời gian đó, ngài đă làm người
thượng khách của vua Chàm. Ngài đă t́m hiểu về nếp sống văn hóa và phong
tục của vương quốc này và đă đem ḷng yêu mến ông vua Chàm c̣n trẻ tuổi
và can trường ấy. Harijit là một ông vua thông minh. Hồi phụ vương nằng
gặp chàng. Harijit mới có ba mươi bảy tuổi. Vương hiệu của chàng là Jaya
Simhavarman đệ tam muội, người Đại Việt thường gọi chàng là Chế Mân.
Chính nhờ vào đảm lược của chàng mà Chiêm Thành phá vỡ được âm mưu xâm
lăng của quân đội Hốt Tất Liệt.
Phụ
vương nàng mở đầu chuyến du Chiêm vào tháng ba năm Tân Sửu, tức là bảy
năm về trước. Ngày từ biệt kinh đô Phật Thệ ngài đă hứa với Harijit là
sẽ gả Huyền Trân, đứa con gái yêu quư của ngài cho chàng. Hồi đó công
chúa mới mười bốn tuổi. Ngài đă nói với Harijit rằng công chúa c̣n bé
lắm, và chàng hăy đợi tới lúc công chúa lên mười tám mới nên cho phái bộ
về Thăng Long để làm lễ vấn danh. Huyền Trân c̣n nhớ cái ngày Thượng
hoàng đi Chiêm thành về. Đó là vào tháng mười một năm Sửu, khí trời đă
rét lắm. Trước khi về núi Yên Tử, Thượng hoàng đă ghé lại kinh sư đàm
đạo thật lâu với vua Anh Tông, anh cả của nàng. Có lẽ hai người đă nói
nhiều về chính sách ngoại giao Chiêm Việt. Hôm huynh vương mở tiệc chay
cúng dường Thượng hoàng, công chúa và anh nàng là Huệ Vơ Vương Quốc Chẩn
cùng được vời đến tham dự. Anh Chẩn của nàng hồi đó đă hai mươi tuổi rồi
nên đ́ đứng khá chững chạc. Sau bữa cơm, Thượng hoàng gọi riêng nàng lại
và cho nàng biết ngài đă hứa gả nàng cho vương quốc họ Chế. Hồi đó tuy
đă mười bốn tuổi rồi mà công chúa vẫn c̣n trẻ con lắm. Nàng đă đón nhận
cái tin đó như một cái tin không có liên hệ trực tiếp tới ḿnh. Nàng chỉ
cúi đầu vâng dạ, và cho rằng chuyện chồng con là một chuyện xa vời,
không cần nghĩ tới lúc đó. Ai ngờ thời gian đi vùn vụt như một mũi tên,
và vào lúc bất ngờ nhất, phái bộ của nước Chiêm Thành đă đến. Phái bộ
này đông hơn một trăm người, do sứ thần Chế Bồ Đài cầm đầu, đem theo
không biết bao nhiêu là bảo vật trân quư để làm lễ cầu hôn. Đó là vào
đầu tháng hai năm Ất Tỵ, khi chiếc bánh chưng cuối cùng trong cung vừa
ăn hết và nàng vừa mới lên mười tám tuổi. Bất thần đứng trước một t́nh
thế cấp bách, công chúa sinh hoảng. Nàng không biết tỏ cùng ai. Mẹ nàng,
hoàng hậu Khâm Từ, đă mất năm nàng lên sáu tuổi. Bà d́ của nàng là hoàng
hậu Tuyên Từ, em ruột của mẹ nàng, th́ tính t́nh nghiêm nghị quá, không
bao giờ công chúa nghĩ là có thể bộc lộ tâm t́nh với bà. Nước Chiêm
Thành đối với công chúa là một cái ǵ hoàn toàn xa lạ. Từ nhỏ đến giờ,
ngoài chuyến đi về thăm quê nội ở Hải Dương, nàng chưa từng được đi đâu
cả. Chính nước Đại Việt là nước của ḿnh mà công chúa c̣n chưa biết rơ
th́ làm sao nàng biết được thế nào là nước Chiêm Thành. Từ lúc c̣n bé
thơ, công chúa đă thuộc ḷng câu: "Nước Đại Việt, Bắc giáp Tống, Tây
giáp Lăo Qua, nam giáp Chiêm Thành, Đông giáp biển Nam Hải" do thầy học
của nàng là Văn Túc Vương Đạo Tái dạy. Vị giáo sư này cũng đă từng dạy
anh nàng là Quốc Chẩn. Ông nói là từ xưa đến nay Chiêm Thành và Đại Việt
đă từng có can qua với nhau nhiều lần rồi, và phần đất miền Nam của Đại
Việt bây giờ ngày xưa vốn thuộc về lĩnh thổ nước
Chiêm.
Ngay
chiều hôm sứ thần Chiêm Thành cùng phái bộ dâng lễ vật cầu hôn của Chàm,
vua Anh Tông đă về cung Thánh Từ báo liền cho Thái hậu Tuyên Từ
biết.
Lúc đó
công chúa đang đứng hầu ngay bên Thái hậu mà cũng không được anh ḿnh
ban cho lấy một lời. Công chúa biết đây là việc đại sự quốc gia, ḿnh
không có quyền lạm bàn, dù việc có liên quan tới thân mạng ḿnh đi nữa.
Vua chỉ nh́n nàng hồi lâu mà không nói ǵ. Một lát sau, thu hết can đảm,
công chúa hỏi: "Vậy huynh vương đă nhận lời chưa?". Hỏi xong câu hỏi,
công chúa ngước nh́n Thái hậu th́ gặp hai con mắt rất đổi nghiêm nghị
của bà. Nàng sợ sệt cúi đầu, nhưng vua Anh Tông đă dịu dàng nói: "Chưa,
việc này trọng đại lắm, ta phải hỏi ư quần thần mới
được".
Sáng hôm
sau, vua Anh Tông thiết triều để nghị luận về việc cầu hôn của vua Chàm.
Buổi trưa hôm ấy Huệ Vơ Vương Quốc Chẩn về cung và báo tin cho d́ và em
gái biết là triều đ́nh đă quyết định nhận sính lễ của vua Chàm. Anh Chẩn
thuật lại những chi tiết của buổi chầu. Ban đầu, nhiều người chống đối
việc chấp nhận sính lễ. Quan tham tri chính sự Đoàn Nhữ Hài là một trong
những người chống đối mạnh mẽ nhất. Ông này đă từng đi sứ Chiêm Thành và
cũng đă từng đề nghị việc sứ thần Việt không nên lạy vua Chàm mỗi khi
vào bệ kiến, nhưng Văn Túc Vương Đạo Tái đă đứng dậy nói rằng ông hoàn
toàn tán đồng việc gả công chúa cho vua Chàm. Ông nói: "Thượng hoàng là
người trông xa nghĩ rộng, và một khi ngài đă có chủ định về vấn đề nào
tức là ngài đă cân nhắc và suy xét kỹ càng. Tại miền Bắc, giặc Nguyên
vẫn lăm le muốn trở lại Đại Việt; nếu ở miền Nam hai nước Chiêm và Việc
không chung sống ḥa b́nh với nhau th́ cả hai đều có thể trở thành mồi
ngon của họ. Công chúa về Chiêm là để thắt chặt t́nh hữu nghị giữa hai
nước và để xây dựng một nền ḥa b́nh Chiêm Việt lâu dài, đâu phải là một
chuyện gả bán thông thường. Vả lại, một lời hứa của Thượng hoàng, ta
không thể xem như là có thể xoá bỏ một cách dễ dàng được. Đó là danh dự
của cả một nước. Xin Hoàng thượng và triều thần suy xét". Sau khi Văn
Túc Vương nói thế, quan nhập nội hành khiển là Trần Khắc Chung cũng đứng
dậy tán thành. Trước hết quan hành khiển nhấn mạnh về sự quan trọng của
lời hứa Thượng hoàng. Sau đó ông nói đến việc vua Chiêm đề nghị nhượng
đất hai Châu Ô và Ri làm lễ dẫn cưới. Ông nói rằng việc gả bán này rất
có lợi v́ nó giúp ta mở rộng bờ cơi về phía Nam mà không tốn một giọt
máu viễn chinh. Luận cứ của ông đă thuyết phục được quan tham tri chính
sự Đoàn Nhữ hài và những người đứng về phía chống đối. Có nhiều biện tài
cho nên ông đă thuyết phục được vua và triều thần, nhất là khi Hoàng Đế
Anh Tông là một người con chí hiếu. Cuối cùng, cả triều thần đều đồng ư
việc chấp nhận sính lễ và định ngày mai sẽ báo tin cho phái bộ Chiêm
thành là lễ cưới được tổ chức vào tháng sáu sang
năm.
