HỌ ĐĂ NGHĨ NHƯ THẾ

Nguyên Tác: SEE IN THE WAY

Bản việt ngữ: GIÁC NGUYÊN

 

2

TỪ TÂM VÀ NỘI QUÁN

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại Đức Ànando sinh năm 1964 tại Buffalo, New York và lớn lên ở miền phụ cận thác nước Niagara ( biên giới Hoa kỳ với Canada). Học xong trung học, đại đức đi lính hải quân, bộ phận truyền tin và phục vụ tại chiến trường Việt Nam. Bất măn trước một cuộc chiến phi nghĩa, đại đức quay về Mỹ, vào đại học Buffalo học Tâm Lư Học và tiếng Pháp rồi sau đó trở thành chủng sinh của một chủng viện Thiên Chúa Giáo với lư tưởng trở thành một linh mục. Thế rồi chỉ v́ không thể chịu nổi đường lối can thiệp của Mỹ tại Việt Nam, đại đức quyết định từ bỏ nước Mỹ ra đi.

Trong một năm trời học tại Nice ( Pháp) , đại đức đă t́nh cờ được đọc một cuốn sách thiền học của Alan Watts. Tác phẩm này đă thôi thúc đại đức thực hiện một chuyến hành hương về phương Đông. Cuộc đi xuyên qua các xứ sở Turkey, Afganistan rồi đến hàng tháng trời ở Nepal, Ấn Độ. Từ đây đại đức đă bắt đầu đam mê thiền định Phật Giáo.

Năm 1972 nhân một cuộc kiểm tra sức khỏe do quân đội Mỹ bắt buộc, đại đức đă đi sang Thái Lan. Trong dịp ghé chơi một ngôi chùa ở Pattaya, đại đức đă gặp được đại đức Sumedho lúc đó c̣n đang ở chùa Kow Chalok tại Chonburi, Đại đức đă tu sa di tại đây rồi sau đó qua chùa Pah Pong thọ giới tỳ kheo.

Năm năm sau, đại đức Ánando về Mỹ thăm gia đ́nh và thay v́ trở lại Á Châu, đại đức đă được Ngài Ajahn Chah đề nghị theo giúp đại đức Sumedho hoằng pháp ở Hampstead Vihara tại Luân Đôn. Sau đó đại đức c̣n cùng huynh đệ xây dựng thêm các ngôi chùa ở Chithurst Buddhist Monastery.

Từ Tâm và Nội Quán

“ Thở vào để hàm dưỡng sinh lực, thở ra với ḷng lành hướng về tất cả chúng sinh”.

Ở đây có lẽ ta cũng nên nhắc lại một câu chuyện nhỏ đă xảy ra sau khi Đức Phật thành đạo được hai mươi năm. Lúc này giáo hội tăng già đă phát triển mạnh mẽ lắm rồi nhưng đổi lại, trong nội bộ tăng chúng đệ tử cũng đă bắt đầu xuất hiện những cá nhân có nếp sống xô bồ thiếu nhận thức. Đó là nhóm tỳ kheo ở Kosamb́, các vị cải vả, xung đột rồi chia rẽ nhau đến mức khó bề cứu văn. Nghe được câu chuyện này, Đức Phật đă đích thân t́m đến để ḥa giải, dàn xếp nhưng ba lần như một, Ngài chỉ nhận được từ các vị đệ tử khó dạy này một thái độ bất tuân có vẻ vô lễ.

Dù sao th́ Đức Phật cũng đă hết ḷng với họ rồi nên Ngài bỏ đi không nói thêm ǵ nữa và lúc này Ngài chợt nhớ tới ba vị đệ tử La Hán cũng đang sống ở Kosamb́, trong một khu vườn gần đó. Ba vị thánh đệ tử này là các tôn giả Anuruddha, Nandiya và Kim-bila.

Tại đây Đức Phật đă được các vị đón chào nồng nhiệt và rồi Đức Phật lại hỏi thăm các vị về đời sống thường nhật như vấn đề khất thực, trú xứ và nhất là t́nh pháp hữu giữa ba người khác nhau. Thay mặt cho cả nhóm. Ngài Anuruddha đă thưa với Đức Phật rằng đời sống của các vị không có vấn đề ǵ cả, đặc biệt là về t́nh huynh nghĩa đệ với nhau. Khi được Đức Phật hỏi các vị đă sinh hoạt như thế nào, đối xử với nhau ra sao để có được cái đạo t́nh tuyệt vời đó. Ngài Anuruddha đă tuần tự thuật lại cho Đức Phật nghe về nếp sinh hoạt mỗi ngày giữa các vị. Chẳng hạn vị nào đi khất thực về trước th́ tự lo sắp xếp các tọa cụ rồi để mắt xem chừng các chậu chứa nước c̣n hay hết. Sau bữa ăn vị nào đứng lên sau cùng th́ thu dọn mọi thứ đem cất đi. Từng người trong các vị giúp nhau chuẩn bị sẵn sàng mọi vệc linh tinh, từ nước uống cho tới nước tắm. Đời sống vật chất của các vị quá đơn giản nên chỉ có chừng đó thôi. Mỗi tuần một lần, các vị ngồi bên nhau suốt đêm để đàm luận Phật Pháp hoặc cùng tọa thiền. Điều quan trọng nhất mà Ngài Anuruddha đă đặc biệt nhấn mạnh khi thưa chuyện với Đức Phật là Ngài đă kể lại một cách tỉ mỉ thái độ nội tâm của ḿnh đối với các vị đồng trú:

-Đối với các huynh đệ, con luôn sống với tâm từ ḥa, dù trước mặt hay sau lưng nhau. Suy nghĩ của con luôn chiều theo các vị. Chúng con ba người nhưng chỉ sống với nhau bằng một nội tâm thôi!

Đức Phật quay sang hỏi thăm hai vị tôn giả c̣n lại, các vị cũng đều trả lời như Ngài Anuruddha, Đức Phật tán dương cả ba vị tôn giả và khích lệ các vị hăy tiếp tục duy tŕ t́nh cảm pháp hữu đó.

Bài kinh trên đă dạy cho chúng ta cái giá trị đặc thù của nếp sống từ tâm. Đó là tất cả những ǵ mà đời sống t́nh cảm con người thật sự cần đến. Như ta đă thấy, giữa các vị A La Hán với nhau, một thái độ sống đầy từ tâm vẫn cứ là cái ǵ đó thật đẹp. Từ tâm là mối nối tuyệt vời cho tất cả mọi sự kết hợp giữa người với người, bất luận cá nhân hay đoàn thể. Từ lâu lắm rồi, trong suốt những năm tu của ḿnh, Từ Tâm đă gần như trở thành một pháp môn tâm đắc của tôi.

Trong kinh điển đă từng nhắc đến mười một lợi ích của pháp môn này, Người giàu từ tâm luôn đi vào giấc ngủ một cách thoải mái và thức dậy cũng được nhẹ nhàng. Người có Từ Tâm luôn được phi nhân và loài người thương mến.Người giàu Từ Tâm có thể tránh được những nguy hiểm từ các độc vật ( Nước sôi, lửa đốt, thuốc độc, vũ khí…).Người sống bằng từ tâm nếu đă từng chứng đạt thiền định th́ cũng luôn xuất nhập dễ dàng. Dù đẹp hay xấu, người có Từ tâm luôn có một nét mặt dễ nh́n. Người có Từ Tâm thường dễ giữ được sự b́nh tĩnh trong giờ hấp hối. Nếu không phải là bậc thánh th́ sinh thú của người có Từ Tâm cũng được bảo đảm.

