|
Ư nghĩa của
bố thí và cúng dường
Thượng Tọa Thích Nhất Chân
---o0o---
Cúng dường và bố thí vốn
cùng một nghĩa "cho". Cái ǵ của ḿnh mà có thể
đem ra "cho" người khác, th́ gọi là "cho".
Cũng cùng một nghĩa, song
tùy theo trường hợp hay hoàn cảnh mà nghĩa "cho"
này có những tên gọi khác nhau. Thông thường th́ chỉ gọi là "cho",
trường hợp khác th́ gọi là "tặng", đôi khi gọi là "biếu".
Riêng danh từ "bố thí" được dùng để
chỉ trường hợp "cho" những người bần cùng nghèo
khổ, ăn xin ăn mày. Và trường hợp khi một người Phật tử đem
những ǵ của ḿnh ra "cho" Tam Bảo, vốn là nơi
nương tựa của ḿnh, th́ gọi là "cúng dường".
Thế gian thường nh́n nghĩa
"cho" này theo chiều hướng "kẻ cả",
nghĩa là người cho bao giờ cũng ở bên trên người nhận. Người cho
là người ban ân, người nhận là người thọ ân. Do đó mà người cho
luôn luôn có uy thế đối với người nhận. Đây đúng là trường hợp
của "cho" và "bố thí". Song trong
các trường hợp ngược lại, người cho ở vị thế thấp hơn người nhận,
th́ thông thường gọi là "biếu". Nếu vị thế người cho càng
thấp hơn nữa so với người nhận, và người nhận lại hoàn toàn có
uy thế đối với người cho, th́ lúc ấy "cho" được
gọi là "dâng lên". C̣n nghĩa "tặng" là "cho"
giữa những người ngang hàng với nhau, "cho" để kết
t́nh thân hay cốt để gây một ấn tượng t́nh cảm tốt đẹp mà thôi,
th́ gọi là "tặng".
Trong thế gian không có
nghĩa "cúng dường", song có nghĩa "bố thí".
Tuy nhiên nghĩa "bố thí" trong Đạo không giống với
nghĩa "bố thí" của thế gian.
Đạo pháp nh́n "bố thí"
không theo chiều hướng "kẻ cả" hay "ra ân" mà theo
một chiều hướng tâm linh rất thâm sâu, bao gồm nhiều ư nghĩa của
Đạo. Chúng ta hăy khảo sát một cách tổng quát về nghĩa Đạo của
bố thí như sau :
Bố thí gồm có ba thành phần
chính : một là người cho, hai là vật để cho và ba là người nhận.
Thiếu một trong ba thành phần này th́ pháp bố thí sẽ không thành
lập được. Trong ấy, vật để cho là mối liên kết giữa người cho và
kẻ nhận. Vật này trước tiên hết phải thuộc về người cho sở hữu,
nghĩa là nó là vật của người cho. Cho một vật không phải của
ḿnh thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy trở
thành vật của người nhận, và người cho không c̣n quyền hạn ǵ
đối với vật ấy nữa.
Cho như thế có nghĩa là "xả
bỏ" các sở hữu của ḿnh, xả bỏ những ǵ mà ḿnh có. Tại sao
lại phải xả bỏ các sở hữu của ḿnh ?
Con đường giải thoát trong
Đạo Phật cho thấy rằng sự hiện hữu của mỗi hữu t́nh chúng ta là
một sự ràng buộc trói chặt chằng chịt vào nhau. Cái tâm thức mà
là chúng ta một khi đă trói dính vào thân này, thời phải trói
dính vào quần áo, nhà cửa, đồ ăn thức uống v.v... để nuôi dưỡng
và duy tŕ thân này. Một khi tâm thức ấy đă trói chặt vào thân
ấy cho đó là Tôi, th́ nó sẽ trói chặt luôn vào vợ tôi, con tôi,
nhà cửa gia sản của tôi, bạn bè thân quyến của tôi... Khi Đạo
pháp nói rằng chúng ta bị trói dính vào luân hồi biến chuyển đau
khổ, chúng ta không được giải thoát, tức có nghĩa là chúng ta,
hay đúng hơn cái tâm thức mà là chúng ta, bị trói chặt vào thân
này và các sở hữu khác của nó. Thế nên giải thoát có nghĩa là
cởi tâm thức ra khỏi các trói chặt của thân và các sở hữu. Tâm
thức tự trói ḿnh vào các thứ ấy bằng tâm ái luyến, nên chính
tâm thức cũng phải tự cởi ḿnh ra bằng tâm thoát ly hay tâm xả
bỏ các pháp sở hữu ấy.