Nghe anh
Quốc Chẩn thuật tới đó. Huyền Trân liền rút lui về pḥng nàng. Số phận
công chúa như thế là đă định. Hết rồi những ngày thơ ấu. Hết rồi những
ngày vô tư cười đùa dưới mái cung quen thuộc. Hết rồi những mơ ước
thường t́nh. Một nàng công chúa sinh ra là để đền trả công ơn đất nước.
Cũng không khác ǵ một vị hoàng tử phải can đảm ra gánh vác trách vụ của
một ông vua. Trước kia, khi hầu chuyện với Thượng hoàng, nàng thấy việc
về Chiêm của nàng là một cử chỉ đẹp đẽ, phù hợp với nguyện vọng của hai
dân tộc Việt Chàm. Bây giờ đây nghe thuật lại những lời của quan hành
khiển, nàng lại có cảm tưởng nàng là món hàng đem đi đổi chác. Công chúa
gục đầu trong hai tay và khóc nức nở một hồi lâu.
Tối hôm
đó, công chúa được vua Anh Tông gọi đến vỗ về và khích lệ. Công chúa
nghiêng đầu chăm chú nghe những lời dạy bảo của anh. Chưa bao giờ vua
Anh Tông dàng cho nàng nhiều th́ giờ như thế. Vua nói sang năm, đến ngày
công chúa vu quy, vua sẽ cho phép ngàng đem theo bất cứ người hầu cận
nào mà nàng ưng ư và vua cũng sẽ chọn nàng một thị nữ gốc Chàm để lo
việc thông dịch cho nàng trong những tháng đầu. Vua khuyên nàng từ ngày
mai nên bắt đầu học tiếng Chiêm Thành và hứa sẽ t́m cho nàng một vị giáo
thọ trong số những người học sĩ Chàm có mặt ở kinh đô. Vua lại nói rằng
thế nào những liên lạc ngoại giao Chiêm Việt cũng sẽ trở thành khắn khít
trong tương lai và có thể Thượng hoàng sẽ có dịp đi vân du sang Chiêm
trong vài năm tới. Công chúa hỏi anh và chuyện nhượng địa. Vua nói rằng
việc vua Chàm có ư định dâng hai châu Ô và Ri là do từ ư vua ấy đề nghị
để bày tỏ thiện chí muốn xây dựng t́nh hữu nghị giữa hai nước chứ không
phải chuyện mua bán. Việc này không ảnh hưởng ǵ đến quyết định của
Thượng hoàng ngày trước, cũng không ảnh hưởng ǵ đến quyết định hôm nay
của vua. Trong triều có người v́ tham đất nên tán thành chuyện thông gia
giữa hai nước, nhưng riêng vua, vua không nghĩ như họ. Vua rất quan tâm
đến hạnh phúc của công chúa và nghĩ rằng cuộc nhân duyên này có thể mở
ra một chân trời ngoại giao mới, có rất nhiều hứa hẹn. Nghe vua nói thế,
Huyền Trân nh́n vua với cặp mắt biết ơn. Mấy năm gần đân, anh Thuyên của
nàng thường bận rộn v́ việc nước, ít khi có dịp nói chuyện tâm t́nh với
các em. Một lần, cách đây hơn sáu tháng, vua có gọi Huyền Trân vào và
cho nàng xem tập Thủy Vân Tùy Bút của vua, trong đó toàn là những bài
thơ và những bức họa thủy mặc do chính vua ngự chế sau những buổi chầu
và vào những ngày tương đối nhàn nhă. Tập này vua chưa từng cho ai xem
hết, ngoài nàng, và vua dặn đừng cho ai hay biết là vua có vẽ và có làm
thơ. Anh Thuyên của nàng vừa thông minh vừa thận trọng nên rất được
Thượng hoàng tin cậy. Hồi trẻ, anh chỉ có một cái tật là ưa rượu xương
bồ, dấu Thượng hoàng mà uống, và một lần Thượng hoàng đă bắt gặp. Việc
này xảy ra vào năm Ất Mùi, lúc Huyền Trân mới được tám tuổi. Năm đó,
Thượng hoàng đang tập sự xuất gia ở hành cung Vũ Lâm. Một hôm bất thần
ngài về kinh sư mà các quan trong triều không ai hay biết cả. Trong lúc
ấy, vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng thong thả đi
quán sát trong cung điện từ giờ Th́n đến giờ Tỵ mà cũng không thấy vua
đâu. Nghe ngài hỏi, cung nhân liền đánh thức vua, nhưng lúc ấy vua say
quá dậy không nổi. Thượng hoàng lập tức đi về cung Thiên Trường, xuống
chiếu cho các quan ngày mai về họp tại phủ Thiên Trường. Măi đến quá
trưa vua mới tỉnh. Nghe cung nhận thuật lại cớ sự, vua sợ quá vội đi ra
th́ không thấy bóng ai cả. Qua tới chùa Tư Phúc, vua gặp một người học
tṛ đại tập tên là Đoàn Nhữ Hài, liền nhờ anh này thảo cho một tờ biểu
tạ tội, rồi hai vua tôi lấy thuyền đi về phủ Thiên Trường. Sáng hôm sau
Đoàn Nhữ Hài thay vua đội mưa quỳ trước sân từ sáng đến chiều để dâng
biểu. Đọc biểu thấy lời lẽ khẩn thiết, Thượng hoàng cảm động gọi vua và
bảo:
- Ta c̣n
sống đây mà người c̣n dám làm như thế, th́ khi ta chết đi cớ sự sẽ như
thế nào?
Vua dập
đầu tạ tội. Từ đó trở đi vua không động đến rượu xương
bồ.
Những
năm mới làm vua, anh Thuyên của nàng cũng c̣n ham chơi lắm. Ban ngày bận
việc triều chính, cho nên anh chỉ đi chơi ban đêm. Cũng như Quốc Chẩn và
nàng, vua không ưa bị tù túng. Ban đêm vua thường đi chơi bằng kiệu,
thăm viếng hết mọi nơi trong kinh kỳ. Thường thường vua có đem theo mấy
người thị vệ. Có một lần đi chơi đến quân phường, vua gặp một bọn vô lại
đang ném đá vào nhau. Một đứa ném đá vào đầu vua chảy máu, người hầu la
lên:
- Đây là
kiệu của vua, bọn bay đừng xâm phạm.
Bọn vô
lại chạy tứ tán. Hôm sau Thượng hoàng thấy vết thương ở trán, hỏi, vua
cứ thực thà tâu lại cớ sự. Hôm ấy vua cũng bị Thượng hoàng quở cho một
hồi.
Anh
Thuyên của nàng sinh vào năm Tí, làm vua từ lúc mười tám tuổi. Lên ngôi
hồi tháng ba th́ tháng chín mẹ mất. Phủ phục bên linh sàng của Hoàng
thái hậu Khâm Từ, anh khóc đến đỏ cả hai mắt. Huyền Trân lúc ấy cũng
khóc, nhưng công chúa cứ tin là mẹ ḿnh có thể sống lại bất cứ lúc nào.