Theo tôi, vấn đề khó khăn nhất khi tu tập pháp môn Từ Tâm chính là sự dàn xếp bản thân. Trong thiền khóa này qua một số câu hỏi của các thiền sinh tôi đă nhận ra là hầu như mọi người đều không thể vượt qua được cạm bẫy thử thách đối với pháp môn Từ Tâm, người ta cứ sợ cái ǵ tẻ nhạt vô vị ( chẳng hạn như phải giữ hoài thái độ sống quan tâm đến người khác) và sự đối đầu với những ǵ nghịch ư. Chúng ta hăy thử can đảm nh́n lại ḿnh xem khi ai cũng cứ suốt đời theo đuổi, nâng niu cái ḿnh thương thích và bất măn với những ǵ ḿnh chán ghét. Tất cả những thái độ sống đó thực ra chỉ là những vọng niệm tưởng tượng và ảo giác hết sức nguy hiểm mà chúng ta cần phải giải trừ, khai phóng.

Cứ vào mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một thái độ phản ứng: Khi chúng ta sợ hăi hoặc chán ghét cái ǵ đó, chúng ta cứ muốn tống khứ lánh xa chúng đi, muốn có một khoảng cách nhất định giữa ḿnh với chúng. Điều đáng tiếc là càng làm như vậy, chúng ta chỉ càng vô t́nh muôi dưỡng chúng. Chúng tiếp tục tồn tại bằng cách này hay cách khác dưới bất cứ h́nh thức nào để ám ảnh và quấy nhiễu chúng ta cho đến khi nào chúng ta có thái độ ḥa giải với chúng th́ thôi. Hồi c̣n đi lính ở Việt Nam, tôi đă phải vô cùng khốn khổ với cái thứ tâm bệnh mà lũ lính tráng chúng tôi lúc đó vẫn gọi là hội chứng “ Nỗi đau quá khứ”. Người ta đă kiểm tra thứ tâm lư này ở các cựu chiến binh người Việt và nhận thấy phần lớn trong số đó đều đă mắc phải. Nó là một thứ nỗi niềm bơ vơ của đời lính, phân vân với trăm ngh́n mâu thuẫn: hành quân th́ ngán, dừng chân th́ nhớ nhà, trót quan với cái phong sương của đời lính mà vẫn cứ nhớ hoàn một buổi hồi hương. Người ta có kiểm tra điều đó thật đấy, kể ra nó cũng là một công việc thơ mộng nhưng rồi nỗi buồn của mấy thằng lính cứ theo ngày tháng mà lớn dần. Từ mấy năm trước đó, tôi cũng đă học được cái kinh nghiệm rằng đối với những ǵ là sợ hăi hay buồn chán, càng đề kháng chúng, chúng càng mănh liệt hơn. Pháp môn Từ Tâm có điểm kỳ diệu là dạy ta học phép đối diện với những hoàn cảnh sống ác nghiệt kiểu đó, mà không cần đến một thái độ đối lập nào cả. Hăy đánh bạn với tất cả mọi sự và nh́n ngắm chúng một cách trọn vẹn với tất cả những khía cạnh nào mà ta cảm nhận được, kể cả đó là nhựng t́nh trạng tồi tệ nhất của ư thức, như biếng lười hay sợ hăi.

Thế th́ tại sao chúng ta lại không bắt đầu tu tập pháp môn này ngay từ bây giờ đi chứ. Nhưng cẩn thận đấy, Từ Tâm không chỉ đơn giản có mặt khi chúng ta chỉ dành ra đôi ba ngày thầm th́ lẩm nhẩm lời nguyện ( mong sao tôi được an lành và mọi loài cũng được an lành). Từ Tâm là một cảm nghiệm trải rộng, giăng bủa. Đối với một hành giả Thiền Quán, khi nhận ra rằng ḿnh thật sự đang sống với Từ Tâm th́ trước hết đừng để ḿnh bị cuốn hút theo đó và chỉ nên chú ư ngắm nó. Hay nói khác đi, là chúng ta bước ra khỏi cảnh giới tâm lư đó rồi nh́n thẳng vào chính nó. Ở đây , ba chữ “ bước ra khỏi” cần phải được lưu ư cẩn thận bởi vấn đề là nằm ở chổ ta có thể nh́n thấy được Từ Tâm của ḿnh với trọn vẹn bản chất của nó mà vẫn hướng về tất cả bằng một thái độ yêu thương, một thứ t́nh thương gắn liền với trí tuệ. Tất cả những ám ảnh tâm lư trước giờ ở chúng ta cũng sẽ đột nhiên không c̣n nữa. Rồi theo thời gian, những suy nghĩ của chúng ta về chính ḿnh cũng dần dần thay đổi. Chúng ta sẽ học được cách chịu đựng và chấm dứt dần những mặc cảm tội lỗi không cần thiết. Trong trường hợp này, cái giá trị của pháp môn Từ Tâm là giúp chúng ta ổn định , tẩy rửa những thái độ tâm lư của ḿnh để có thể sẵn sàng thực hiện con đường Thiền Quán.

Lúc tôi c̣n ở Thái Lan, tại chùa Pah Pong, tôi đă có lần tṛ chuyện với đại đức Liam ( người Thái) lúc đó đang làm trụ tŕ tại đây. Khi đang trao đổi với nhau về thiền định, đại đức đă nói rất nhiều về vai tṛ của pháp môn Từ Tâm trong cuộc tu. Phải nói đây là một pháp môn khá phức tap, chúng ta có thể dễ dàng tu tập nhưng cũng chính từ đây chúng ta cũng phải chấp nhận rất nhiều thử thách. Về ích lợi của Từ Tâm, th́ không c̣n ǵ phải nói tới nữa, đơn giản thôi nhưng đôi khi hiệu quả của nó khó mà ngờ được. Phải nói rằng Từ Tâm là một kinh nghiệm tâm linh hết sức thú vị nhưng như chúng ta đă biết, đây không phải là con đường gải thoát toàn triệt. Chúng ta chỉ nên xem pháp môn này như một phương tiện đắc lực để có thể dễ dàng dấn bước vào con đường Nội Quán.

Trong thiền khóa này, tôi muốn giới thiệu với mọi người một khía cạnh tu chứng mà ta có thể gọi là Trí Tuệ Giác Ngộ. Nhưng vẫn theo tôi th́ để bắt đầu cho một cuộc khám phá thế giới nội tại để đạt đến trí tuệ ấy, chúng ta nên dành ra vài ngày để trau luyện Từ Tâm. Mục đích của sự trau luyện này là có thể giúp ta nh́n thấy chính xác những ǵ đang xảy ra Tại Đây và Bây Giờ, thấu suốt cái phù du của từng hiện hũu để thấy rằng chúng không thể đáp ứng được cho ta một ước mơ nào cả. Tất cả chỉ là ảo vọng. Bất cứ cái ǵ chúng ta ghi nhận được cũng đều là cho trí tuệ Thiền Quán cả. Thấy được điều này coi như ta đă có được một bước tiến thật dài. Bởi v́ từ đây chúng ta đă hiểu được định lư Vô Ngă.

