Đức vua Lư Thái Tổ, huư là Lư
Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất
(974), người làng Cổ Pháp, Bắc
Giang, nay là Đ́nh Bảng, huyện
Tiên Du, Bắc Ninh. Thân mẫu là
Phạm Thị. Khi lên 3 tuổi, thân
mẫu đem Ngài Lư Công Uẩn cho
Thiền sư Lư Khánh Vân – Chùa Dâu
(Pháp Vân) làm con nuôi. Năm lên
7 tuổi, Thiền sư Lư Khánh Vân
đem gửi Ngài Lư Công Uẩn học đạo
với Thiền sư Vạn Hạnh – chùa Lục
Tổ (chùa Tiêu Sơn), huyện Tiên
Du, Bắc Ninh.
Với bẩm tính thông minh, hiếu
học, được hun đúc chốn cửa Thiền,
Ngài Lư Công Uẩn được Thiền sư
Vạn Hạnh cho học văn vơ song
toàn, chí khí cao thượng, trong
cảnh đất nước vừa mới có độc lập
tự chủ sau 1000 năm Bắc thuộc
đang cần nền ḥa b́nh phát triển
đất nước, nhân dân được hạnh
phúc phú cường mà tiền nhân các
nhà lănh đạo đương nhiệm, cũng
như các vị Quốc sư, Thiền sư
thầy của Lư Công Uẩn đang cố
gắng thực hiện. Chính những tác
động ấy đă hun đúc ư chí yêu
nước thương dân, sẽ góp phần xây
dựng và phát triển đất nước của
chàng trai nước Đại Việt họ Lư
sau này.
Một điểm thuận
lợi là các Thiền sư Vạn Hạnh,
Khuông Việt, Pháp Thuận đều là
những trụ cột của triều đ́nh, là
Tăng thống, Quốc sư, cố vấn cho
triều đ́nh nhà Đinh và Tiền Lê
(968 - 1009). Do đó, khi Lư Công
Uẩn trưởng thành, Ngài được Vạn
Hạnh Thiền sư tiến cử vào kinh
đô Hoa Lư làm tham chính triều
Tiền Lê – Lê Đại Hành, chức vụ
Tả thân vệ – Điện tiền chỉ huy
sứ cho đến thời Lê Long Đỉnh
(1005 - 1009).
Sau khi
vua Lê Long Đỉnh băng hà (1009),
Ngài được Chỉ Hầu Đào Cam Mộc,
bá quan văn vơ và sự ủng hộ của
Đại sư Khuông Việt, Vạn Hạnh v.v…
tôn Lư Công Uẩn lên ngôi Hoàng
đế, lấy hiệu là Lư Thái Tổ, đổi
niên hiệu năm Thuận Thiên thứ
nhất (1009), kinh đô đặt tại Hoa
Lư.
Với tầm nh́n chiến
lược và lâu dài, có liên quan
đến điều kiện phát triển địa lư,
văn hóa, xă hội, kinh tế, quốc
pḥng … cho nên, vua Lư Thái Tổ
khi lên ngôi được 10 tháng, đến
tháng 8 năm Canh Tuất (1010),
Ngài quyết định dời đô về thành
Đại La. Nội dung Chiếu Dời đô có
đoạn:
“…. Thành Đại La ở
vào nơi trung tâm của trời đất,
được cái thế rồng cuộn hổ ngồi,
tiện hướng nh́n sông tựa núi,
địa thế rộng mà bằng, đất đai
cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu
cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật
cũng rất mực phong phú tốt tươi.
Xem khắp đất Đại Việt ta, chỉ
nơi đây là thắng địa. Thật là
chốn tụ hội trọng yếu của bốn
phương đất nước, cũng là kinh đô
bậc nhất của đế vương muôn đời”.
Khi thuyền ngự cập bến sông
Hồng, thấy rồng vàng thăng thiên,
do đó Ngài đổi tên Đại La thành
Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
Định đô tại Thăng Long, Ngài
lập tức đổi tên cố đô Hoa Lư
thành phủ Tràng An, Châu Cổ Pháp
quê nhà thành phủ Thiên Đức (Bắc
Ninh), cho xây cung điện, lâu
đài …. Xứng đáng là Kinh đô của
Nước Việt, đất nước ngàn năm văn
hiến, trái tim của Tổ quốc Việt
Nam muôn đời.