Anh Quốc Chẩn khóc to lớn hơn ai hết. Anh gào thét đến nỗi Thượng hoàng
phải tới nắm vai anh thật chặt và nhẹ nhàng bảo anh khóc nhỏ lại. Thái
hậu Khâm Từ là một bà mẹ rất ngọt ngào, thông minh và nhân từ. Đối với
kẻ dưới, bà rất rộng lượng cho nên ai cũng yêu mến bà. Bà lại nổi tiếng
là người can đảm không ai bằng. Có một hôm bà ngồi trên vọng lâu cùng
với Thượng hoàng xem vơ sĩ đánh thi với cọp th́ có một con cọp nhảy được
lên lầu khiến tất cả đều hoảng sợ bỏ chạy. Lúc ấy bà thản nhiên lấy một
chiếu chiếu lên che cho vua và ḿnh. Con cọp gầm lên nhưng không động
đến hai người, và cuối cùng nhảy xuống. Một lần khác ngự ở điện Thiên An
với Thượng hoàng để xem tập voi ở Long Tŕ, cũng có một con voi xông
vào, định lên trên điện. Quân hầu chạy tứ tán, chỉ có một ḿnh bà ngồi
lại với Thượng hoàng. Con voi cuối cùng rồi không xông lên điện. Bà thật
xứng đáng là con gái của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người có công
đầu trong việc đánh bại cuộc xâm lăng của quân
Nguyên.
Sau khi
mẹ của công chúa mất th́ bà d́ của nàng được phong làm Thái hậu Tuyên
Từ. Liền sau đó, anh Quốc Chẩn cũng được phong làm Huệ Vơ Đại Vương. Anh
mới mười ba tuổi, công chúa nhớ rất rơ ngày lễ phong vương của anh Chẩn.
Súng sính trong bộ áo măo lịch kịch và nặng nề, anh Quốc Chẩn của nàng
tập đi từng bước chậm răi và đường bệ, trông tức cười làm sao. Mặt anh
ấy bí xị gần như muốn khóc. Anh Chẩn chỉ ưa chạy nhảy, leo trèo và đánh
nhau với các vương tôn cùng lứa. Thái hậu Tuyên Từ rất nghiêm khắc. Tuy
bà có thương yêu ba anh em nàng thật nhưng không ai dám dễ ngươi với bà.
Anh Thuyên đă làm vua mà cũng sợ bà thin thít; bà nói ǵ anh cũng vâng
lời răm rắp. Có lần Thượng hoàng nói với anh:
- Ngày
trước quần thần thường xưng tụng ta là một ông hiếu hoàng, thực ra quan
gia mới xứng đáng danh hiệu đó.
Thượng
hoàng gọi vua là "quan gia". Có một bữa Huyền Trân hỏi "quan gia" là ǵ,
ngài nói:
- Quan
gia là người biết xem đất nước là của công chứ không phải là của riêng
ḿnh và xem cả thiên hạ là nhà của ḿnh.
Mặc dù
Thái hậu Tuyên Từ dạy dỗ rất nghiêm, Huyền Trân vẫn không bỏ được tính
nết tinh nghịch của ḿnh. Vắng mặt bà, nàng vẫn cứ đùa giỡn thỏa thích.
Tuy tinh nghịch nhưng không bao giờ nàng rắn mắt cho nên các cung nhân
thường cưng quư nàng và không bao giờ mách lại với Thái hậu. Anh Quốc
Chẩn của nàng cũng thường hay kéo nàng tới tham dự những cuộc chơi mà
anh tổ chức với các vương tôn công tử cùng lứa tuổi. Anh thường rủ nàng
sang sân chùa Từ Phúc chơi, và ngoài th́ giờ học hành hai anh em thường
t́m tới dưới bóng mát của những cây tùng, cây bách phía sau chùa để nô
đùa cùng các bạn.
Năm
Huyền Trân được mười ba tuổi th́ hoàng tử Mạnh sanh. Hoàng tử Mạnh là
con vua Anh Tông. Mẹ của hoàng tử là hoàng hậu Thuận Thánh, con gái đầu
của Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng. Bà đă sinh đến hai hoàng nam rồi nhưng
đều không nuôi được cho nên kỳ này bà bàn với vua giao phó hoàng tử Mạnh
cho thúc phụ của Thượng hoàng là Chiêu Văn Vương Nhật Duật nuôi. Nhờ vậy
mà Huyền Trân thường có dịp cùng anh Quốc Chẩn đến chơi nhà ông chú để
thăm cháu ḿnh. Mỗi lần đến nhà ông chú, Huyền Trân lại được phép ẳm
hoàng tử Mạnh. Đứa cháu mà nàng ôm trong tay, nàng nghĩ, sẽ trở thành
một ông vua sau này, và nàng tinh nghịch lấy một ngón tay đưa vào nách
cháu để nh́n ông vua tí hon cười lên sằng sặc trong tay
ḿnh.
Năm sau
Thượng hoàng đi du hóa ở Chiêm Thành. Khi trở về ngài cho Huyền Trân
biết là ngài đă hứa gả nàng cho vua Chiêm. Ngài nói là ba bốn năm nữa
vua Chiêm mới cho người sang dâng sính lễ. Ở xú nàng con gái lớn lên cha
mẹ đặt đâu th́ con ngồi đấy. Công chúa cúi đầu vâng dạ, nhưng trong thâm
tâm vẫn nghĩ rằng ba bốn năm sau c̣n là chuyện xa
vời.
Cho đến
buổi trưa ngày anh Quốc Chẩn nhận sính lễ, Huyền Trân mới thấy rơ đời
ḿnh đă thực sự chuyển sang một hướng mới. Nàng đă khóc, nhưng chiều hôm
đó, vua Anh Tông đă ôn tồn dạy bảo cho nàng, với tất cả t́nh thương của
một người anh cả cho đứa em út. Đêm đó, Huyền Trân thao thức không ngủ.
Nàng đợi cho đến sáng để vào hầu Thái hậu Tuyên Từ, xin phép bà để về
núi Yên Tử thỉnh huấn Thượng hoàng hiện đang tu hành trên ấy. Thái hậu
truyền lấy kiệu cho nàng đi và cho Thị Ngọc đi theo nàng để hầu cận. Thị
Ngọc cũng suưt soát tuổi nàng và dáng người cũng dong dỏng cao như
nàng.
Ngồi
trên kiệu, Huyền Trân nghĩ đến thầy học của nàng là Văn Túc Vương Đạo
Tái. Theo anh Quốc Chẩn thuật lại th́ Văn Túc Vương là người đầu tiên đă
đứng lên tán thành chuyện hôn nhân của nàng và vua Chiêm. Ông là người
nổi tiếng bậc nhất về văn học ở kinh sư. Ông thương yêu Huyền Trân rất
mực, và thường nói với Thượng hoàng rằng công chúa một cô gái thông
minh. Văn Túc Vương không phải như quan hành khiển Trần Khắc Chung. Nếu
ông có tán đồng về việc nhân duyên này th́ không phải là v́ ông đă tính
tóan chuyện được mất theo lẽ thường t́nh. Chắc chắn là ông đă nghĩ tới ư
nguyện của Thượng hoàng và hạnh phúc của công chúa. Huyền Trân rất mến
thương ông. Phụ vương của nàng cũng tỏ ra có biệt nhăn đối với ông.
Thượng hoàng yêu mến ông hơn hết trong số các em chú bác khác của ngài.
Văn Túc Vương là con của Thượng tướng Trần Quang Khải, người đă sáng tác
thi tập Lạc Đạo, và cũng là người có công lớn trong cuộc kháng chiến
chống giặc Nguyên từ năm Nhâm Ngọ cho đến năm Mậu Tư. Công trạng của ông
có thể nói là ngang hàng với công trạng của Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn,
ông ngoại của công chúa, bởi v́ ông văn vũ toàn tài. Văn Túc Vương cũng
thừa hưởng khí chất văn tài đó của ông và không biết do một nhân duyên
mầu nhiệm nào đó, đă được Thượng hoàng yêu mến đặc biệt. Có một lần công
chúa thấy Thượng hoàng vời ông vào cung, truyền sai làm những món hải vị
hiếm có để thết đăi ông, rồi ngồi nh́n ông ăn. Thượng hoàng lúc đó đang
tập sự xuất gia cho nên đă ăn chay trường rồi.