Ư nghĩa trong phương tiện mà tôi đă dùng trong đêm nay cũng như những ǵ mà các vị đă thực hiện được, chỉ đơn giản nhắm đến một công án, đó là: “ Ai? Ai đang tu tập pháp môn Từ Tâm? Ai đang lắng nghe trong lúc này? Ai đang ngồi? Ai đang đau nhức? Ai đang ngạc nhiên? Ai đang loạn tâm? Ai đang nghi hoặc? Ai đang hạnh phúc? Ai không được hạnh phúc? Cái này là Ai?”.

Hăy nhất tâm nêu bật công án đó, công án chỉ có một chữ AI thôi, và ghi nhận một cánh rơ ràng từng gốc cạnh nhỏ nhiệm nhất của nội tâm. Rồi giả dụ như những phức loạn của ư thức đột nhiên được đ́nh chỉ th́ chúng ta vẫn c̣n phải cực ḷng đối đầu với nhiều vấn đề cực kỳ tế nhị khác; đến lúc này chúng ta coi như đă đi đến một giai đoạn nhận thức mà có thể tạm gọi tên cho nó là ư thức về cái nguồn cội, ư thức uyên nguyên. Nhưng nhớ đấy ư thức uyên nguyên không hề là tư tưởng về ư thức uyên nguyên, trí giác ngộ tuyệt đối không phải là suy nghĩ về trí giác ngộ. Suy nghĩ chỉ đơn giản là suy nghĩ thôi. Mỗi suy nghĩ lư tính không thể là câu trả lời cho vấn đế AI.

Nếu chúng ta không cẩn thận, công án AI lúc này sẽ là một chiếc búa để ta có thể đập ta bất cứ tư tưởng nào khởi lên trong đầu ḿnh. Vấn đề ở đây đ̣i hỏi ở chúng ta một sự khám phá hồn nhiên chứ không phải là một thái độ năng động nông nổi. Chúng ta hăy thử nh́n xem bọn trẻ con săm soi một món đồ lạ nào đó th́ ta sẽ thấy chúng hết ḿnh với nó ra sao. Có thể nói rằng một thái độ nh́n ngắm tương tự như vậy vốn rất cần thiết cho công phu Thiền Quán bởi nó đem lại cho ta một sự ngạc nhiên thiệt thà và cần thiết nhất.

Bằng con đường này chúng ta có thể nắm bắt dễ dàng những ǵ vẫn quấy nhiễu ḿnh, bằng một thái độ hoàn toàn mới mẻ không giống như trước đây. Phóng tâm được ghi nhận là phóng tâm, bất an được ghi nhận là bất an mà không cần thiết phải nhờ đến những khái niệm “ Ai đang phóng tâm? Tôi hay Người nào? Ai đang đi? Ai đang ngồi? Con đường thực hành này có thể giúp ta cắt đứt một cách hiệu quả những ảo tưởng vọng niệm.

Tôi cũng biết rằng những kinh nghiệm tâm linh trên đây không phải ai cũng có thể thực hiện hoặc thực hiện vào bất cứ lúc nào. Nhưng cũng đừng v́ vậy mà cho rằng những điều tôi vừa nói chỉ là một thứ lư thuyết suông. Nên hiểu rằng đó chỉ là một Phương Tiện có thể dẫn đến một hiệu quả nhất định nào đó thôi. Bởi thực ra nó rơ ràng chỉ là một thứ kinh nghiệm mà riêng tôi tâm đắc. Nếu quư vị xét thấy không thể thực hiện được nó hoặc thấy nó chẳng có giá trị ǵ th́ ít nhất cũng nên quay lại với Pháp môn Từ Tâm để tiếp tục nuôi dưỡng ở tâm hồn ḿnh một giá trị nhân bản. Biết đâu được sự quay lại này đến một lúc nào đó lại là một cái căn bản cần thiết để rồi các vị có thể quay về với công án AI. Chỉ là một cuộc đi thôi nhưng đôi lúc ta phải mắc công ḷng ṿng một tí như vậy đấy.

Chúng ta có thể nói rằng, đôi lúc bên cạnh một công án Thiền Quán có vẻ khô khan quá th́ pháp môn Từ Tâm lúc này lại thành ra một chất liệu trung ḥa. Lời cuối cùng là tôi mong sao hai pháp môn Từ Tâm và Nội Quán sẽ được các vị dung ḥa, kết  hợp một cách nhuần nhuyễn để có thể đạt tới hai giá trị thiết yếu nhất của đời sống là hiểu biết và yêu thương.

Hướng Dẫn Pháp Môn Từ Tâm

( Phần hướng dẫn này có thể được thực hiện bằng  một bài đọc chầm chậm của một thiền sinh nào đó cho cả một tập thể cùng nghe, dĩ nhiên trong sự thinh lặng cần thiết. Cứ sau mỗi một đoạn, tất cả các thiền sinh cùng im lặng một lát để tiếp tục lắng nghe những đoạn c̣n lại. Thời gian cho việc này có thể chỉ chừng nửa giờ đồng hồ xen kẽ vào gữa các thời gian thiền định).

Từ Tâm cũng là một pháp môn thiền định, nó giúp ta có dịp thể hiện nguồn tâm lực mà bấy lâu nay ḿnh vẫn phung phí. Chúng ta đă từng sử dụng nội tâm ḿnh vào những việc vớ vẩn mà lẽ ra chỉ cần chuyển đổi một chút , ta đă có thể tu tập được pháp môn Từ Tâm. Chẳng hạn như trong những giây phút h́n hoa ngắm bướm. Từ Tâm dĩ nhiên không chỉ đơn giản là một vài giây phút đắm ḿnh thưởng thức mà là thái độ trân trọng đối với từng hiện hữu.

Bây giờ chúng ta hăy ngồi xuống và cẩn thận để ư xem trên khuôn mặt ḿnh có một chút căng thẳng nào không. Hăy để cặp mắt được thư giăn, cố giữ cho chiếc cằm và vùng miệng được tự nhiên rồi tập trung tư tưởng nhắm vào vùng ngực. Sau đó, chúng ta thở vào với cái cảm nghiệm về một nguồn sinh lực đang tiếp nhận. Hăy nhớ, lúc này tạm thời coi như lồng ngực là khu vực hơi thở ra vào. Ngay khi hít vào ấy, ta hăy tự ám thị “ Mong sao tôi được an ổn” Ám thị này phải là một sự chuyên chú hết ḿnh chứ không phải tưởng tượng. Trong suốt thời gian thực hiện hơi thở vào ta hăy buông xả mọi thứ để tự nuôi dưỡng một sự chuyển ḿnh trọn vẹn. Rồi chúng ta lại thở ra với một nguồn sinh lực được xem như đang lan tỏa ra ngoài với một lời nguyện “ Mong sao mọi loài được an ổn”. Cứ thế chúng ta lại cứ liên tục với những hơi thở nhịp nhàng như từng diệp khúc đơn giản và chan chứa ḷng mát mẻ hướng về bản thân cùng tất cả những chúng sinh khác.

