Vấn đề giáo dục Phật giáo

Đạo Phật xuất phát từ trong ḷng của nhân loại, trong nhu cầu của nhân loại… tồn tại v́ nhân loại và để phụng sự cho nhân loại. Điều khẳng định này được chứng minh cụ thể bằng sự thật lịch sử: cả cuộc đời đấng Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni, sau khi thành đạo suốt 49 năm đă không ngừng xiễn dương Giáo Pháp do chính Ngài khám phá và tự chứng ngộ vào cuộc đời. Giáo pháp ấy gồm 3 tạng: Kinh, Luật, Tạng.Theo lời Đức Phật dạy trong kinh Chuyển Pháp Luân nói lên một điều: Khổ và con đường diệt khổ, chỉ thuần một vị, vị giải thoát. Hai sáu thế kỷ trôi qua, các thế hệ tiếp nối truyền thừa – những đứa con ḍng họ Thích – đă thể hiện tinh thần ấy vào đời sống nhân loại.

Thật nhân bản, thật con người khi Thế Tôn tuyên bố: " Ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ". Câu nói ấy đă thể hiện trọn vẹn tinh thần v́ hạnh phúc của con người. Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng: hệ thống giáo lư do Đức Phật giảng dạy là một hệ thống giáo lư giáo dục cho con người làm thế nào để sống có hạnh phúc ngay đây và bây giờ, mà không phải là một thứ hạnh phúc hứa hẹn ở ngày mai hay ở nơi nào khác. Nếu nói rằng: "Đối tượng chính của giáo dục và văn hóa phải là các cá nhân và mục đích của giáo dục phải là hạnh phúc của cá nhân" th́ giáo dục của Phật giáo đă thực hiện đúng mục đích đó.

Bài viết này sẽ đề cập đến vấn đê giáo dục Phật Giáo. Một vấn đề những tưởng đă quá quen thuộc và đă có nhiều hệ thống nghiên cứu có tầm cỡ về nó, thiết nghĩ vấn đề có thể cũ nhưng giáo dục con người không bao giờ cũ. Chúng ta đều biết cuộc sống nhân loại ngày càng rơi vào t́nh trạng xấu đi, khủng hoảng và mất dần hạnh phúc – dù là hạnh phúc giả tạo. Văn hóa xă hội bị xáo trộn và đạo đức suy đồi mà người viết đă nh́n thấy một vài nơi: Đời sống của tầng lớp tu sĩ vốn được xem là tầng lớp đạo đức của xă hội cũng không khá hơn, cũng đang đi dần đến chỗ suy thoái phạm hạnh. V́ thế, các nhà lư thuyết nhân tính và giáo dục, các nhà tôn giáo luôn thao thức về một hướng văn hóa giáo dục mới cho ḥa b́nh và hạnh phúc của nhân loại. Những nhà văn hóa thời đại rất lỗi lạc như: E.F Chuma Cher, Albert Einstein, Bertrand… đă có đề bạt ra những quan điểm giáo dục mới mẻ. Ở nơi đó, họ nói đến "mục tiêu cơ bản của giáo dục là phải giúp con người hiểu rơ sự thật của tự thân, sự thật của thế giới nơi người ấy đang sống, thấy rơ hướng đi đời sống của ḿnh và chịu trách nhiệm về hành vi của ḿnh". (1) Mục tiêu duy nhất của giáo dục là cung cấp các cơ hội phát triển và loại bỏ các ảnh hưởng gây trở ngại sự phát triển, mà đem đến cho cá nhân sự phát triển tri thức (văn hóa) và phát triển các khả năng đến cao điểm. Giáo dục phải được xem có mối liên hệ với cộng đồng hơn là liên hệ với cá nhân và công dụng chính của giáo dục là đào tạo công dân hữu dụng. (2) Một quan điểm nữa cho rằng: "nhà trường luôn luôn là phương tiện quan trọng nhất truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác…" (3) nghĩa là giáo dục có vài tṛ duy tŕ và phát triển gia sản truyền thống.