CHƯƠNG III
Hai bên
đường từ kinh sư đến chân núi Yên Tử, những hàng thông do Thượng hoàng
ra lệnh trồng xuống từ mười năm trước đây đă lên cao và xanh tốt. Đó là
lần đầu Huyền Trân được về núi Yên Tử. Nàng có đức tin rất vững chải nơi
Thượng hoàng, cho nên nàng nghĩ rằng những lời dạy của cha sẽ rất cần
thiết cho cuộc đời của nàng sau này. May cho công chúa là lúc ấy Trúc
Lâm đại sĩ v́ có Phật sự nên từ am Đỉnh Trúc trên ngọn Ngọa Vân, đă về
tới am Long Đông ở lưng chừng núi, nên nàng không phải leo trèo nhiều.
Thượng hoàng đă nói chuyện với con thật lâu bên bờ suối. Hai cha con
ngồi trên hai phiến đá đối diện nhau.
Phụ
hoàng bảo Chiêm Thành không phải là một nước di dịch như nhiều người
trong nước ta lầm tưởng. Chiêm Thành có một nền văn minh khá cổ, chịu
ảnh hưởng văn hóa Tây Trúc nhiều hơn văn hóa Đông
đô.
Ngài nói
rằng vua Chế Mân là một thanh niên anh tuấn, có vũ dũng mà cũng có văn
học. Tuy Harijit không biết chữ Nho nhưng chàng rất thông thạo Phạn ngữ.
Ở Chiêm Thành, Phạn ngữ cũng quan trọng như chữ Nho ở Đại Việt. Trong
thời gian gần tám tháng lưu lại kinh đô Phật thệ, ngài thấy cái nh́n của
ngài về nước Chàm thay đổi hẳn. Ngài rất yêu mến Harijit, và muốn coi
chàng như vua Anh Tông con ngài. Harijit lên ngôi từ năm Ất Dậu, và đă
từng có Hoàng hậu. Đó là một nàng công chúa xứ Qua Oa tên là Tapasi; bà
đă sinh hạ được hai vị hoàng tử, nhưng Hoàng hậu đă qua đời. Năm nay Chế
Mân mới vào khoảng bốn mươi, lớn hơn vua Anh Tông chừng mười tuổi. Dân
Chàm rất thương yêu Harijit. Thượng hoàng bảo công
chúa:
- Ta tin
rằng sau khi về Chàm con cũng được dân chúng thương mến như họ đă từng
thương mến Harijit. Ta có thể nói chắc với con điều đó. Nếu con để hết
tâm lực của con vào th́ con có thể xây dựng thật nhiều cho vương quốc
này và tạo được mối cảm t́nh bền chặt giữa hai ṇi Chiêm và
Việt.
Huyền
Trân nh́n gịng nước đang len lỏi qua những tảng đá dưới ḷng suối và
nghĩ những lời nói vừa rồi của Thượng hoàng. Lát sau, nàng nghe Thượng
hoàng gọi nàng và bảo:
- Con
hăy đưa bàn tay của con lên quan sát thử xem.
Huyền
Trân đưa bàn tay trái của ḿnh lên nh́n. Cổ tay nàng nhỏ; bàn tay nàng
mịn màng và có những ngón tay thuôn dài dịu dàng như những búp măng non.
Thượng hoàng nói tiếp:
- Con
hăy nh́n thật lâu và nói cho ta biết là con có nh́n thấy ta trong bàn
tay của con không?
Công
chúa đột nhiên phát giác ra rằng bàn tay của nàng là do Thượng hoàng và
Thái hậu mà có và sự có mặt của bàn tay này không khác sự có mặt của
Thượng hoàng và Thái hậu. Cái thấy đến với nàng mau như một tia chớp
giật. Chưa bao giờ công chúa nh́n bàn tay ḿnh với một cái nh́n thấu
triệt đến thế. Nàng thưa với Thượng hoàng:
- Thưa
Phụ hoàng, con có nh́n thấy.
- Không
những ta và mẹ con có mặt nơi bàn tay con mà cả giống ṇi và đất nước
này cũng có mặt nơi bàn tay con. Con ở đâu th́ ta ở đó, con làm ǵ th́
ta làm cái đó và dân tộc con làm cái đó. Con hăy ghi nhớ điều này cho
cẩn thận. Con về Chàm cũng như ta về Chàm, và ta trông cậy hoàn toàn nơi
con để tránh cho hai dân tộc những cuộc đao binh sau
này.
Những
lời nói của Thượng hoàng làm nẩy sinh một niềm thương cảm và một sự
quyết tâm nơi ḷng công chúa.
Những
lời ấy cũng lại như nước mát dội vào tâm năo căng thảng và nóng bừng của
nàng. Huyền Trân cảm thấy những lo âu thắc mắc của ḿnh đă tiêu tán;
nàng tự nguyện sẽ làm hết sức ḿnh để khỏi phụ ̣ng trông đợi của cha,
của anh và của cả nước. Nàng theo Thượng hoàng vào am để lạy Phật. Nhân
dịp viếng thăm này, nàng được Thượng hoàng giới thiệu vói một vị tăng sĩ
trẻ tuổi là Pháp Loa. Ngài cho biết đó là một vị đệ tử mới của ngài, và
ngài bảo nàng gọi ông là sư huynh. Nói chuyện với vị sư huynh này, Huyền
Trân biết ông c̣n là sa di. Ông sẽ được thọ đại giới vào ngày rằm tháng
bảy sắp tới. Thượng hoàng có vẻ yêu mến người đệ tử trẻ tuổi này
lắm.
Thấm
thoát mà năm Ất Tỵ sắp qua và mọi người đă chuẩn bị ăn Tết Bính Ngọ. Cái
Tết này là cái Tết quê hương cuối cùng của ḿnh đây, Huyền Trân nghĩ.
Ngày Nguyên Đán, khi được nghe vua Anh Tông mừng tuổi, công chúa biết là
ḿnh đă lên mười chín. Vua Anh Tông cho nàng biết là lễ cưới sẽ được cử
hành vào tháng sáu chứ không phải vào tháng hai như đă định năm ngoái.
Càng hay, nàng lại có thêm th́ giờ để học tiếng Chàm và để sống với tất
cả tâm hồn từng ngày từng giờ c̣n lại của cái nếp sống Đại Việt quư báu.
Bẩm tính thông minh, nàng học tiếng Chàm rất chóng. Vị giao sư người
Chàm của nàng cũng là một nhạc sư. Ông rất giỏi Phạn ngữ. Ông đă kể cho
Huyền Trân nghe cổ tích Mahabharata, trước tiên bằng tiếng Đại Việt, rồi
ông lặp lại bằng tiếng Chiêm. Ông cũng đă dạy cho công chúa hát vài bản
nhạc Chiêm Thành. Ông sử dụng một cây đàn Chiêm năm dây trong khi ông
hát. Ông cũng sử dụng ống sáo, trống và tù và. Ông có dạy cho nàng học
một số bài thơ Chàm. Ông lại cho nàng xem những tập sách Phạn ngữ đóng
bằng lá buông, trông giống như những tập kinh Phật mà nàng đă thấy một
lần ở chùa Tư Phúc.
Mồng
mười tháng sáu năm ấy, phái đoàn Chiêm Thành qua để làm lễ rước dâu.
Phái đoàn này rất đông, có mang theo cờ quạt, kiệu rước, một đoàn âm
nhạc và nhiều thị nữ. Thượng hoàng có xuống núi để tiễn đưa công chúa.
Sau khi lạy Thượng hoàng, Thái hậu Tuyên Từ và vua, công chúa lên đường.
Nàng đem theo hai người hầu, Thị Khanh và Thị Ngọc. Công chúa không đem
theo người thông ngôn bởi v́ tiếng Chàm của nàng đă tạm đủ để diễn đạt ư
ḿnh. Nàng chỉ đem theo một ḥm xiêm y và một ḥm sách vở, trong đó có
những tập sách Phật của Thượng hoàng biên soạn và những tạp thi, văn và
sử mà thầy học nàng là Văn Huệ Vương ban tặng.