Nếu nội tâm có bị phóng tán, ta hăy thanh thản và kiên nhẫn lập lại sự tập trung. Hăy cố gắng xem mọi nổ lực đó của ḿnh là từng vận động qua lại giữa các nhịp tim, hơi thở và tư tưởng. Chỉ đơn giản vậy thôi rồi ta tiếp tục thở.

Những ǵ mà trong từng giây phút chúng ta thực hiện để tự ổn định lấy ḿnh cũng là những tác động hài ḥa và giao thoa với vũ trụ đất trời. Sự tương tác này sẽ tăng lực và nuôi dưỡng chúng ta qua từng hơi thở và tư tưởng như một kiểu đối lưu hết sức thú vị. Trong từng hơi thở ra vào ta đă đồng thời NHẬN và CHO, CHO rồi NHẬN.

Hăy giữ hơi thở được nhẹ nhàng và đều đặn để biến từng hơi thở thành ra nguồn sinh lực cho chính ḿnh. Bởi hơi thở nào, dù vào hay ra, cũng là một tác động quan trọng đối với trái tim.

Càng phơi trải sinh lực của ḿnh ra ngoài vũ trụ th́ trái tim ta cũng càng lúc trở nên nhạy cảm hơn để nó có thể tiếp nhận một cách tương ứng tất cả những sinh lực từ ngoại tại.

Nói khác đi, hơi thở vào giúp ta nhạy cảm, hơi thở ra giúp ta phơi mở, mà hai yếu tố này đều rất cần thiết cho một nguồn sinh lực.

Hăy luôn giữ ḿnh trong t́nh trạng sẵn sàng để hơi thở với những tiêu chuẩn của thiền định, từng hơi thở nhè nhẹ mà sâu, kết hợp tư tưởng và hơi thở thành một. Hăy nhớ thở một cách thong thả sao cho ḿnh thấy dễ chịu là được. Chính cái tư tưởng song hành với từng hơi thở kiểu đó đă là một thứ giác quan cực kỳ bén nhạy. Hăy để cho hơi thở và sự bén nhạy đó thấm nhuần tất cả châu thân. Thở ra hay thở vào cũng đều như thế, với một tâm niệm từ ái hướng về tất cả…

Nếu như trong hơi thở vào, ta nghĩ đến ḿnh th́ ở hơi thở ra, trước hết ta hăy đến những người thân của ḿnh. Đừng quan tâm đến chuyện họ đang ở đâu, gần hay xa, c̣n sống hay đă chết. Hăy cùng lúc đặt họ vào thành một h́nh ảnh, như vậy sẽ dễ dàng hơn. Hăy xem như họ đang đối diện với chúng ta và ngay trong chính hơi thở ra ấy ta hăy nghĩ về họ với tất cả Từ Tâm.

Tiếp theo sau h́nh ảnh về những người thân trong gia đ́nh, ta hăy nghĩ đến thầy bạn. những người đă giúp đỡ, dạy dỗ, san sẻ với ta trong đời sống. Cứ như vậy ở mỗi hơi thở ra, ta lần lượt nhớ đến tha nhân từ thân đến sơ, từ gần đến xa. Và như đă nói, ta hăy gom họ lại thành một đối tượng tập thể trong cùng một thời điểm để ban rải Từ Tâm.

Một cách thứ lớp, càng về sau, chúng ta tiếp tục nhớ đến những người quen có chút quan hệ với ḿnh và vẫn nghĩ về họ bằng tất cả Từ Tâm. Khi không c̣n h́nh ảnh Con Người nào nữa ta hăy nghĩ đến môi trường sống chung quanh ḿnh như những vườn cây, núi đồi , ao hồ rồi cứ thể tỏa rộng Từ Tâm của ḿnh ra để bao trùm trái đất với cảm giác của một người đứng từ bên ngoài vũ trụ nh́n vào. Trái đất lúc này trong ta chỉ c̣n là một dấu chấm nhỏ so với cái Từ Tâm đă bắt đầu có vẻ trở nên lớn rộng dần dần. Nhưng như thế chưa phải là đủ,chung quanh ta c̣n có cả một bầu trời xanh vô tận. Ta hăy mở rộng trái tim ḿnh ra để tấm thân này lúc đó không c̣n bị giới hạn trong cái h́nh vóc bé nhỏ của nó nữa mà nó cũng đă bắt đầu trở thành cái ǵ đó vô hạn, bao la có thể dung chứa mọi thứ một cách độ lượng.

Trải ḷng ḿnh ra với tất cả mọi đối tượng, không phân biệt không gian với thời gian nhưng ta vẫn phải cẩn thận tỉnh giác đối với chính ḿnh, với từng nhịp tim, với sự tập trung vào lồng ngực và tiếp tục thở vào thật nhẹ mà sâu, cũng với tâm niệm hướng về bản thân, vẫn sử dụng cái tâm hồn vô lượng kia như là một nguồn sinh lực để nuôi dưỡng chính ḿnh, rồi ta lại thở ra.

Bước đi tiếp theo là trong từng hơi thở ra, ta vẫn lấy tha nhân làm đối tượng nhưng thay v́ nhớ đến những người mà ḿnh đă từng làm phiền ḷng dù vô t́nh hay cố ư, bất luận là người c̣n sống hay đă mất, ta hăy gọi thầm tên họ và cầu nguyện “ Xin hăy tha thứ cho tôi”.

Rồi ở những hơi thở vào, thay v́ chỉ nghĩ về ḿnh để mong được một sự an ổn th́ ta vẫn tiếp tục nghĩ đến tha nhân mà ở đây là những người đă làm phiền ḷng ta. Hăy gọi thầm tên họ rồi tự nhủ với ḷng ḿnh “ Tôi luôn tha thứ cho người” hoặc “ Người đă được tha thứ rồi”. Hăy sống hết ḿnh và trọn vẹn với từng cảm giác yêu thương. Hăy đem hết mọi người vào trái tim ḿnh, nghỉ về tất cả bằng một nội tâm tế nhị, bao dung rồi tiếp tục thở. Vẫn những hơi thở vào ra trước là dàn xếp chính ḿnh, sau là độ lượng con người.

Nói một cách đơn giản nhất, hăy thở vào như một cách hàm dưỡng sinh lực, và thở ra như một cách chia sẻ. Thở vào cho ḿnh, thở ra cho người.

Tiếng chuông báo chấm dứt giờ thiền định.

 

TRI KIẾN NHƯ THẬT

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại đức Viradhammo ( Vitauts Akers) sinh năm 1947 tại Esslingen, Đức Quốc. Lúc lên năm tuổi, đại đức theo gia đ́nh sang sống bên Toronto ( Canada). Tuổi trưởng thành, đại đức theo học ngành cơ khí ở đại học Toronto nhưng rồi do chán nản nếp sống máy móc, đại đức đă quay về Đức làm việc, lúc đó là năm 1969. Do điều kiện sống đưa đẩy, đại đức đă trôi dạt qua tận Ấn Độ và gặp được sa di Bodhesaka (đă qua đời). Sư Bodhesako giới thiệu với đại đức các tác phẩm Phật học của Ngài Nàvav́ra. Chính từ nhân duyên này, đại đức đă đi qua Thái Lan rồi tu sa di tại chùa Mahathat, sau đó, năm 1974, đại đức đă thọ giới tỳ kheo tại chùa Pah Pong và trở thành một trong những vị sư Tây phương đầu tiên đến sống ở chùa Nanachat.