Tất cả những quan điểm trên đây đều có thể gợi ư về một hướnggd tốt. Nhưng theo Tiến sĩ Nguyễn Hội vẫn c̣n thiếu một quan điểm quan trọng nhất: đó là sự thật của con người và con đường chân thật dẫn đến hạnh phúc hiện tại. Nghĩa là giáo dục phải là giáo dục cho con người nhận biết được sự thật của chính ḿnh.

Thật vậy, làm sao một hướng văn hóa, giáo dục cho ḥa b́nh và hạnh phúc của nhân loại lại có thể quên sự giáo dục cho con người chính nó được? Làm sao một hướng văn hóa giáo dục cho ḥa b́nh và hạnh phúc con người đạt được kết quả khi mà con người c̣n không biết chính ḿnh là ǵ? Do đó, giáo dục trước hết là giáo dục cho con người biết rơ chính ḿnh, giúp con người nhận ra sự thật của con người và cuộc đời. Điều này đă được chính Đức Phật khám phá và giảng dạy cách đậy hai mươi sáu thế kỷ.

Vậy sự thật của con người là ǵ? Đức Phật dạy: "… Này các Tỳ Kheo, thân không phải là tự ngă, thọ không phải là tự ngă… tưởng, hành, thức không phải là tự ngă…"

Rồi Đức Phật giải thích năm uẩn như sau: "Này các Tỳ Kheo, phàm có sắc ǵ quá khứ, vị lai, hiện tại thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần đây gọi là sắc uẩn" (Tương ưng III). Tương tự đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy. Như vậy qua lời Phật dạy: sắc uẩn (gồm bốn yếu tố: đất, nước, gió, lửa) là cơ thể vật lư của một con người, cơ thể của những người khác và thế giới vật lư, rải rác trong các kinh phân biệt sáu giới (trung bộ III), kinh lục giới phân biệt (trung A Hàm) và nhiều kinh khác cắt nghĩa, đại địa gồm có: Nội đại địa (thân người của ḿnh) và ngoại đại địa (tha nhân và thế giới vật lư), tương tự đối với thủy, hỏa và phong đại. Qua đây đồng thời giáo lư Duyên khởi "cái này có th́ cái kia có, cái này không th́ cái kia không". Chúng ta thấy sợi dây duyên sinh đă đan dệt sự sống của con người và sự sống đó không thể tách rời ra khỏi tha nhân và thế giới, vũ trụ vạn hữu đă nắm tay nhau để đưa chúng ta ra đời. không có một hiện tượng nào trong vũ trụ mà không có mặt trong ta. Kinh Hoa Nghiêm gọi đó là "trùng trùng duyên khởi". Đối với thọ, tưởng, hành, thức, nếu phân tích chúng ta thấy như thế. Lời dạy trên đă cho chúng ta thấy sự thật về con người và thế giới. Mỗi người trong chúng ta đều do vũ trụ hợp tác với nhau mà tạo thành, do các duyên thế giới tâm lư mà sinh – chúng ta có mặt trong nhau và với nhau. Do đó, con người là vô ngă, vô thường. đây là sự thật của con người, sự thật của cuộc đời, duyên sinh vô ngă. Thế nhưng tư duy của con người đă gắn chặt với tư duy hữu ngă, luôn luôn chấp thủ tự thân và thế giới là ta, của ta. Các nhà văn hóa, giáo dục cũng tư duy theo con đường hữu ngă… Do nắm giữ cái ngă, cái thường nên cảm thọ khổ đau. Giữa sự thật vô ngă, vô thường ấy, Đức Phật dạy:

Này các Tỳ kheo, "sắc là vô thường – cái ǵ vô thường là khổ đau. Cái ǵ khổ đau th́ vô ngă. – Cái ǵ vô ngă không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngă của tôi" (tương tự thọ, tưởng, hành, thức) (Tương ưng III).