Cuộc
hành tŕnh kéo dài hơn một tháng trời, ngày đi đêm nghỉ. Có rất nhiều sứ
quán dọc đường, trạm nào cũng có đủ những tiện nghi như bếp núc và lửa
củi, Huyền Trân nhớ có lần kiệu vượt một cái đèo cao, từ trên nh́n xuống
cảnh mây nước bao la thật hùng vĩ. Đám rước càng về tới gần kinh đô Phật
Thệ th́ càng đi chậm lại bởi v́ dân chúng tụ họp hai bên đường đón tiếp
rất đông. Cờ biểu được trương ra và đoàn nhạc vừa đi vừa biểu diễn đàn,
sáo, tù và và trống. May cho nàng trong những ngày ấy trời không mưa.
Bây giờ mới là tháng bảy theo lịch Đại Việt nhưng ở đây đă là tháng tám,
vào giữa mùa gặt lúa. Trai gái làm việc giữa đồng, đông đảo. Thấy đám
rước đi qua ai cũng ngừng tay, đứng dậy để nh́n; hoặc nếu ruộng ở gần
th́ họ chạy lại đứng bên đường để đón kiệu đi qua. Khi quân hầu báo là
sắp tới thành Vijaya, tức là kinh đô Phật Thệ, Thị Khánh và Thị Ngọc bắt
đầu lo việc trang điểm lại cho công chúa. Huyền Trân vừa hồi hộp mà cũng
vừa ṭ ṃ. Nàng luôn luôn nh́n ra ngoài kiệu để quan sát. Thỉnh thoảng
nàng thấy những ṭa tháp lớn xây dựng trên một đỉnh đồi, kiến trúc rất
lạ. Dân chúng ăn mặc không giống như ở Đại Việt. Có rất nhiều người mặc
xiêm y bằng lụa hai ba màu trông rất đẹp. Nàng thấy nhiều ruộng muối
trắng xóa, tương tợ những ruộng muối miền Hải Dương nhưng bao la hơn.
Ruộng đồng cũng tương tợ như ruộng đồng ở Đại Việt. Nàng thấy những con
đập dẫn nước vào ruộng, và có cảm tưởng rằng dân Chàm rất am tường về
nghề nông.
Từ trong
thành Vijaya, một đám rước lớn đang tiến ra để đón phái đoàn. Một đàn
voi có phủ lụa nhiều màu, trên đầu voi những người nài đầu chít khăn đỏ
chói nhưng thân h́nh lại ở trần. Hai bên là quân lính đi kèm, y phục sặc
sỡ. Đoàn voi dừng lại. Công chúa được rước từ kiệu khiêng sang kiệu voi
có lọng ba tầng che phủ. Nhạc nhă vang lừng. Dân chúng đổ xô ra hai bên
đường để xem, đông không biết bao nhiêu mà kể.
Đám rước
về đến nội thành th́ trời đă xế trưa. Vua Chế Mân thân hành ra đón công
chúa ở trước sân điện. Con voi mang kiệu công chúa qùy xuống, các thị nữ
người Chàm đỡ công chúa ra khỏi kiệu. Ngước mắt nh́n lên, Huyền Trân
thấy cung điện nguy nga, kiến trúc lạ kỳ, xây dựng toàn bằng đá ong và
gạch nung. Trước sân điện, có hai hàng voi đá và nghê đá. Quân sĩ đứng
dàn ra hai bên để vua Chàm tiến đến. Công chúa Huyền Trân chắp tay cúi
đầu chào vua theo kiểu Đại Việt. Vua đáp lễ. Đây là Jaya Simhavarman đệ
tam, công chúa nghĩ. Chàng cao hơn vua Anh Tông, thân h́nh vạm vỡ nhưng
nước da hơi sậm. Vua mặc áo lụa thêu chỉ vàng, trên đầu đội một cái mũ
cao có trang trí nhiều bông hoa làm bằng kim tuyến, trên mũ có một cái
chóp bằng lụa trắng. Một người lính hầu đứng sau che lọng cho vua. Vua
quay lại truyền thị nữ đưa công chúa vào nội điện để giải
khát.
Những
ngày kế tiếp là những ngày thật từng bừng của cả kinh đô Vijaya. Không
những trong cung điện mà ở khắp kinh thành thiên hạ đều có giăng đèn kết
hoa rực rỡ. Lễ đăng quang của Hoàng hậu được toàn dân hăng hái tham gia
khiến cho Huyền Trân thấy được niềm kính ái lớn lao của dân chúng Chàm
dàng cho ông vua của họ. Ngày lễ đăng quang, nàng được phong hiệu là
Hoàng hậu Paramesvari. Vua truyền dựng ngay một bia đá ở Posah để ghi
lại sự kiện lịch sử này.
Suốt ba
ngày ba đêm, cả nước mở hội ăn mừng. Nhă nhạc vang lừng cung điện. Đêm
thứ nhất, một đoàn kịch nhạc tŕnh diễn ngay trên sân điện, kịch bản
Mahabharata dưới ánh đuốc sáng rực trời. Quần chúng tụ họp đông đảo. Vua
và Hoàng hậu ngồi trên đài cao có mái che. Đêm thứ hai, đoàn hát tŕnh
diễn tuồng Ramayana. Huyền Trân chưa được biết cốt truyện này cho nên
Harijit phải giải thích sơ lược cho nàng trong suốt buổi tŕnh diễn. Đêm
thứ ba vũ nữ Chiêm Thành tŕnh bày những vũ khúc dân tộc. Vũ nữ Chiêm
Thành không ăn mặc tha thướt như ở Đại Việt. Những cánh tay trần và
những bắp chân trần của họ được trang phục bằng những chuỗi hạt cườm, cổ
và bụng cũng vậy. Thân h́nh họ uyển chuyển, điệu múa của họ rất mềm,
nhất là những cánh tay của họ. Ban đầu Huyền Trân cảm thấy hơi bỡ ngỡ,
nhưng ngay sau đó nàng thấy được tất cả cái đẹp của vũ nghệ Chiêm Thành.
Nàng say mê nh́n. Những ngày hội hè qua và lễ đăng quang chấm
dứt.
Ngay
trong ngày đầu gặp vua, nh́n vào hai mắt vua, Huyền Trân biết là ḿnh
đẹp. Nàng làm cho vua Chàm ngạc nhiên hết sức khi nói những lời đầu tiên
với vua bằng tiếng Chàm. Nàng đă luyện giọng thật kỹ với vị giáo sư của
nàng về những câu nói mà nàng định nói trước tiên với người. Nét mặt vua
lộ vẻ hân hoan không ai không trông thấy. Vua dặn nàng trong những lúc
không có kẻ thứ ba th́ cứ gọi vua là Harijit. Tên đó, dân chúng cũng
thường dùng để nói tới chàng.
Trong
ḷng người công chúa Đại Việt, t́nh yêu đối với ông vua Chàm nảy nở rất
mau chóng. Harijit không bao giờ bỏ lăng việc triều chính, nhưng trong
những th́ giờ c̣n lại vua cứ quấn quít bên nàng. Thị Khanh và Thị Ngọc
v́ tiếng Chàm c̣n yếu nên không giúp đỡ được ǵ nhiều cho Huyền Trân;
trái lại thỉnh thoảng c̣n nhờ nàng làm việc thông dịch cho họ. Huyền
Trân xin với vua cho hai người thị nữ này được học thêm tiếng Chàm để đủ
sức giao tiếp với các cung nhân và với những người trong nội thành. Cùng
một vài cung nhân thân cận, nằng bắt đầu đi thám sát khắp nơi trong nội
cung, hỏi han về công dụng của từng ngôi nhà, từng pḥng ốc, và bắt đầu
sắp đặt cuộc sống trong cung điện.