Sau bốn năm tu học ở Thái Lan, đại đức V́radhammo đă trở về Canada và Đức để thăm viếng gia đ́nh (1977). Rồi cũng như trường hợp đại đức Tiradhammo, chưa kịp về lại Thái Lan th́ đại đức V́radhammo đă được Ngài Ajahn Chah rủ sang tiếp tay các huynh đệ ở Anh Quốc hoằng pháp. Ở cả ba ngôi chùa Hampstead, Chithurst và Harnham đều có công lai phù trợ của đại đức.

Năm 1985, theo lời mời của Hội Phật Giáo Nam Tông Wellington, đại đức V́radhammo đă cùng đại đức Thanavaro bay sang Tân Tây Lan. Trước tiên, hai vị sống tại thành phố Wellington, hai năm sau th́ t́m được một miếng đất cách đó 9km, rộng 43 mẫu,nằm trong thung lũng Stokes Valley. Chính tại đây, một ngôi chùa mang tên Bodhinyanarama được xây dựng vào năm 1978 và trở thành địa điểm tổ chức giới đàn tỳ kheo do đại đức Sumedho đích thân làm ḥa thượng đàn chủ.

Đại đức V́radhammo hiện vẫn sống tại châu Úc để tiếp tục các cuộc thuyết giảng mỗi tháng ở Auckland và South Island.

Bài viết sau đây là một thời pháp của đại đức trong một khóa thiền được tổ chức tại Bangkok cho các Phật tử người Thái vào tháng 6 năm 1988.

Tri Kiến Như Thật

Trong buổi nói chuyện chiều nay chúng ta có thể bắt đầu từ câu chuyện về cuộc đời Đức Phật. Hễ nói đến Đức Phật, ta có thể nhắc về Ngài từ hai góc độ. Đó là câu chuyện về một con người lịch sử hoặc một biểu tượng cho con đường tu học của chúng ta.

Trước hết chúng ta có lẽ nên nhắc lại đôi ḍng về quăng đời trai trẻ của Ngài, lúc đó Ngài dĩ nhiên là một ông hoàn có trong tay tất cả mọi thứ: tài sản, kiến thức, thể h́nh và cả t́nh cảm nam nữ. Trong kinh kể lại rằng khi Bồ Tát vừa chào đời, vua cha của Ngài đă được các nhà thông thái cho biết rằng khi lớn lên, Bồ Tát sẽ chọn một trong hai con đường sau đây cho cuộc  đời ḿnh: Hoặc trở thành một vị đại đế hoặc trở thành một bậc đại ẩn sĩ. Cha của Bồ Tát dĩ nhiên chỉ muốn con ḿnh sẽ trở thành một nhà vua. Mọi người trong hoàng cung đều ngày đêm chăm sóc Bồ Tát thật cẩn thận. Bất cứ cái ǵ xấu xí cằn cỗi của người hay vật đều được thu dọn, tẩy xóa.Không ai muốn hoàng tử nh́n thấy cái ǵ đó khả dĩ đánh thức ở Ngài cái tâm lư xuất gia.

Cứ thế hai mươi chín năm trôi qua, Bồ Tát xem như chẳng biết ǵ chuyện bên ngoài hoàng cung. Quanh Ngài trong suốt chừng ấy thời gian chỉ toàn là những ǵ sạch đẹp, trẻ trung, tươi mát. Một hôm, Bồ Tát bỗng dưng muốn rời cung để đi du ngoạn ngoại thành. Vua cha phải buộc ḷng đồng ư và cho người đánh xe theo hầu Bồ Tát.Một cách bất ngờ, h́nh ảnh đầu tiên lọt vào mắt Bồ Tát là một người bệnh đang nằm quằn quại rên xiết. Bồ Tát thấy lạ mới hỏi người đánh xe của ḿnh để biết con người đó đang ra làm sao mà lạ lùng đến thế. Người đánh xe cho Bồ Tát biết rằng đó cũng là con người b́nh thường nhưng thân xác anh ta đang phải trải qua một t́nh trạng bất ổn và đau đớn. Bồ Tát lại hỏi để biết thêm rằng điều đó có là biệt lệ đối với riêng ai không. Người phu xe lại trả lời rằng đă trót có thân th́ ai cũng thế. Câu trả lời này đă tạo nên một cú sốc trong ḷng Bồ Tát.

Ngày hôm sau, Bồ Tát lại tiếp tục xuất hành ngoạn cảnh th́ trên con đường Ngài đang đi lù lù xuất hiện một ông lăo mà cả người gần như bị bẻ gập làm đôi v́ chiếc lưng c̣ng gầy c̣m, run rẩy gần như bị bẻ gập làm đôi v́ chiếc lưng c̣ng, gầy c̣m, run rẩy với một cái đầu chẳng khác ǵ chiếc sọ người chỉ c̣n lại lơ thơ vài nhúm tóc bạc trắng, tay chân cơ hồ như không thể cử động như ư được. Bồ Tát lại hỏi người xa phu và Ngài giật ḿnh khi biết rằng tuổi già là giai đoạn bắt buộc của một kiếp người. Bị chấn động tâm lư mănh liệt, Bồ Tát lập tức hồi cung. Ngày hôm sau, như ta đă biết, Bồ Tát lại tận mắt nh́n thấy một xác người để rồi một h́nh ảnh khơi gợi khác nữa cũng đă xuất hiện trên đường du ngoạn của Bồ Tát đó là một sa môn đang tọa thiền dưới gốc cây. Từng câu trả lời của người xa phu cho những câu hỏi của Bồ Tát đă khiến Ngài t́m ra cho đời ḿnh một hướng đi.

Câu chuyện đại khái chỉ có thế, nhưng đối với chúng ta th́ câu chuyến đó có ư nghĩa ǵ không? Có phải đó chỉ đơn giản là câu chuyện xưa để dành kể riêng cho những con em của chúng ta, câu chuyện về một con người đă hai mươi chín tuổi đầu vẫn chưa một lần biết đến chuyện già cả, bệnh hoạn và chết chóc của con người?

Đối với tôi, câu chuyện trên đây về cuộc đời của Đức Phật có giá trị tuyệt vời là mô tả lại một cách trọn vẹn cái khả năng tỉnh thức của con người đối với những giới hạn của đời sống thuần cảm giác. Tôi có thể đă thấm thía vấn đề này khi nhớ lại những ngày tháng ḿnh c̣n ngồi ở trường Đại học. Hồi đó tôi vẫn thường đặt cho ḿnh những câu hỏi kỳ lạ lắm, những câu hỏi mang tính định phận. Chẳng hạn như: Tất cả những ǵ đang hiện hữu trước mắt ḿnh thật ra chúng là ǵ? Tất cả rồi sẽ đi về đâu, có một kết cuộc như thế nào? Rồi tôi vẫn thường lấy làm lạ về cái chết để cứ rối óc với những suy nghĩ  ḅng bong: Liệu cái bằng cấp đại học có ư nghĩa ǵ không khi mà cho dầu tôi có trở thành một vị kỷ sư danh tiếng, một người giàu có rồi cuối cùng cũng chỉ đi t́m đến cái chết mà thôi. Kể cả trường hợp tôi có đột nhiên trở thành một chính trị gia siêu hạng,một luật sư lừng danh, một cái ǵ đó tuyệt định, hoặc thậm chí có trở thành một thiên thể có tuổi thọ hàng tỉ năm th́ đă sao chứ? Tất cả chỉ là một dấu hỏi lớn-cái ác nghiệt nữa là cũng vào ngay thời điểm đó tôi lại cứ nhớ đến chuyện Jimi Hendrix đă v́ dùng heroin quá liều mà chết.