Con đường giải thoát khuyến
khích mạnh mẽ tâm thoát ly cho đến mức viên măn thoát ly th́
thành ra là giải thoát Niết Bàn.
Tâm xả bỏ có một chiều
hướng khác và bao gồm nhiều ư nghĩa thâm sâu hơn là tâm thoát
ly. Ư nghĩa thoát ly, theo con đường Giải thoát chỉ là xả bỏ tâm
ái luyến đối với các vật sở hữu, đồng thời phát khởi một tâm đối
trị tâm ái luyến này, tức tâm chán ghét ĺa xa. Do đó nên tâm
thoát ly phải đón nhận và thâm nhập sâu xa vào ư nghĩa vô
thường, khổ, vô ngă của thân ḿnh và các pháp sở hữu. Trong khi
tâm xả bỏ ở đây không phải chỉ thuần túy là ĺa xa ở bên trong
đối với các pháp sở hữu, mà chính yếu lại là tâm "chiếu cố"
đến người khác, đến sự cầu mong của người khác nên xả bỏ sở hữu
của ḿnh để ban cho họ được thỏa măn ḷng mong cầu.
Như vậy, trong khi tâm
thoát ly chỉ nh́n vào tính chất vô thường khổ của các vật sở hữu
để tự ḿnh phát khởi sự chán ghét mà ĺa xa các pháp ấy đi, để
rồi chính nơi ḿnh tự thành tựu được sự thoát ly vĩnh viễn cứu
cánh gọi là Niết Bàn, th́ tâm xả bỏ lại nh́n vào sự khao khát
mong cầu của các người khác, để phát khởi lên một tính chất
thương xót ngay nơi chính ḿnh, để rồi mạnh mẽ "nhường
lại" hay xả bỏ các vật sở hữu của ḿnh để đưa ra cho họ. Tâm
thoát ly để mặc sự vật ở yên đó với tính chất vô thường biến hóa
của nó, trong khi tâm xả bỏ ở đây sử dụng sự vật như một phương
tiện để thỏa măn người khác.
Như thế tâm xả bỏ ở đây
không hề có nghĩa là do v́ chán ghét không thích nên mới xả bỏ,
mà xả bỏ là v́ quan tâm chiếu cố đến sự đ̣i hỏi của người khác,
đáp ứng theo sự cầu xin của họ, mà xả bỏ ra cho họ. Xả bỏ ở đây
cũng không phải là để thoát ly các đối tượng bị trói buộc và
chính yếu là để thoát ly chính tâm tham ái trói buộc nhằm tự
chứng lấy cứu cánh giải thoát ; mà xả bỏ ở đây là để xoa dịu các
khao khát của người khác và chính yếu là để thành lập tâm Đại bi
nhiếp hộ người khác nhằm đưa họ đến chỗ giải thoát cứu cánh vĩnh
viễn thỏa măn.
Xả bỏ theo nghĩa ấy mới
được gọi là "bố thí". Bố thí ở đây do đó không hề
có nghĩa bố thí của thế gian, như một "kẻ cả" ở bên trên,
ra ân thí cho các kẻ nghèo cùng khốn khổ ở bên dưới. Chính yếu,
Bố thí ở đây có nghĩa là đáp ứng lại vô điều kiện và không lưỡng
lự đối với sự cầu xin của bất cứ ai, trên ḿnh hay dưới ḿnh,
khổ hơn ḿnh hay sướng hơn ḿnh, cho đến bất kể là loài hữu t́nh
nào đi nữa. Hễ có xin là có cho, và đă xin ǵ là cho nấy, dù là
gia sản, vợ con, cho đến chính thân thể ḿnh. Tại sao lại phải
cho một cách "quá đáng" như vậy ?
Bởi v́ Bố thí ở đây thuộc
về con đường thành Phật, một hành giả đi theo con đường thành
Phật này bị đ̣i hỏi cần phải có một bản thể hay một tư cách Bố
thí như thế. Bố thí là nền tảng hay cơ sở cho con đường thành
Phật vậy. Do bởi Bố thí bao hàm các tính chất chính yếu của một
vị Phật như sau :
1-
Bố thí buông xả tất
cả các pháp sở hữu cho đến buông xả luôn cả chính chủ thể sở
hữu. Đây chính là tính chất trí huệ vô ngă vô ngă sở.