Bên cạnh
đó, Ngài đă nhiều lần ban chiếu
xây dựng chùa chiền trong nội,
ngoại thành Thăng Long và quê
hương Cổ Pháp như: Hưng Thiện,
Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Đại Giác,
Chân Giáo, Thiên Quang, Thiên
Đức, Thiên Vương, Cẩm Y, Hưng
Long, Thắng Thọ. Năm 1014, vua
cho mở Đại Giới đàn tại chùa Vạn
Tuế, thành Nội để độ chúng Tăng
xuất gia, thọ giới tu học hàng
ngàn người.
Năm 1014 –
1019, vua Lư Thái Tổ chỉ đạo cho
Tăng thống Thẩm Văn Uyển độ hơn
4000 Tăng xuất gia và cấp độ
điệp làm Tăng, thỉnh cử Ngài Phí
Trí làm Tăng thống lănh đạo Phật
giáo cả nước. Kế tiếp có Ngài
Hữu Nhai Tăng thống Thẩm Văn
Uyển, rồi đến Tăng thống Huệ
Sinh, Tăng thống Khánh Hỷ lănh
đạo Phật giáo thống nhất triều
Lư (1010 - 1225).
Năm
1018, Ngài cho phái bộ Nguyễn
Đạo Thành, Phạm Hạc sang nhà
Tống thỉnh Đại Tạng Kinh. Cho
xây nhà Tàng Kinh Trấn Phúc để
tôn trí Đại Tạng.
Năm
1024, cho xây chùa Chân Giáo
trong thành để Nhà Vua dễ đến
đọc tụng kinh, bái sám, hành lễ;
thỉnh chư Tăng giảng kinh thuyết
pháp, cho văn vơ bá quan và dân
chúng thuận lợi nghe pháp, đượm
nhuần ân pháp vũ.
Năm
1027, cho sao chép Đại Tạng Kinh
làm nhiều bản để phổ biến cho
dân chúng nghiên cứu, tu học và
tôn trí tại Tàng kinh các Bát
Giác, Đại Hưng và những ngôi
chùa trọng yếu trong thành Thăng
Long.
Ngài đă coi giáo lư
đạo Phật làm nền tảng đạo đức
căn bản, tổ chức trích yếu những
lời dạy của Đức Phật qua Đại
Tạng kinh và những lời khai thị,
kệ ngôn, huấn thị của các Thiền
sư, bấy giờ chùa vừa là nơi đào
tạo con người, vừa là nhà trường
tốt nhất để giáo dục đào tạo nên
những con người có tài đức, như
cư sĩ Tô Hiến Thành, Ngô Ḥa
Nghĩa, Lư Thường Kiệt, Lương
Nhiệm Văn, Nguyễn Đạo Thành. Đặc
biệt, đời Lư Nhân Tông thành lập
Trường Quốc Tử Giám (1076) –
Trường Đại học đầu tiên của Việt
Nam, làm Lễ tắm Phật (Phật đản),
Đại lễ Vu lan được tổ chức vào
năm 1072; Hội đèn Quảng Chiếu tổ
chức vào các năm 1110, 1116,
1120, 1128 dưới đời Lư Nhân Tông
v.v… Với nền giáo dục nhân bản,
từ bi, trí tuệ và rộng mở, có
thể nói tŕnh độ tri thức dân
chúng được nâng cao, làm nền
tảng cho mọi học thuật và kiến
trúc Phật giáo thời Lư, dẫn đến
đời Trần (1225 - 1400).