Vua Chế
Mân thường đi du hành trong nhân gian để thị sát và để nghe góng dân
t́nh. Huyền Trân được theo vua trong nhiều chuyến đi như thế. Tại kinh
đô Vijaya, được vua cho đi xem bốn ngôi tháp nổi tiếng: Tháp bạc, tháp
vàng, tháp đồng, và tháp ngà. Vua lại đưa Huyền Trân tới xem một ngôi
tháp lớn mà vua mới xây dựng xong ở kinh đô: đó là tháp Po Klaung Garai
mà vua rất đắc ư. Tháp rất cao, phía trên có tới hàng mấy mươi mái bầu,
trang trí cực kỳ mỹ lệ. Vua cho nàng biết là vua cũng đang xây tháp Yang
Prong ở miền cao nguyên Darlac.
Huyền
Trân đă đi thăm nhiều tháp. Những tháp này đều có thờ kinga tức là một
trụ đá trần, đặt trên một phiến đá khác là yoni; một tượng trưng cho
dương, một tượng trưng cho âm. Vua nói cho Huyền Trân biết là đá linga
bao giờ cũng nằm ở vị trí trung tâm của tháp, và những tháp này thuộc về
Ấn Độ giáo tức là Bà La Môn. Ba vị thần linh của tôn giáo này là Brahma,
Visnu và Siva tức là Tam Bảo của Ấn Độ giáo. Huyền Trân nhận ra rằng
Brahma là Phạm Thiên. Harijit nói rằng ngày xưa dân chúng theo Phật Giáo
rất đông đảo nhưng bây giờ th́ hai phần ba dân tộc Chiêm đă ngả theo Ấn
Độ giáo. Biết Hoàng hậu là người đạo Phật, vua đă đưa nàng đến ngôi chùa
lớn nhất ở kinh đô Vijaya, để nàng lạy Phật. Ở đây người ta gọi chùa là
vihara; các tăng sĩ mặc y màu cam chứ không phải mặc tràng nâu như ở Đại
Việt. Huyền Trân nhận thấy trong chánh điện ngoài tôn tượng đức Phật
Thích Ca c̣n có tượng đức Quan Thế Âm mà ở đây các thầy gọi là
Lahshmindra - Lokesvara. Vị sư trưởng ở Vihara cho Hoàng hậu biết là ở
cố đô Indraprura miền Bắc nước Chàm, phía Nam đèo mây, có một tu viện
Phật Giáo rất lớn, thành lập cách đây hơn bốn trăm năm, và hiện có gần
hai trăm tăng sĩ tu học. Tu viện này hiện đă bắt đầu hư nát, cần được tu
bổ. Huyền Trân ở lại chùa, nghe các thầy tụng kinh. Họ tụng kinh toàn
bằng tiếng Phạn, tuy vậy khi họ tụng đến thần chú Thiên Thủ Thiên Nhăn
Vô Ngại Đại Bi Tâm th́ nàng cũng nhận ra được, bởi v́ nàng đă thuộc ḷng
thần chú này, tuy cách phát âm tiếng Phạn của người Việt rất là sai
khác.
Những
chuyến đi mà Huyền Trân ưa thích nhất là những chuyến đi thị sát về đời
sống dân dă ở thôn quê. Trong những chuyến đi này, nàng được tiếp xúc
thẳng với người dân Chàm. Nàng được đi thăm các ruộng lúa, các ruộng
muối, các nhà dệt lụa, các làng đánh cá. Huyền Trân nhận ra rằng bờ biển
Chiêm rất nhiều cá và dân Chàm là những ngư dân thiện nghệ. Họ chế tạo
những chiếc ghe nhẹ có thể đi rất mau trên biển. Người dân Duyên Hải nào
cũng bơi lội giỏi, cũng là những thủy thủ khéo léo. Harijit cho nàng
biết cũng v́ lẽ đó mà Chiêm Thành có một lực lượng hải quân rất hùng
hậu. Quân lính Chiêm Thành, vua nói, chỉ được cấp gạo ăn và áo mặc mà
không được trả lương. Trong thời b́nh, họ xây đắp tường lũy bằng gạch và
tháp canh bằng đá để bảo vệ các miền đông dân cư. Huyền Trân dă được nói
chuyện với các bô lăo, với ngư dân, với các nàng thợ dệt, và các em bé.
Chỉ có những người khá giả mới đi giày dạ, c̣n phần đông đều đi chân
đất. Y phục của người dân thường được làm bằng một thứ vải lục gọi là ki
pê i. Đàn bà và con gái cũng có xâu lỗ tai và đeo khoen bạc hoặc đồng.
Đàn bà lớn tuổi th́ búi tóc trên đỉnh đầu. Nhà cửa của dân quê có vẻ
chắc chắn hơn ở miền quê Đại Việt, bởi v́ rất nhiều nhà được xây bằng
gạch nung trét vôi. Nhà cửa của kẻ khá giả có cả sân thượng, gọi là kan
lan. Những người nghèo lắm th́ ăn mặc rất đơn giản: Họ chỉ quấn một tấm
ki pê i.
Nhận
thấy nhiều trẻ em bị đau mắt nhặm, nàng xin với vua chế tạo một thứ
thuốc trị đau mắt mà nàng đă học được ở Đại Việt. Trong những chuyến đi
kế tiếp, nàng thường đem thuốc ấy đi theo, và mỗi khi gặp trẻ em đau
mắt, nàng thường bảo nấu nước muối rửa mắt cho chúng rồi tự tay lấy
thuốc đau mắt bôi cho các em. Mỗi lần như thế, vua Chế Mân kiên nhẫn chờ
nàng làm xong công việc rồi mới tiếp tục cuộc du hành. Huyền Trân sung
sướng lắm. Ở Đại Việt ít khi nàng được ra khỏi cung cấm. Lần về thăm quê
ở Hải Dương, nàng có được tiếp xúc trực tiếp với dân quê và chơi đùa với
trẻ em bách tính đâu.
Harijit
cho nàng biết là ở Chiêm Thành có hai thị tộc lớn là thị tộc cây dừa và
thị tộc cây cau. Hai thị tộc này ngày xưa đă từng xung đột nhau trong
hàng trăm năm để giữ ưu thế, và nhiều cuộc đổ máu đă từng xảy ra
v́ thế. Nhưng bây giờ hai bên đă thỏa hiệp. Thị tộc cây dừa ngày xưa
chiếm lănh miền Bắc, lập kinh đô ở phía bắc đèo Mây, gọi là kinh đô
Indraprura, c̣n thị tộc cây cau th́ chiếm lănh miền Nam, làm bá chủ vùng
Panduranga.
Tết
Chiêm Thành nhằm đúng vào ngày mồng một tháng mười một của lịch Đại
Việt. tại kinh đô Vijaya, ngày Tết được tổ chức thật linh đ́nh. Trước
hoàng cung, lính ngự lâm dựng rạp để làm lễ. Rạp chứa được cả vạn người.
Khắp nơi đều có treo đền kết hoa. Tối ngày mồng một, vua và Hoàng hậu
ngự trên đài cao để xem đốt pháo thăng thiên. Pháo bay rất cao, cả kinh
đô đều trông thấy. Tiếng pháo nổ lớn như súng bắn đá làm rung chuyển cả
kinh kỳ. Khắp nơi dân chúng tổ chức các cuộc vui như đua thuyền, leo cột
mở, đấu vật, chọi gà, đấu voi, múa hát và tŕnh diễn kịch tuồng. Vua đưa
Hoàng hậu tới dự những cuộc vui dân dă. Huyền Trân nhận thấy một số điệu
ḥ ṿ vẻ quen thuộc, phảng phất âm hưởng Đại Việt. Nàng chợt nhớ ra rằng
trong quá khứ có nhiều điều hát và điệu vũ tại Đại Việt đă được các vua
Lư đem từ Chiêm Thành về. Thầy học của Hoàng hậu ngày xưa đă có dạy nàng
điều đó. Vua Chế Mân nói cho hoàng hậu nghe về những "tọ" tức là những
điệu hát Chàm, như tọ mư yút, tọ tầm mư, tọ ra dao v.v... Nàng thấy dân
quê sử dụng các thứ đàn rasap và đàn kanh tương tự như đàn nhị của người
Việt. Đàn campi th́ giống như đàn tranh, và đàn kaping th́ lại giống đàn
bầu. Người Chàm cũng dùng trống kinang tương tự như trống cơm của Đại
Việt. Đêm nào tại rạp dựng trước hoàng cung cũng có một đoàn ca vũ hoặc
kịch nghệ tŕnh diễn và đêm nào dân chúng cũng quy tụ rất đông đảo, ṿng
trong, ṿng ngoài chật ních. Tết Chàm cứ thế kéo dài cho đến mười ngày
mới hết.