2-
Bố thí buông xả
không phải do ghét bỏ muốn ĺa xa các pháp sở hữu, mà bố thí
buông xả để biến mọi pháp sở hữu chuyển thành phương tiện để
nhiếp hộ chúng sinh. Đây là tính chất phương tiện thiện xảo.
3-
Bố thí buông xả
không phải để cho chính tự ḿnh được hưởng sự giải thoát, mà Bố
thí buông xả là để cho mọi người khác được toại nguyện và an
lạc. Đây là tính chất từ bi lợi tha.
Chưa hết, Bố thí như thế là
một sự thực hành thiết thực cụ thể, nhằm siêu việt ranh giới ta
người, để phát hiện ra và thâm nhập vào lănh vực vô phân biệt,
b́nh đẳng, nhất như, vốn là cảnh giới chân thật nhất, là bản thể
tột cùng của tất cả các pháp.
Trong khi một hành giả giải
thoát ĺa bỏ tất cả mọi thứ của thế gian này, lẻ loi một ḿnh
trong rừng sâu, dồn hết bao nhiêu năng lực để cắt đứt ḿnh đi
khỏi mọi trói buộc với thế gian, mong tự ḿnh thành tựu lấy cảnh
giới chân thật vô phân biệt này, gọi là giải thoát hay Niết Bàn,
th́ một hành giả thành Phật ôm trọn mọi pháp của thế gian, sống
giữa muôn loài chúng sinh, thực hành pháp Bố thí, để cụ thể
thiết thực ḥa ḿnh vào với thế gian hữu t́nh cũng như vô t́nh,
để chứng thực ra giữa thế gian với vô vàn liên hệ chằng chịt này
một cảnh giới "bất nhị" b́nh đẳng vô phân biệt. Chân lư ngay tại
đây, ngay nơi thân ḿnh, ngay nơi vật để cho, ngay nơi người
nhận, chứ không phải chỉ nằm trong rừng sâu hay trong cô đơn
tĩnh lặng.
Do đó, nếu đă sống giữa thế
gian này, giữa muôn loài, mà không cho ra, không Bố thí, thời
thế gian này sẽ không bao giờ được chuyển hóa. Mà đă cho, thời
phải cho tất cả những ǵ là ḿnh và của ḿnh, thời ranh giới
phân hai giữa ta và người mới bị tan biến và toàn thể thế gian
mới bộc lộ ra được toàn thân chân thật của nó. Lúc ấy sự thực
hành Bố thí sẽ chuyển hóa toàn thể thế gian này sang một lănh
vực không c̣n phân biệt là có ta cho, có người nhận, có vật để
cho, cả ba đều không c̣n hiệu hữu nữa, bởi đối cực chủ thể khách
thể ta và người không c̣n phân hai nữa. Sự liên hệ giữa ta một
bên, thế giới và người khác một bên, do sự thực hành Bố thí này
mà đều được thể nhập vào cảnh giới b́nh đẳng nhất như, tất cả
đều thoát hết ra khỏi lănh vực duyên khởi tương đối ràng buộc
chằng chịt, hoàn toàn viên măn đến "bờ bên kia", bờ hợp
nhất giải thoát. Thế nên Bố thí đến đây được gọi là Bố Thí Ba La
Mật Đa (tức "bố thí đến bờ bên kia").
Bố thí như thế không dễ ǵ
thực hiện. Thế nên một hành giả muốn thực hành Bố Thí Ba La Mật
Đa cần phải có một tiến tŕnh tuần tự tu tập Bố thí từ từ
: trước tiên hết, người thực hành Bố thí bắt buộc phải khởi tâm
nguyện dứt khoát đi theo con đường thành Phật để cứu độ chúng
sinh. Tâm nguyện dứt khoát này thường gọi là Bồ Đề tâm. Sau đó
người ấy phải tạo tất cả công đức của thế gian như Bố thí cho
người nghèo khổ, làm tất cả mọi điều tốt hữu ích cho mọi người,
thực hành tŕ giới nhằm bảo vệ cho chúng sinh được an ổn và
không c̣n sợ hăi. Các công đức này thật sự cần thiết chứ không
phải chỉ là phước đức hữu lậu hưởng thụ thuộc ngũ dục như chúng
ta thường lầm tưởng. Do nhờ có công đức này th́ người thực hành
mới có phương tiện để xả bỏ ban cho chúng sinh mà hành Bố Thí Ba
La Mật Đa.