Thật ra vô thường, vô ngă không gây ra đau khổ, khổ đau là do chấp thủ, tham và dục đối với những cái vô thường; vô ngă đó. Con người khổ đau v́ con người sống xa bản tính, sống ngược bản tính, con người không ư thức được thực thể của chính ḿnh, không hiểu được ḿnh là ǵ? Do đó văn hóa, giáo dục phải là văn hóa, giáo dục con người trở về với bản tính của chính ḿnh - bản tính duyên sinh vô ngă – con người va thế giới là một ư thức thực thể của chính ḿnh. Tư duy hữu ngă làm dấy lên ḷng tham ái , sân hận, si mê nguồn gốc của khổ đau. Cho nên con đường tư duy của hữu ngă không thể mở ra một hướng văn hóa, giáo dục cho ḥa b́nh, hạnh phúc của nhân loại, ngược lại nó c̣n làm phát sinh những tệ hại và khủng hoảng khác mà thực trạng xă hội ngày nay đă chứng minh điều đó. Văn hóa, giáo dục khả dĩ đem đến ḥa b́nh và hạnh phúc chỉ có thể căn cứ trên tư duy vô ngă, trên định thức duyên khởi để thấy được sự thật về con người và thế giới. Thấy được sự thật về con người và thế giới là thấy được con đường đi đến ḥa b́nh và hạnh phúc. "Không hiểu rơ mối liên hệ mật thiết ấy, con người sẽ không hiểu được sự thật của chính ḿnh, không bảo vệ được môi sinh thoát khỏi ô nhiễm như là bảo vệ con người đi ra khỏi khổ đau, th́ nhân loại sẽ đi đến sự hủy diệt". V́ vậy giáo dục phải là giáo dục cho con người thấy được tự tính duyên khởi của các Pháp, để con người thấy được ḿnh và xă hội không thể tách rời nhau.

Giáo dục Phật Giáo, một hệ thống giáo dục do chính Dức Phật khám phá và giảng dạy cách đây hai mươi sáu thế kỷ, đă thực hiện đầy đủ những yêu cầu giáo dục nói trên qua giáo lư duyên khởi – năm thủ uẩn, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ…

Một điểm cần lưu ư đối với những nhà văn hóa, giáo dục khi thực hiện đường hướng giáo dục theo Phật Giáo là bản chất của Đạo Phật, bản chất của giáo dục Phật Giáo nằm trong sự sinh hoạt theo chánh pháp – Giáo Lư của Đạo Phật, lư thuyết của nhân tính và giáo dục của Đạo Phật không phải là đối tượng để nghiên cứu và bàn luận suông mà là con đường, là phương pháp khởi niệm, để tu tập, để thực hành – chúng ta nên biết rằng bài thuyết pháp hùng hồn hơn hết, tha thiết hơn hết của Đức Phật là sự sống của chính Ngài.

Nhân loại đang bước vào thế kỷ mới cùng với những lo toan cho một cuộc sống ngày mai vốn đă chứa nhiều khủng hoảng. Nhưng đó không phải là điều đáng lo ngại, v́ chúng ta đă có những phương pháp hóa giải những khủng hoảng đó. điều chúng ta lo ngại là chúng ta không chịu thực hiện những điều Đức Thế Tôn đă dạy. chúng ta là những người giáo dục cũng như những người được giáo dục, phải làm sao tiếp xúc được thực tại linh hoạt của Đạo Phật, phải tiếp nhận cho được luồng sinh khí tiếp nối của Đức Phật qua hai mươi sáu thế kỷ truyền thừa. Đó là tất cả những ǵ chúng ta cần làm cho ḥa b́nh, hạnh phúc của nhân loại.