Trong
cung, vào những ngày rỗi răi quốc sự, vua Chế Mân thường kể cho Huyền
Trân nghe về lịch sử Chiêm Thành. Vốn là một người con gái ưa học hỏi,
vị Hoàng hậu trẻ lắng nghe rất chăm chú khiến cho vua lại càng ưa tâm
t́nh với nàng. Vua kể cho Huyền Trân nghe cuộc kháng chiếng chống quân
Nguyên của vua và của Thượng hoàng Indravarinan đệ ngũ. Hồi đó, Huyền
Trân chưa sinh. Năm nàng sinh là năm Mậu Tí, tức là năm Đại Việt vừa
đánh bại được đạo quân xâm lăng của Hốt Tất Liệt. Tên Harijit của chàng
có nghĩa là con sư tử chiến thắng. Theo Harijit thuật lại th́ vào năm
Nhâm Ngọ, vua nhà Nguyên sai tướng là Toa Đô sang đánh Chiêm Thành. Toa
Đô muốn mượn đường Đại Việt để đi, nhưng vua Nhân Tông không cho, cho
nên đă dùng đường biển. Hơn một ngàn chiến thuyền ra đi từ Quảng Châu
đến đổ bộ trên bờ biển Chiêm Thành. Hồi đó Harijit chưa lên ngôi nhưng
chàng đă mười tám tuổi rồi, và thái độ cương quyết chống Nguyên của
chàng đă làm cho chàng trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến. Chàng ra
lệnh đốt hết kho lúa, tập hợp quân binh trên rừng núi và tổ chức kháng
chiến. Quân lính của Toa Đô bị thua nhiều trận đến thất điên bát đảo,
trong khi đó viện binh của Ô Mă Nhi do vua Nguyên gởi tới lại bị chặn
đứng ở biên giới Nguyên Việt. Năm Giáp Thân, Thoát Hoan đem quân sang
đánh Đại Việt; năm sau Toa Đô được lệnh rút quân ra khỏi Chiêm Thành, đi
lên miền Bắc để yểm trợ cho Thoát Hoan. Do đó mà Chiêm Thành thoát ách
đô hộ của quân Mông Cổ.
Huyền
Trân kể cho vua Chế Mân nghe về cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ của
dân Đại Việt, với thật nhiều chi tiết. Thầy học của nàng là Văn Huệ
Vương đă dạy nàng rất kỹ về giai đoạn lịch sử này; ông đă sống qua giai
đoạn đó và đă từng quen với hầu hết những anh hùng của cuộc kháng chiến.
Vua Chế Mân say mê nghe nàng nói, và thỉnh thoảng chen vào để hỏi thêm
một vài chi tiết. Huyền Trân nói tướng Trần Hưng Đạo là ông ngoại của
nàng, và tướng Trần Quang Khải là thân sinh của thầy học
nàng.
Nhờ nói
chuyện với vua mà nàng biết được rằng Chiêm Thành đă nhiều lần bị các
nước chân Lạp và Đại Việt xâm chiếm. Năm Ất Sửu, tức là khoảng một trăm
sáu mươi năm về trưóc. Chân Lạp đă qua xâm chiếm kinh thành Vijaya và đô
hộ nước Chàm trong suốt bốn năm ... Ba mươi hai năm sau, Chiêm Thành
quyết chí phục thù và đă đưa quân sang xâm chiếm kinh đô Angkor. Giết
vua Chân Lạp và cũng thiết lập một nền đô hộ trên đất này trong bốn năm.
Rồi cách đây đúng một trăm lẻ sáu năm, vua Jayavarman đệ thất của Chân
Lạp lại đưa quân sang xâm chiếm Chiêm Thành và trong suốt mười bảy năm
đă biến cải toàn nước Chàm thành những quận huyện Chân Lap, khiến Chiêm
Thành phải tranh đấu kịch liệt lắm mới dành lại được quyền tự chủ. Nước
Đại Việt cũng đă từng gây nhiều khổ đau cho dân tộc Chàm. Vua Lê Đại
Hành từng đem quân xâm chiếm kinh dô Indrapura, đốt phá thành tŕ, lăng
miếu, bắt trên một trăm cung nữ, và chiếm lấy không biết bao nhiêu vàng
bạc và châu báu. Vua Chàm là Indravarman đệ tứ phải bỏ chạy vào Nam.
Cũng từ đó, kinh đô của nước Chiêm được xây dựng tại Vijaya. Vua Lư Thái
Tổ cũng đă từng qua xâm chiếm Chiêm Thành, giết vua Jaya Simhavarman đệ
nhị, bắt ba mươi thớt voi, năm ngàn tù nhân, tiến quân vào Vijaya, bắt
Hoàng hậu My Ê và trọn cả đoàn ca vũ Chiêm Thành về nước. Lần đó quân
Đại Việt đă chém giết hung bạo, xác của thường dân Chàm chất đống đầy
đồng. Cuộc xâm lăng thứ tư là do Lư Thánh Tông cầm đầu với công phụ tá
của tướng Lư Thường Kiệt. Vua Thánh Tông cũng chiếm cứ Vijaya, bắt năm
vạn quân Chiêm làm tù binh và sai tướng Lư Thường Kiệt đuổi theo vua
Ruhravarman đệ tam tới tận biên giới Chân lạp và bắt được vua này đem về
Đại Việt. Sau khi hứa dâng ba châu Bố Chính, Địa Lư và Ma Linh ở miền
Bắc Chiêm Thành cho Đại Việt, vua được thả về Chiêm. Sự kiện tàn ác nhất
trong cuộc xâm lăng này là quân Đại Việt đă được lệnh đốt hết tất cả nhà
cửa của dân gian trong nội thành Phật Thệ.
Harijit
kể lại tất cả những điều đó với một giọng trầm buồn. Hoàng hậu
Paramesvari ôm mặt khóc. Nàng không ngờ giữa hai nước Chiêm Việt đă có
những giai đoạn lịch sử đau thương đến thế. Hồi c̣n bé, Huyền Trân đă
được nghe nói về những cuộc chiến tranh Chiêm Việt, và nàng cứ nghĩ rằng
tất cả tội lỗi là do người Chàm gây nên. Nàng biết rằng Đại Việt có
quyền đem quân ra biên giới để dẹp những cuộc khiêu khích và phá rối của
người Chàm, nhưng không ngờ là các cuộc chinh phạt đă xảy ra lớn lao như
thế. Có thể là người Chàm hiếu chiến và ưa khiêu khích thật nhưng điều
này có thể phát sinh từ một mối căm hận lâu đời. Họ khó mà quên được
rằng một phần đất của đất nước họ nay trở thành lănh thổ Đại Việt. Qua
những biến cố lịch sử mà nàng mới được nghe, Huyền Trân thấy được ước
muốn thâm sâu của đồng bào nàng trong việc mở mang bờ cơi về phương Nam.