Chiến lược quân sự được củng cố
và phát triển, quân đội hùng
mạnh và tinh nhuệ, đủ thực lực
để đánh Tống b́nh Chiêm. Cho nên,
vào đời vua Lư Thái Tông đă đánh
thắng quân nhà Tống (1077), bản
tuyên ngôn độc lập thứ hai ra
đời, do Lư Thường Kiệt công bố
giữa ba quân; Lư Thánh Tông đă
chinh phục Chiêm Thành, vua Chế
Củ hiến 3 Châu (Địa Lư, Ma Linh,
Bố Chính) để chuộc tội và nhập
vào bản đồ Đại Việt, mở rộng bờ
cơi đến Tây Bắc Quảng Trị. Đến
thời Trần công chúa Huyền Trần
được gă cho vua Chiêm – Chế Mân
để thắt chặt bang giao hai nước,
đáp lại Vua Chiêm dâng 2 Châu (Châu
Ô, Châu Rí) để làm sính lễ, Đại
Việt mở rộng bờ cơi đến tận
Quảng Nam…
Về sinh hoạt
đời sống xă hội, dân chúng an cư
lạc nghiệp, đất nước phồn vinh,
văn minh, tiến bộ, thậm chí sứ
thần nhà Tống đă khen: “Là một
xă hội ấm no hạnh phúc, dân
chúng an cư lạc nghiệp, không bị
thiên tai lũ lụt, đất đai mầu mở
và luôn luôn phát triển, mở rộng
thêm”.
Bằng tinh thần từ
bi, b́nh đẳng, khoan dung, độ
lượng của Phật giáo, tam giáo
hài ḥa đồng hành phát triển,
nên từ vua quan đến dân chúng
đều đượm nhuần tư tưởng Phật
giáo, là điều kiện phát triển và
sinh hoạt xă hội theo định hướng
chung của đạo Phật. Phật giáo
thời Lư, là xă hội thuần nhất,
đạo đức, hướng thiện, ổn định và
ḥa b́nh thực sự có một không
hai trong lịch sử Việt Nam và
Phật giáo Việt Nam.
Có
được công cuộc cải cách, đổi mới
và phát triển đất nước Đại Việt
bấy giờ đạt đến đỉnh cao như thế
phải nghĩ đến công đức của các
vị Quốc sư là cố vấn của triều
đ́nh, đặc biệt là Thiền sư Vạn
Hạnh, người làng Cổ Pháp, Bắc
Ninh, sinh năm 932 vào thời Tiền
Lư, xuất gia tu hành theo học
với Thiền Ông Lăo Tổ, chùa Lục
Tổ (Tiêu Sơn), với pháp môn hành
tŕ là Tổng Tŕ Tam Ma Địa, xuất
phát từ ḍng thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi, làu thông Tam tạng và tư
tưởng Phật, Nho, Lăo giáo, biết
được những điều sắp xảy ra. Năm
981, Thiền sư Vạn Hạnh giúp vua
Lê Đại Hành ngăn chặn và đánh
tan cuộc xâm lăng của quân nhà
Tống; Năm 982, giúp vua Lê Đại
Hành đánh thắng Chiêm Thành; Năm
1009, Thiền sư Vạn Hạnh cùng các
Thiền sư Khuông Việt, Đa Bảo, Lư
Khánh Vân, ông Đào Cam Mộc định
kế tôn Lư Công Uẩn lên ngôi
Hoàng đế, và trù tính kế hoạch
cho vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa
Lư về thành Đại La. Do đó, các
thành tựu dưới thời vua Lư Thái
Tổ đều có công sức đóng góp to
lớn của Thiền sư Vạn Hạnh.
Với tư tưởng xuất phát từ
Kinh Kim Cang, tất cả các pháp
là không được thể hiện qua bài
thơ thị tịch của Thiền sư Vạn
Hạnh:
“Thân như điện chớp
có rồi không
Cây cỏ xuân
tươi, thu đượm hồng
Tùy vận
thịnh suy không sợ hăi
Thịnh
suy đầu cỏ dính sương mai”
Bằng tư tưởng Phật tại đây
và ở trong ta và cùng khắp cả
mọi người, muôn đời, được thể
hiện qua câu nói trong giờ thị
tịch: “Các con muốn đi đâu? Ta
không lấy chỗ trụ để trụ, không
nương vào chỗ không trụ mà trụ.