Tôi vẫn không sao t́m thấy cho ḿnh một câu trả lời nào thích đáng về cái chết. Tôi vẫn cứ phải tự dằn vặt ḿnh với trăm ngàn suy nghĩ về cái viễn ảnh đời ḿnh để rồi tiếp theo sau đó lại là những chuỗi dài những thao thức: Cái chết là ǵ? Tại sao tôi lại có mặt ở đây?Việc đầu tư thêm những kinh nghiệm về đời sống có ư nghĩa ǵ khi tất cả rồi cũng chết đi?

Những trăn trở đó đă khiến tôi không thể tiếp tục học hành được nữa. Tôi bỏ đi du lịch. Tôi muốn ḿnh được thư giăn tinh thần trong một thời gian v́ dù sao những chuyến viễn hành đó vẫn luôn có nhiều thú vị. Tôi đă đi qua khắp mọi xứ sở: Maroc, Thổ Nhĩ Kỳ rồi Ấn Độ…vậy mà đầu óc tôi trong những ngày tháng đó vẫn cứ rối bù những thao thức khôn nguôi: Tất cả chỉ có vậy thôi sao? Nếu tôi có hành hương đến những đền chùa, miếu mạo rồi ăn uống và sinh hoạt theo khuôn khổ của một dân tộc, tín ngưỡng nào đó th́ đă sao chứ?

Thật ra lắm người cũng có đôi lần bị nhức nhối v́ những câu hỏi này khi họ được tận mắt chứng kiến những thảm cảnh của đời sống như một đám tang, một con bệnh hay một ông cụ, bà lăo nào đó. Hoặc cũng có thể nhờ vào những phút giây tĩnh tọa mang tính tôn giáo nên người ta có thể nhớ lại những bi kịch của đời sống. Nhưng đó chỉ là những suy nghĩ hời hợt, những cảm nghiệm không mấy sâu sắc trong khi tất cả vẫn không ngừng biến dịch, phân hủy một cách mănh liệt và trung thực như đă là thế tự bao giờ. Chúng ta rồi cũng chẳng đi đến đâu hết cho dù có bất cứ cái ǵ trong cuộc đời này đi nữa. Do đó câu hỏi “ chỉ vậy thôi sao?” là cả một tiếng chuông cảnh báo cho đáy ḷng thâm u mộng mị của chúng ta.

Cho dầu chúng ta có qua được khóa thiền mười ngày này trong một lư tưởng cao khiết nhất th́ sau đó c̣n lại được cái ǵ chứ?Chúng ta vẫn phải trở về công sở, vẫn phải tiếp tục đối diện với cuộc đời, hoặc trở về Melbourne hoặc Tân Tây Lan thôi. Tất cả rồi cũng chỉ là một ṿng lẩn quẩn. Đâu có một sự khác biệt nào giữa một cảm nghiệm thiền định với một chuyến rong chơi trên du thuyền? Tất cả chỉ là một con số không chua chát.

Lời dạy của Đức Phật không hề mang ư nghĩa đem lại cho chúng ta một thứ cảm giác sống “ thưởng thức” nào cả,mà là nhắm đến khả năng hiểu biết như thật về bản chất của chính từng cảm nghiệm. Giáo lư của Đức Phật mang một tinh thần chủ đạo là dạy ta khám phá tất cả ư nghĩa cái gọi là sự hiện hữu. Chúng ta sống thiền định là vứt bỏ đi những ảo vọng thành kiến, chận đứng cái căn cội đau khổ của kiếp người và thấu suốt được bản chất của vạn hữu. Đây chính là một hướng đời độc lập.

Ở đây, chúng ta đang tu tập về án xứ hơi thở. Chúng ta chỉ biết làm việc với nó mà không cần phải cực ḷng với cái ǵ khác ngoài ra. Chúng ta chỉ đơn giản sống trong sự tỉnh thức về hơi thở: Đơn giản biết ḿnh qua từng hơi thở vào ra, sống thật trọn vẹn với chúng. Nhưng chúng ta làm vậy để làm ǵ nào? Tôi nghĩ rằng mọi người ở đây rồi cũng sẽ có thể tự trả lời cho ḿnh câu hỏi đó. Một khi tâm hồn đă trở nên yên lặng, khả năng chú niệm đă vững vàng hơn, đời sống của chúng ta lúc này sẽ là từng giây phút tỉnh thức và hết ḿnh với tất cả những ǵ đang xảy ra.

Chúng ta ít nhất cũng thấy được rằng sự tĩnh lặng của tâm hồn là cả một nguồn sinh lực, đồng thời cũng là một khả năng giao ḥa giữa ḿnh với thế giới chung quanh. Bên cạnh đó chúng ta c̣n có thể cảm nhận được cái không gian bao la mà pháp môn thiền định đă mang lại cho nội tâm ḿnh. Chúng ta c̣n thấy được cả cái giá trị của đời sống tỉnh thức. Sự chú niệm của chúng ta lúc này không c̣n là một khổ công g̣ ép nữa. Chúng ta đă được tự do. Tự do trong sự chú niệm và trong cả đời sống, một đời sống luôn chú niệm mà vẫn tự do!

Chúng ta thường có thói quen thích nắm giữ trong tay ḿnh càng nhiều thứ càng tốt. Trong khi đó, khi có cái để sở hữu th́ chúng ra lại bị chính nó sở hữu. Tất cả những âu lo, bức xúc đều từ đó mà ra và như vậy th́ coi như khả năng chú niệm của chúng ta đă bị đánh mất. Chỉ bằng vào sự ổn định nội tâm, chúng ta mới có thể tạo được cho ḿnh một phương trời riêng tư lồng lộng để tự do chú niệm tỉnh thức.

Nếp sống đó đẹp lắm. Một khi đă tự có một bản lănh tinh thần rồi th́ sau khi rời khỏi thiền viện, chia tay với các thiền sư sau những thiền khóa, ta vẫn tiếp tục thiền định trong mọi hoàn cảnh. Thực tại nào cũng đều có thể là một án xứ cho ta cả: những hàng cây xanh , từng làn hương của hoa cỏ, những lối ṃn kinh hành, đôi ba nụ sen đang nở trong hồ…Tất cả những cảm nghiệm ngọt ngào này luôn có cái giá trị làm b́nh ổn và thư giăn nội tâm chúng ta một cách hữu hiệu chẳng khác ǵ những tṛ giải trí mà ở Tân Tây Lan này người ta vẫn xem như phương cách tốt nhất để thư giản tâm hồn, chẳng hạn các tṛ lướt ván hay đánh xe ḅ lên núi.