Lư thuyết là một vấn đề, thực hành lư thuyết ấy là một vấn đề khác. Chúng ta thấy ngày nay các Phật Học Viện mở ra khắp nơi, đâu đâu cũng thấy có học Phật, nhưng kết quả được bao nhiêu? Đó cũng là vấn đề cần suy nghĩ. Giáo lư duyên khởi đă cho ta thấy rằng cuộc sống của cá nhân và xă hội không thể tách rời; th́ giữa con người giáo dục và con người được giáo dục cũng không thể tách rời. Nghĩa là muốn giáo dục có kết quả th́ giáo dục phải đạt được thành quả mà giáo dục hướng tới. Nói theo Phật học th́ có nghĩa rằng: bậc Thầy phải là con người sống như chánh pháp, thể hiện chánh pháp hay nói cách khác bậc Thầy phải là người chứng ngộ đời sống tâm linh cao cả, có tầm giải thoát cao. Chỉ có như thế người Thầy giáo dục mới truyền trao được thực tại sinh hoạt của Đạo Phật. Và người học tṛ, con người được giáo dục, phải học với tâm trạng thao thức, thành khẩn. "Học với một tâm trạng thao thức đi t́m lẽ sống như tâm trạng của nhà mỹ thuật đi t́m cái đẹp, như tâm trạng bệnh nhân đi t́m lương y". Chỉ có cái học đó mới đem đến kết quả mà giáo dục hướng đến. Phần lớn chúng ta học để mà học. Cái học đó không đi đến kết quả và không đi đến đâu cả, cái học đó vô ích. Học để chất chứa kiến thức cũng không phải là cái học đích thực cho sự sống và hạnh phúc - kiến thức chỉ làm cho chúng ta bị tê liệt, bất lực, không thấy được chân lư. Kiến thức không giúp ta dập tắt ảo tưởng, v́ kiến thức tự nó có thể là ảo tưởng. kiến thức là một ư tưởng, ư tưởng không phải thực tại. Ngôn từ là phương tiện để diễn tả kiến thức đó; ngôn từ không phải là sự vật… Phật giáo là một bộ phận trong xă hội, nên chăng, các Tỉnh, Thành cần có một trường Bồ Đề, Tân Thanh… (trường chuyên học Phật) góp phần trang bị tư duy cho mọi người đi đến chỗ chân, thiện, mỹ. Song các Tự Viện cần quan tâm bảo dưỡng tốt Tăng Ni chúng, điều kiện và phương tiện nhất thiết trong quá tŕnh tu học, đáp ứng nhu cầu giáo dục và đào tạo tăng tài phục vụ Đạo Pháp – Dân Tộc.

Vấn đề c̣n lại ở mỗi cá nhân là tự thânh cá nhân phải nỗ lực với bản tính của chính ḿnh, bản tính duyên sinh vô ngă, sống nỗ lực với cuộc sống nội tâm chánh niệm, tỉnh giác thấu hiểu sự thật vô ngă của mỗi sự vật. Với sức mạnh niệm lực giác tỉnh đó con người ĺa bỏ tham dục, sân hận và si mê - nguồn gốc của đau khổ - cuộc sống an lạc sẽ hiện ngay đây và bây giờ trong giờ phút hiện sinh – Giáo Dục Phật Giáo là hướng đến mục đích đó.

NGUYÊN ĐĂNG (Thích Thiện Tâm) (Theo phatgiaovnn.com)

(Văn Pḥng Thường Trực THPG Đồng Nai)

  Chú thích:

"Các điều nhỏ nhoi tốt đẹp" E.F Schumacher.

"Giáo dục và trật tự xă hội" – Bertrand Rusel.

Albert Einstein…P60

 
 

Các Tin Đă Đăng

-T́m hiểu tư tưởng giáo dục của từ "Khất sĩ"

- Viết Cho Con Lá Thư Kết Thúc

- Vấn đề giáo dục Phật giáo

- Giáo Dục Và T́nh Thương

- Viết Cho Con: 11- Bi Quan Để Làm Ǵ?

 - Viết Cho Con: 10- Không Thể Không Buồn
 -
Viết Cho Con: 5- Cần Có Một Lư Tưởng Sống
  - Viết Cho Con: 1- Được Làm Con Người Là Điều Đáng Quư!
  - Viết Cho Con: 6- Ư Chí Và Quyết Tâm
  - Viết Cho Con: 3- Hăy Thương Yêu Mẹ!
  -
Viết Cho Con: 11- Bi Quan Để Làm Ǵ?

  -H́nh Tượng của Đức Phật - 2
  -
H́nh Tượng của Đức Phật -1