Các Pháp là không” của Thiền sư
Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Cảm Thành
Thiền sư trước đó. Cho nên, với
tinh thần v́ Đạo nhưng không
quên đời, Quốc sư Vạn Hạnh là
nhân vật chủ yếu, tiêu biểu
trong sự hưng thịnh của Triều
Lư, được vua Lư Nhân Tông có bài
truy tán như sau:
"Vạn
Hạnh rơ ba đời
Lời nói hợp
sấm kư
Quê quán Làng Cổ Pháp
Chống gậy vững triều đ́nh"
Đồng thời, cũng c̣n rất
nhiều Thiền sư như Khuông Việt,
Đa Bảo, Tăng thống Huệ Sinh,
Minh Không, Măn Giác, Hiện Quang,
Ứng Thuận, Sùng Phạm, Thông
Biện, Tăng thống Khánh Hỷ, Viên
Thông, Thiền sư Thảo Đường v.v…
để từ đó làm cơ sở tiềm lực, chí
khí quật cường cho Nhà Trần tiếp
tục thực hiện việc trị nước an
dân. Từ vua Trần Thái Tông,
Thánh Tông, Nhân Tông v.v…. đất
nước mở rộng đến Qui Ninh (Qui
Nhơn, B́nh Định). Có những nhà
Vua, vị tướng tu hành chứng ngộ
khi đương vị như Trần Thái Tông,
Tuệ Trung Thượng Sĩ; xuất gia tu
hành chứng đạo như Trần Nhân
Tông – Điều Ngự Giác Hoàng,
thống nhất các Thiền phái Tỳ Ni
Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo
Đường thành Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử … Những hàng xuất gia lỗi
lạc, lănh đạo Phật giáo cả nước
như: Pháp Loa, Huyền Quang Tôn
giả, Bảo Sát, Quốc sư Bảo Phác,
Lẫm Sơn, Tông Cảnh v.v… làm cho
Phật giáo thời Trần thêm rực rỡ
vinh quang, có một không hai
trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
với một nền Phật giáo thống nhất
có từ thời Đinh, Tiền Lê, nhà Lư
và đời Trần.
Cho đến thời
Lê, Phật giáo vẫn phát huy được
tinh thần tôn giáo của dân tộc
và hướng dẫn tư tưởng nhân dân
trong các lĩnh vực sinh hoạt xă
hội như Tăng thống Chân Nguyên,
Thiền sư Huệ Hồng, Thiền sư Như
sơn, Thiền sư Hương Hải, Đạo
Chân, Đạo Tâm, Chuyết Công Ḥa
thượng, Thủy Nguyệt Thông Giác,
Tông Diễn, Như Hiện, Như Trừng,
Tính Dược v.v…
Đến thời
cận đại Phật giáo Việt Nam, tỏa
sáng từ Bắc chí Nam, giang san
trải dài từ ải Nam Quan – Lạng
Sơn đến Hà Tiên (1698 - 1700),
nối liền mạch sống của dân tộc
như các Thiền sư Toàn Nhật, Tính
Tĩnh, Tính Tuyền, Hải Quưnh – Từ
Phong, Kim Liên Tịnh Tuyền,
Tường Quang Chiếu Khoan, Phúc
Điền, Phổ Tịnh, Thông Vinh,
Nguyên Thiều, Liễu Quán đạo mạch
tiếp tục lưu truyền cùng ḍng
chảy lịch sử, phát triển của dân
tộc Việt Nam yêu dấu.