Nàng nghĩ đến hai châu Ô và Ri vừa mới được chuyển nhượng sang cho Đại
Việt. Nàng biết tuy Thượng hoàng và vua Anh Tông không nghĩ đến cái lợi
đó khi cho nàng về với vua Chiêm, nhưng biết bao nhiêu quan chức trong
triều đinh đă nghĩ đến cái lợi đó. Quan Nhập Nội Thành Khiển Trần Khắc
Chung nghĩ đến đă đành, mà quan Tham Tri Chính Sự Đoàn Nhữ Hài tuy lúc
đầu chống đối chuyện hôn nhân của nàng cũng đă nghĩ đến. Huyền Trân vừa
về được bốn tháng mà đă cảm thấy ḿnh là người Chiêm rồi. Gịng
máu Đại Việt c̣n luân lưu trong huyết quản của nàng, nhưng nàng đă bắt
đầu thương mến dân Chàm như là thương mến dân Việt. Nàng thấy sự sống
của người dân Chàm không khác ǵ sự sống của người dân Việt, cả hai dân
tộc cùng đau những nổi đau như nhau, cùng buốn những nỗi buồn như nhau,
cùng ao ước những nỗi ao ước như nhau. Trái tim nàng đă hé mở, đă bao
dung được cả hai dân tộc. Thượng hoàng năm xưa đă ở lại đất Chàm gần tám
tháng, chắc chắn trái tim của Thượng hoàng cũng đă mở ra và từ đó ngài
đă thương dân Chàm như chính dân ḿnh. Đó là một trái tim của người con
Phật. Trái tim của Huyền Trân hiên đang đập một nhịp với trái tim của vị
thiền sư núi Yên Tử. Trái tim của nàng đă trở thành trái tim của Thượng
hoàng. Trong giờ phút đó, bỗng nhiên Huyền Trân thấy được tất cả tầm
quan trọng của sứ mệnh nàng: Phải làm sao duy tŕ bồi đắp nền ḥa b́nh
Chiêm Việt, tránh cho dân của cả hai nước những cuộc tàn hại như trong
quá khứ.
Nàng lau
khô nước mắt, và ngước nh́n lên vua Chiêm, nàng nói cho Harijit biết ư
tưởng đó của nàng. Vua Chiêm hiểu được tâm trạng của nàng công chúa Đại
Việt, và cầm lấy tay Hoàng hậu, trang trọng như đang nắm giữ một vật ǵ
quư báu nhất đời.
Đầu
tháng Chạp năm ấy Huyền Trân thấy trong người khó ở. Vua Chế Mân cho mời
ngự y vào chẩn bệnh cho Hoàng hậu. Ngự y cho biết là Hoàng hậu bắt đầu
thai nghén. Vua mừng rỡ, lại càng cưng quư Huyền Trân hơn, Hoàng hậu
mong sẽ hạ sinh được một hoàng nam để nối chí Thượng hoàng và cũng để
nối chí của chồng. Huyền Trân biết đứa con của nàng sau này sẽ không làm
vua nước Chiêm Thành, bởi v́ vua Chàm đă có tới hai thái tử, và thái tử
đầu đă được phong làm Đông Cung. Tên chàng là Harijitputra, nghĩa là
người con của sư tử chiến thắng, Harijit năm ấy đă lớn. Đó là một người
con trai dễ thương, mang trong ḿnh hai ḍng máu Chiêm Thành và Qua Oa.
Huyền Trân đă nói chuyện nhiều lần với thái tử và tuy đă hai mươi hai
tuổi, thái tử rất cung kính đối với nàng. Trong những buổi trao đổi
chuyện tṛ với thái tử, Hoàng hậu thương nhân cơ hội để gieo vào ḷng
người con trai này những hạt giống thân hữu và ḥa
b́nh.
Vua Jaya
Simhavarman đệ tam có nói với Huyền Trân rằng dù Hoàng hậu sinh con trai
hay con gái th́ vua vẫn mừng rỡ như nhau. Khi biết được rằng Huyền Trân
mong ước sinh con trai, vua ngẫm nghĩ hồi lâu rồi
nói:
- Nếu
Hoàng hậu sinh con trai ta sẽ đặt tên cho thế tử là Dayada. Rồi vua cho
Huyền Trân biết tên đó có nghĩa là con trai, là hậu dệu, là người nối
dơi. Hoàng hậu rất bằng ḷng tên ấy.
Năm sắp
hết và Tết sắp đến, Hoàng hậu bàn với Thị Ngọc và Thị Khanh về việc
thiết lập trong cung một bàn thờ tổ tiên đế cúng lễ vào ngày Nguyên Đán
Mậu Thân. Ở Chiêm Thành, dân chúng không ăn Tết Nguyên Đán theo truyền
thống Đại Việt. Huyền Trân chưa bao giờ thấy nhớ nhà nhớ nước như thế.
Nàng bảo Thị Khanh đi t́m những vật liệu để nàng làm bánh chưng và bánh
dày cúng tết. Đêm Giao thừa, Huyền Trân thức với hai người thị nữ. Ba
người nhắc cho nhau ghe những câu chuyện Tết thời trẻ thơ. Họ nói chuyện
thân mật như ba chị em, và tuy hai thị nữ gọi tên Huyền Trân là lệnh bà,
họ cũng không thấy có ǵ ngăn cách t́nh thân giữa họ và Hoàng hậu. Ba
người nói chuyện với nhau cho đến Giao thừa mới đứng dậy làm lễ tổ tiên.
Huyền Trân vọng bái về phương Bắc, tưởng nhớ đến Thượng hoàng, và tất cả
những người thân. Hai cô thị nữ cũng bắt chước nàng. Trong giờ phút đó,
họ có cảm tưởng rất gần gũi quê hương.
Huyền
Trân đă hứa cho Thị Khanh về nước vào tháng sáu năm Mậu Thân để lập gia
đ́nh. Thị Ngọc th́ t́nh nguyện ở măi bên cạnh Hoàng hậu. Ngọc đă từng
lấy niềm vui của Huyền Trân làm niềm vui của ḿnh và đă quen săn sóc
nàng như săn sóc cho một người chị. Được Huyền Trân hỏi về chuyện gia
đ́nh. Ngọc đă lắc đầu mỉm cười. Cuối cùng Ngọc đă thưa với Hoàng hậu là
nếu cần, nàng sẽ lấy chồng Chiêm Thành để có thể măi măi được gần Hoàng
hậu.
Huyền
Trân đă học chữ Devanagari và đă đọc được những bản văn dharmasastra
bằng tiếng Phạn. Nàng cũng đă học đọc và viết chữ khar - tapuk, một thứ
chữ được thường dân sử dụng, cũng viết từ trái sang phải như chữ Phạn
chứ không phải viết từ trên xuống dưới như ở Đại Việt. Nàng dạy cho Thị
Ngọc học thứ chữ này, thông dụng cũng như chữ Nôm ở Đại Việt. Chữ Phạn
th́ chỉ có giới trí thức và quư tộc mới biết đọc và biết viết mà
thôi.
Một hôm
đi Panduranga, thị sát việc xây tháp Po Klaung Garai về, vua Chế Mân lên
cơn sốt. Huyền Trân cho gọi các ngự y vào chẩn mạch cho vua. Ngự y nói
là vua bị cảm cúm, bảo cung nhân đánh gió cho vua. Hoàng hậu tự tay đi
nấu cháo cảm và mang đến cho Harijit. Vua húp được nửa bát, chảy mồ hôi,
và thấy khỏe, nhưng sáng hôm sau, vua lên cơn sốt trở lại. Cơn sốt kéo
dài và vua nói ḿnh mẩy vua đau nhức như dần. Các ngự y lại được triệu
vào. Nhiệt độ của vua lên rất cao, và vua đă nói mê trong cơn sốt. Huyền
Trân hoảng hốt. Các ngự y chầu chực trong ba hôm liền mà vua vẫn mê man
không tỉnh. Người ta cạy miệng vua để đổ thuốc vào, nhưng không đẩy lui
được cơn bệnh. Hoàng hậu thức suốt ba đêm bên giường ngự. Thị Khanh và
Thị Ngọc khẩn khoản xin nàng đi nghỉ để họ thay thế, nàng cũng không
nghe. Những lương y nổi tiếng, kể cả mấy vị lương y Tây Trúc cũng được
mời vào cung tham vấn. Ai cũng lắc đầu trước t́nh trạng vua. Triệu chứng
của bệnh vua tương tự như triệu chứng của bệnh thương hàn, nhưng thuốc
thương hàn ngự y đem dâng đă không có hiệu quả nào. Vào giữa khuya ngày
mồng bảy tháng năm, vua băng./.
Sưu Tầm
Thực hiện: Ngọc Liên
Văn Hóa Phật Giáo