Song để cho tâm nguyện Bồ
Đề được dứt khoát và kiên cố, cũng như để cho khi thực hành các
công đức thế gian, người thực hành không đi lạc ra khỏi con
đường thành Phật, thời bắt buộc người ấy phải thực hành cho vẹn
toàn một công đức nền tảng nhất, đó là công đức "cúng
dường".
Cúng dường giản dị có nghĩa
là "bố thí" cho Tam Bảo. Khi một hành giả thực
hành Bố Thí Ba La Mật Đa thời đối tượng để Bố thí phải là tất cả
mọi loài chúng sinh và phải là tất cả mọi cấp bậc hữu t́nh từ
địa ngục lên cho đến Phật. Khi Bố thí cho các loài hữu t́nh khác
ngoài Phật, các bậc thánh Nhị thừa hay các đại Bồ Tát, th́ Bố
thí ấy thuộc về tính chất Đại Bi. Song khi Bố thí cho Phật, các
Thánh và đại Bồ Tát, th́ Bố thí này thuộc về tính chất Trí Huệ.
Do đó mục tiêu của Cúng dường chính là để thành tựu Trí Huệ vậy.
Chúng ta đă biết, Bố thí có
tác dụng chính yếu là để hợp nhất hay để xóa tan ranh giới phân
hai giữa chủ thể và khách thể, qua động cơ "t́nh cảm" là
thương xót và quan tâm hoàn toàn vào tha nhân (tức Đại bi tâm),
với phương tiện là đưa ra cho hết toàn thể mọi sở hữu của ḿnh,
khi ấy tâm thức của hành giả được đặt để vào trong một trạng
thái không c̣n phân biệt ta người nữa. Và đó chính là trạng thái
chân thật nhất, nguyên thủy nhất, và cứu cánh nhất của tâm thức
hữu t́nh. Trạng thái này là cảnh giới chân lư mà mọi người tu
hành mong đạt đến.
Cúng dường cũng thế, cũng
có tác dụng hợp nhất chủ thể và khách thể, đồng thời cũng nhằm
đạt đến trạng thái cứu cánh như nhất vô phân biệt của Tâm thức.
Song v́ đối tượng của Cúng dường là Tam Bảo, thế nên sự thực
hành Cúng dường có khác ít nhiều với sự thực hành Bố thí.
Sự thực hành Cúng dường vẫn
được khởi động từ một động cơ t́nh cảm. Song t́nh cảm ở đây
không phải là tâm thương xót mà là tâm cung kính. Cung kính đây
không phải là một cung kính sợ hăi ḷn cúi, một thứ cung kính
không dám đến gần, mà nếu phải đến gần th́ khớp sợ và mất tự
chủ. Cung kính ở đây trái lại là một tâm "khao khát hâm mộ"
mong được gần gũi, như kẻ ái mộ mong được gần gũi người ḿnh
thần tượng. Gần gũi không phải để sở hữu lấy đối tượng cung
kính, mà để chính đối tượng cung kính ấy sở hữu lấy ḿnh. Cung
kính như thế bao gồm các tính chất khao khát gần gũi để mà phụng
sự, nghe theo và vâng lời.
Khi Bố thí là hành giả ch́u
theo sự đ̣i hỏi mong cầu của chúng sinh, nhằm làm cho chúng sinh
được thoả nguyện mà nhiếp độ họ. Khi Cúng dường là hành giả tuân
phụng theo "chỉ thị" của Tam Bảo, nhằm chuyển ḿnh theo chân lư
để được thoả nguyện giác ngộ mà độ chính ḿnh. Tự độ và độ tha
hoặc tự giác và giác tha chính là kết quả tối hậu của hai pháp
môn Cúng dường và Bố thí này.
Cũng như Bố thí, các pháp
sở hữu của hành giả là phương tiện chính yếu để thực hành Cúng
dường. Xả bỏ tất cả những ǵ ḿnh có, cho đến xả chính thân ḿnh
mà cúng dường, là nhằm dứt khoát ḥa hợp làm một với Tam Bảo.