Trong phong trào chấn hưng Phật
giáo Việt Nam, biết bao vị Tổ
sư, Thiền sư, Ḥa thượng chống
gậy trúc đi khắp ba miền đất
nước để h́nh thành ngôi nhà Phật
giáo Việt Nam, như Tổ Thanh Hanh,
Tổ sư Tuệ Tạng, Tổ Mật Ứng, Tổ
Giác Tiên, Phước Huệ, Khánh Ḥa,
Khánh Anh, Huệ Quang, Chí Thiền,
Ḥa thượng Tịnh Khiết, Ḥa
thượng Trí Hải v.v…
Sau
khi nước nhà độc lập, thống nhất,
Bắc Nam sum họp một nhà, Phật
giáo Việt Nam tiếp tục thống
nhất thành công ngôi nhà chung
Giáo hội Phật giáo Việt Nam –
đỉnh cao của thời đại, có cố đại
lăo: Ḥa thượng Thích Đức Nhuận,
Ḥa thượng Thích Tâm Tịch, Ḥa
thượng Thích Trí Độ, Ḥa thượng
Thích Trí Thủ, Ḥa thượng Thích
Thế Long, Ḥa thượng Thích Tâm
Thông, Ḥa thượng Kim Cương Tử,
Ḥa thượng Thích Giới Nghiêm,
Ḥa thượng Thích Giác Nhu, Ḥa
thượng Thạch Xom, Ḥa thượng
Thích Minh Nguyệt, Ḥa thượng
Thích Thiện Hào, Ḥa thượng
Thích Thiện Siêu, Ḥa thượng
Thích Huệ Thành, Ḥa thượng
Thích Bửu Ư, Ḥa thượng Thích
Đạt Hảo v.v… đă ghi công đức
sáng ngời vào trang sử vàng son
Phật giáo Việt Nam thời hiện
đại.
Trải qua các triều
đại Lư, Trần, hậu Lê, Tây Sơn,
nhà Nguyễn, đến thời đại Hồ Chí
Minh lịch sử tên vàng, ngàn sao
lấp lánh, Thăng Long – Hà Nội,
vẫn tiếp tục là nơi hội tụ và
lan tỏa sức sống muôn đời của Tổ
tiên, của các vị tiền bối hữu
công đối với đất nước và dân tộc
cũng như Phật giáo Việt Nam,
trung tâm văn hóa của cả nước
luôn luôn phát triển không ngừng,
giữ ǵn bản sắc văn hóa dân tộc,
lịch sử hồn thiêng sông núi oai
hùng. Rồng vàng phất phới bay
cao - Sông Hồng nước chảy đổ vào
biển Đông, tạo được t́nh Hữu
nghị đoàn kết năm châu, bốn biển
- Rồng bay muôn vạn nẻo đường –
Con rồng Châu Á xứng danh ngàn
đời, trong thời kỳ hội nhập và
phát triển thế giới toàn cầu.
Quả thực: “Nhớ thuở mang gươm đi
mở cơi. Ngàn năm thương nhớ đất
Thăng Long” (1945 - 2010).
Đại lễ Phật giáo kỷ niệm
1000 năm Thăng Long – Hà Nội,
Thủ đô nước Cộng ḥa Xă hội Chủ
nghĩa Việt Nam, Ba Đ́nh lịch sử,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam ôn
lại truyền thống hào hùng của
dân tộc, tinh thần nhập thế tích
cực và xây dựng phát triển đất
nước, bảo vệ ḥa b́nh của Phật
giáo Việt Nam hơn 1000 năm qua –
Ngàn năm đấu tranh dựng nước,
giữ nước của dân tộc Việt Nam,
Phật giáo Việt Nam, của các nhân
vật điển h́nh, trân trọng với
bao công trạng to lớn vô vàn của
vua Lư Thái Tổ - Vạn Hạnh Quốc
sư, và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ
đại, rực rờ tên vàng. Quả thật:
“Công ai đổ xuống đất này, cho
hoa dân tộc ngày ngày thêm
tươi”.
V́ thế, tất cả
chúng ta, con dân nước Việt, hậu
duệ nhiều đời của Tổ tiên, của
các bậc tiền bối hữu công, phải
phát huy tinh thần yêu nước, yêu
chuộng ḥa b́nh, độc lập dân tộc,
bảo vệ những thành quả, những di
sản văn hóa quư báu, truyền
thống tốt đẹp của ông cha ta,
cùng nhau nỗ lực thực hiện những
hoài băo muôn đời của Tổ tông,
để đất nước Việt Nam, Phật giáo
Việt Nam sánh vai cùng bè bạn
năm châu bốn biển trong cộng
đồng thế giới ở thời kỳ phát
triển hội nhập toàn cầu của thế
kỷ 21 và những thế kỷ tiếp theo.
Nam Mô Lịch đại Tổ Sư, Chư
vị tiền bối hữu công tác đại
chứng minh.
Nam Mô Hồn
thiêng sông núi Dân tộc Đại Việt
tác đại chứng minh.