Nhưng thứ hạnh phúc có được từ những cách thư giản như vừa nói không phải là cứu cánh mà Đức Phật đề nghị ở chúng ta. Đời sống thiền định vào giai đoạn bắt đầu này, như chúng ta đang đi qua, có thể mang lại rất nhiều niềm hạnh phúc nhưng như thế cũng vẫn chưa đủ. Bởi cái hạnh phúc có được từ một nội tâm tĩnh lặng bất chừng không phải là thứ tự do thật sự. Nó chỉ là một thứ cảm nghiệm c̣n vướng kẹt bởi quá nhiều cuộc mà nhất là cái tinh thần Tự Thị.

Sự tự do thật sự mà Đức Phật đă nhấn mạnh phải là tŕnh độ tự tại được nuôi lớn từ công phu tu tập Trạch Pháp Giác Chi. Chỉ có sự tự tại này mới khả dĩ đủ sức đ́nh chỉ mọi xung động và căng thẳng của nội tâm. Niềm tự tại hay tự do ở đây không hề bị giới hạn ở bất cứ nơi đâu và lúc nào trong đời sống của chúng ta cả mà lại an nhiên tồn tại trong từng cảm nghiệm, trong mỗi mỗi phút giây hít thở của chúng ta.

Một trong những điều kỳ diệu nhất của đạo lộ này là chúng ta có thể hàm dưỡng và áp dụng nó ở bất cứ t́nh huống nào. Chúng ta không cần thiết phải đến giam ḿnh trong một tự viện nào đó hay trong một điều kiện sống thuận lợi nhất định mà xem ra có vẻ là nhu cầu thiết yếu cho công phu thiền định hay nói chung là nếp sống thực hành chánh pháp. Chúng ta thật ra vẫn có thể tu học trong những hoàn cảnh đau buồn nhất. Chúng ta thường thấy rằng mỗi khi đau khổ thiên hạ mới bắt đầu nghĩ đến chùa chiền, tu viện. Rồi khi được hạnh phúc, thành công th́ người ta lại quên ḿnh đi, tự đắm đuối mộng mị trong những cái ngọt ngào đó để rồi khi một chuyện buồn nào đó xảy đến họ lại tiếp tục bối rối, hoảng loạn không biết phải làm ǵ.

Đối với phần đông chúng ta, con đường t́m đến đạo Phật thường là những cảm nghiệm về sự đau khổ. Nó đưa chúng ta đi thiền định , trầm tư để đến một lúc nào đó chúng ta mới nhận ra rằng ngoài những đau khổ, người hành giả c̣n phải thiền định về cái gọi là hạnh phúc. Nhưng đó chỉ là về lư thuyết. Trên thực tế, người ta cứ đi tu thiền để trốn chạy đau khổ, chứ có ai trong lúc đang được hạnh phúc nhất lại t́m đến các vị thiền sư để yêu cầu được hướng dẫn phương thức đối diện với cái hạnh phúc mà ḿnh đang có được!

Có thể nói đời sống tu tập của phần đông chúng ta thường chỉ được bắt đầu từ những trăn trở nhức buốt. Chúng ta cũng đôi lúc biết nghĩ về những mặt trái xót xa của đời sống nhưng đó chỉ là một thứ tư tưởng mang tính công đoạn. Ở Tây phương, chúng tôi vẫn thường nhắc đến cái gọi là “ Lư luận của tuổi trung niên”.

Những ông bà nào ở vào độ tuổi bốn mươi, năm mươi thường có thói quen đưa ra những nhận xét về cuộc đời thông qua chính kinh nghiệm đời ḿnh bằng một thái độ chủ quan gần giống như các khái niệm trong câu thành ngữ của người Trung Hoa là “ Tứ Thập Bất Hoặc”. Người ta tin rằng ḿnh đă có được một cái nh́n tổng quan chín chắn về cuộc sống để rồi dừng lại ở đó với cái yên tâm rất đỗi nông cạn của ḿnh. Đó là đối với những mảnh đời êm đềm không có biến động. Rồi đến một ngày nào đó, đối đầu với những thử thách khốc liệt của kiếp người, người ta mới bắt đầu biết đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về đời sống. Có thể nói rằng chính nhờ  đau khổ là cái ǵ mà mọi người vẫn cảm nghiệm thường trực, thậm chí nó gần như trải dài suốt cả đời sống con người nên thật hợp lư khi Đức Phật đă bắt đầu tuyên thuyết giáo lư giải thoát của ḿnh bằng chính vấn đế đau khổ. Không ai có thể phủ nhận được điều đó cà. Và ta cũng có thể nói rằng đạo Phật chỉ đơn giản là một con đường khám phá đời sống thông qua tất cả nỗi khổ.

Lư tưởng cao nhất của nhân loại hôm nay là làm thế nào để giải quyết hai tiếng đau khổ. Tất cả chúng ta đă vận dụng toàn bộ trí thông minh của ḿnh để củng cố tối đa những hạnh phúc và hạn chế tối đa những đau khổ bằng cách nghĩ ra vô số những phát minh càng nhiều càng tốt. Nói đến đây tôi lại nhớ tới một bài học mà Ngài Ḥa Thượng tôi đă có lần nhắc nhở với nội dung liên quan đến vấn đề này.

Hồi đó, lúc tôi c̣n là sa di sống chung chùa với Ngài Ajahn Chah, đời sống vật chất khó khăn lắm. Cả chùa chỉ xài toàn nước giếng, và chúng tôi phải thay phiên nhau đi gánh nước.Mà chuyện này lại là cả một vấn đề rắc rối, chúng tôi mến thích ai th́ thường đi lấy nước chung với người đó. Biết được chuyện này, Ngài Ajanh Chah đă nói một câu gần như bâng quơ mà sau này tôi mới thấm thía.

-Tại sao mấy sư lại chọn người để đi lấy nước với ḿnh, cứ thử cố gắng làm việc chung với những vị không phải là bạn thân có được không!

Ngài nói rất đúng,lúc đó tôi là một sa di nhanh nhẹn nên luôn cố tránh phải đi lấy nước chung với một tỳ kheo già chậm chạp. Nhiều lúc kẹt quá, tôi phải đi chung với vị này rồi có những lần dằn ḷng không được tôi đă vất cái thùng đi như để trút cơn bực bội của ḿnh. Như vậy rơ ràng là việc đi lấy nước chung với một vị sư mà tôi không thích đă thành ra cái khổ cho tôi. Và như lời Ngài Ajahn Chah nói, tôi chỉ luôn t́m mọi cách để làm những ǵ ḿnh muốn. Đó là cách dùng trí khôn của bản thân để củng cố tối đa những hạnh phúc và hạn chế tối đa những đau khổ. Nhưng dĩ nhiên là cho dù chúng ta có làm được điều ḿnh thích, sở hữu được cái ḿnh muốn, th́ chúng ta vẫn phải tiếp tục đau khổ, bởi v́ đâu có sự toại nguyện nào là măi măi đâu. Định luật vô thường luôn chi phối mọi sự mọi thứ trên đời. Chúng ta hăy tưởng tượng xem nếu có lần nào đó được ngồi lại một ḿnh để ăn thỏa thích món hợp khẩu nhất th́ chắc chắn là chỉ ở đôi ba phút đầu tiên, cái ngon miệng kia c̣n là niềm hạnh phúc cho chúng ta nhưng nếu bữa ăn đó được kéo dài đến đôi ba tiếng đồng hồ th́ cảm giác của chúng ta sẽ ra sao?