Cúng dường đến mức tuyệt đối vẹn toàn như thế, thời tâm thức của
hành giả sẽ được đặt để vào một trạng thái không c̣n phân hai
nữa giữa ḿnh là người thực hành và Phật là kết quả để thành. Do
ḿnh cũng không c̣n có, Phật, Pháp, Tăng cũng không c̣n có, thế
nên tâm thức của hành giả thật sự đạt đến trạng thái Bát Nhă Ba
La Mật Đa, một trạng thái siêu việt lên bờ bên kia, bờ hợp nhất,
tránh xa hai cực đối đăi giữa chủ thể t́m chân lư và chính chân
lư là khách thể được t́m.
Cúng dường đến mức viên măn
như thế cũng không dễ ǵ mà thực hiện. Song hành giả không hề bị
ép buộc làm quá khả năng ḿnh bao giờ. Điều cần thiết nhất là
động cơ thúc đẩy hành giả Cúng dường phải là động cơ chân chính,
tức tâm thức cần cầu trí huệ giác ngộ, thành tựu Phật quả, để độ
chúng sinh. Đó chính là Bồ Đề tâm. Kế đến hành giả cần phải có
bàn thờ với h́nh tượng Phật để mà cúng dường. Phẩm vật Cúng
dường là tất cả các pháp như mầu sắc : ánh sáng, đèn,
hoa, quả, âm thanh : thỉnh chuông, xướng lên tán
thán hay ngay cả âm nhạc như cơi trời thường cúng dường Phật như
vậy, hương : hương đủ loại, ngay cả hương của hoa quả
nữa, vị : trái cây, đồ ăn thức uống, cảm xúc
: như mát, ấm, quần áo, sự tô điểm đẹp đẽ trang nghiêm của bàn
thờ, cho đến giữ ǵn bàn thờ cho sạch sẽ thanh khiết, tô điểm
bàn thờ cho thật trang nghiêm, chiêm ngưỡng bàn thờ cho thật
thiết tha, đảnh lễ bàn thờ cho thật chân thành. Tất cả mọi hành
vi của hành giả đối với bàn thờ Phật, nhất cử nhất động, cùng
với tất cả các pháp xung quanh, đều được nhiếp vào tâm niệm cung
kính cúng dường.
Tâm thức Cúng dường phải
hết sức bén nhậy, ngay khi thiết lập bàn thờ, đó chính là đang
Cúng dường rồi, cho đến quét lau bàn thờ, đều là các thực hành
cúng dường. Do đó, để ra một pḥng làm pḥng thờ cũng là Cúng
dường pḥng, nên quét lau pḥng thờ cũng là thực hành cúng
dường, cho đến bước chân ra chợ mua hương hoa để cúng dường, th́
bước chân đi ấy cũng là thực hành Cúng dường vậy.
Dần dà người thực hành Cúng
dường sẽ cảm nhận ra rằng cả một phần đời sống của ḿnh là đời
sống cúng dường. Nếu người ấy phát triển sự Cúng dường rộng răi
hơn nữa, như công quả ủng hộ chùa chiền, in kinh ấn tống, Cúng
dường gần gũi phụng sự chư Tăng, th́ người ấy sẽ cảm thấy rơ
ràng là cả một nửa cuộc đời ḿnh là cuộc đời cúng dường. Và nếu
nửa đời kia liên hệ với xă hội là để thực hành Bố thí th́ người
ấy sẽ hoàn toàn thấy rơ trọn cuộc sống ḿnh là cuộc sống Bố thí
và cúng dường. Từ Bi và Trí Huệ là trọn vẹn cuộc sống của ḿnh
và được thực hành ngay trong đời sống của ḿnh với phương tiện
là chính thân ḿnh và các vật sở hữu của ḿnh đang được sử dụng
để nối kết ḿnh vào làm một với chúng sinh và Tam Bảo, để chuyển
hóa toàn thể cuộc sống của ḿnh trở thành một hiện thân của chân
lư bất nhị siêu việt tối thượng.
Để đạt đến mục tiêu ấy, tâm
thức Cúng dường không chỉ càng ngày càng bén nhậy, mà càng ngày
càng phải rộng mở ra hơn nữa. Hành giả từ tâm thức tạo dựng chùa
chiền để cúng dường, in kinh để cúng dường, tiến thêm nữa sẽ
thành tâm nguyện xây dựng chùa tháp, trùng tu già lam khắp
nơi... cho đến thành đại nguyện của Bồ Tát là xây dựng
chùa tháp khắp cơi Diêm phù, hoằng dương chính pháp khắp nơi
khắp xứ... cho đến cuối cùng thành lập Tịnh Độ đầy đủ trang
nghiêm để lợi độ chúng sinh viên măn bất tận...
Để cho tâm thức hành giả
được thiết thực mở toát ra hết đối với Tam Bảo như vậy, nơi tâm
niệm cung kính Cúng dường bao giờ cũng kèm theo tâm nguyện khát
khao gặp Phật, khát khao sinh về cơi Phật, khát khao cúng dường
vô lượng tất cả chư Phật, khát khao gần gũi phụng sự vô biên tất
cả chư Phật. Tâm khát khao gặp Phật này phải cấp thiết chân
thành, như con thơ đi lạc mong gặp mẹ, phải chuyên nhất một mối
như người gặp nạn hiểm chết đến nơi chỉ một ḷng cầu thần lực
cứu thoát, phải tràn ngập hân hoan như kẻ đi t́m châu báu đang
tiến đến trước cửa kho tàng.
Với tâm niệm cúng dường như
thế, dần dà mọi tâm nguyện hoằng pháp lợi sinh sẽ đều hội tụ về
một mối và phát sinh tăng trưởng mạnh mẽ. Điều thiết yếu là tất
cả mọi tâm nguyện này khởi động đều thuộc về bản chất cúng
dường, tức đều hướng về một mối là chuyển hết các công đức ấy về
kết quả cuối cùng là thành Phật, chính là khi hành giả và Phật
không c̣n phân hai nữa. Cúng dường trong giai đoạn này c̣n gọi
là "hồi hướng về vô thượng Bồ Đề".
Tóm lại, Bố thí và cúng
dường đều là các pháp môn được thực hành ngay trong ḷng chúng
sinh, ở giữa trần gian này, bằng chính t́nh cảm của chúng sinh,
bằng tâm phân biệt ta người của hữu t́nh, song mục tiêu vẫn là
để đưa đến chỗ chân lư cứu cánh cũng như thành Phật và giải
thoát.
Điều quan trọng sau cùng mà
chúng ta cần lưu ư là : chân lư thật sự giản dị chỉ là bàn thể
thường hằng xưa nay của tâm thức chúng sinh, nên bản thể này có
thể được nh́n ra và thật chứng bởi rất nhiều cách thức ngoài đạo
Phật cũng như trong đạo Phật, khác với Bố thí và Cúng dường (nếu
nói rộng th́ gồm đủ cả sáu Ba La Mật Đa). Nhưng các cách thức
khác ngoài đạo Phật sẽ không hề đưa lại được sự giải thoát chân
thật chứ đừng nói là thành Phật. C̣n các cách thức khác ở trong
đạo Phật là thuộc về các pháp môn tự lợi của nhị thừa, thời có
thể đưa tới một giải thoát chân thật, song lại không thể thành
Phật được. Do đó, chỉ có các pháp môn Bố thí và Cúng dường thuộc
sáu Ba La Mật Đa này mới là con đường đưa đến kết quả thành
Phật. Thế nên, các vị Bồ Tát sẽ thường xuyên thực hành Bố thí và
cúng dường (cũng như cả sáu Ba La Mật Đa), trải qua rất nhiều
kiếp mà không chịu chứng Thật Tế (tức chân lư) và giải thoát
Niết Bàn, cho đến bao giờ thực hành viên măn hết Bố thí và Cúng
dường, và gồm cả các Ba La Mật Đa khác, thời bấy giờ Bồ Tát mới
chịu chứng Thật Tế và Niết Bàn. Khi ấy Bồ Tát được gọi là Phật
hay Chính Đẳng Chính Giác. Nói cách khác là phải bao giờ thành
tựu đầy đủ viên măn các công đức của một vị Phật (tức sáu Ba La
Mật Đa), lúc ấy một Bồ Tát mới chịu chứng đạo và chứng giải
thoát Niết Bàn. Thế nên sự tu hành theo con đường đại thừa Bồ
Tát Đạo là một tiến tŕnh lâu dài trong rất nhiều kiếp và giữa
ḷng thế gian này, chứ không phải chỉ là một kỷ luật tu tập ngắn
hạn nào đó trong ṿng một đời sống này để đưa đến cứu cánh giác
ngộ và giải thoát. Đó là điều một hành giả thực hành Bố thí và
cúng dường cần phải ư thức và ghi nhớ vậy.
|