Nói như vậy th́ chúng ta phải làm ǵ trước những đau khổ trong đời sống? Đức Phật dạy chúng ta hăy dùng trí tuệ của ḿnh nh́n thẳng vào nó một cách trung thực và khách quan. Đây cũng là lư do tại sao chúng ta phải tự khép ḿnh vào một nếp sống nghiêm túc như thọ tŕ Bát Quan Trai chẳng hạn. Cái thật sự cần thiết mà chúng ta phải thực hiện là nh́n ngắm cái đau khổ chứ không phải đầu tư cái hạnh phúc. Đời sống xuất gia cũng có ư nghĩa tương tự như vậy: Chúng tôi mặc trên ḿnh lá y là để có được cái tự do nh́n ngắm vào những đau khổ chứ không phải mù quáng chán ghét, chối bỏ nó bằng một tinh thần yếm thế bi quan.

Các vị có biết không, ở đất Tây Phương th́ việc mặc lên người thứ áo tu sĩ như chúng tôi là cả một vấn đề. Bên đó cảm thấy khó chịu vô cùng. Hồi c̣n là một người cư sĩ tôi luôn ăn mặc giản dị để khỏi phải bị ai ḍm ngó, vậy mà khi đă xuất gia rồi, chính những y áo này lại khiến tôi trở thành điểm chú ư cho thiên hạ. Phải nói rằng là cái khổ cho tôi. Tôi đă mặc cảm ghê gớm lắm.Người ta ở đây cứ nh́n theo tôi hoài. Nếu bây giờ tôi cứ sống theo cái ư tưởng “ Trốn khổ t́m vui” th́ chắc là tôi phải sắm cho ḿnh một bộ đồ tây và gầy lại bộ râu như ngày nào rồi. Nhưng tôi đă không thể làm vậy v́ tôi đă là một người xuất gia phải giữ ǵn các học giới. Mà đời sống xuất gia th́ dĩ nhiên đâu có thể cho phép tôi được tùy tiện sống theo thị dục của ḿnh chứ. Phải nói rằng trong h́nh thức một tu sĩ Phật giáo như thế này tôi đă thật sự học hỏi được quá nhiều thứ.

Tất cả chúng ta ở đây đều đa đoan cả. Đó là những bận rộn về gia đ́nh công việc…và đó có phải là những giới hạn trong đời sống của chúng ta hay không? Chúng ta phải làm sao để xử lư mọi việc? Thay v́ bị cuốn cuồn trong những giới hạn đó rồi nổ lực và hy vọng những vận may kỳ tích xuất hiện th́ tốt nhất ta hăy tự xem chúng là những cơ hội để hàm dưỡng trí tuệ. Nhưng chúng ta khéo đây, biết đối diện với thực tại để nhận ra bản chất đau khổ của đời sống th́ quả là đáng quư, mà nếu không khéo ta lại tự mang lấy vào ḷng ḿnh một sự đau khổ khác trong khi chỉ riêng những đau khổ thực tế ngoài đời đă là quá nhiều rồi. Tôi nhắc lại, Đức Phật chỉ đề nghị chúng ta lắng nghe một cách trung thực những đau khổ trong đời sống chứ không phải tạo ra thêm trong đời sống những đau khổ.

Trong thiền khóa này, vào những giờ thiền tọa, rất có thể qúi vị đă có những giây phút cảm thấy tù túng và bị phóng tâm tồi cứ trông chờ tiếng chuông reo ở cuối giờ thiền định. Điều đó rơ ràng đến mức ai cũng có thể ghi nhận được cả,phải không? Nếu chúng ta cảm thấy ḿnh không thể tiếp tục ngồi được nữa th́ vẫn có thể tiếp tục bước ra ngoài để đi kinh hành. Nhưng nếu trong oai nghi này ta vẫn tiếp tục cảm thấy bất ổn th́ sao? Rồi ta lại có thể nghĩ đến những phương cách khác để chấm dứt t́nh trạng này như xem ti vi hay đọc những trang sách báo nào đó chẳng hạn. Nhưng rồi nếu như t́nh trạng đó vẫn cứ tiếp diễn th́ chẳng lẽ chúng ta lại phải lao ḿnh vào trăm ngàn cách giải quyết khác hay sao. Đến mức này chúng ta đă có thể thấy rơ ràng nội tâm của ḿnh quả là chẳng yên tĩnh tí nào: Nó luôn đầy ắp những bôn ba, xao động. Lư do đơn giản là chúng ta biết nhắm mắt theo đuổi cái hạnh phúc và trốn chạy đau khổ. Mà thái độ đó lại chỉ là một cách trưởng dưỡng những phức loạn, đau khổ trong đời sống của chúng ta thêm thôi.

Dạy về Đế Khổ, Đức Phật không hề khuyên bảo chúng ta tầm cầu và giữ lại một cảm nghiệm nào, mà thay vào đó là thái độ nh́n ngắm trực tiếp cái khổ. Chúng ta có thể thiếu niềm tịnh tín nơi Đức Phật nhưng chắc chắn rằng ai cũng có thể thấy sự đau khổ là một thực tế không thể chối bỏ. Không ai có thể nói ḿnh chưa từng bị đau khổ hoặc chưa hề nghĩ đến nó bởi thực ra trong từng giây phút chúng ta vẫn cảm nhận đau khổ, chấp nhận nó như một điều không thể tránh được. Cho nên nói sao th́ nói, đau khổ vẫn là cái ǵ đó hiện hữu thường trực trên cuộc đời và trong từng người.

Giáo lư Tứ Đế c̣n cho ta biết thêm rằng bất cứ đau khổ nào cũng có một nguồn cội và khả năng chấm dứt. Có rất nhiều người Tây phương vẫn nghĩ rằng Phật giáo là yếm thế v́ nội dung giáo lư hầu như chỉ nói về sự đau khổ. Nhớ lại hồi đó, trong thời gian c̣n sống ở Ấn Độ, tôi đă bắt đầu nghĩ đến việc trở thành một nhà sư Phật giáo. Thế rồi v́ bà tôi qua đời nên tôi phải trở về Đức Quốc dự đám tang. Nhân dịp đó, tôi đă nói chuyện với mẹ tôi về ước muốn xuất gia của ḿnh. Khi tôi nhắc đến khái niệm “Đời là bể khổ” th́ bà ngạc nhiên lắm. Xưa nay bà vẫn quen xem những đau khổ trong cuộc đời là một chuyện hết sức b́nh thường không đáng để bận tâm. Bà đă gần như không hiểu tại sao tôi lại muốn “ chạy trốn” đau khổ khi đó chỉ là những ǵ mà ai trong cuộc đời cũng phải đi qua.

Rơ ràng là Đức Phật không chỉ biết nói riêng về cái đau khổ. Ngài đă đề cập đến một cách trọn vẹn những ǵ cần thiết và có liên quan với nó nữa, đó là nguyên nhân của  đau khổ, cứu cánh thoát khổ và con đường dẫn tới cứu cánh đó. Giáo lư của Đức Phật có nội dung là nhắm tới Níp Bàn, một cứu cánh tịch tịnh, và tự tại. Đây cũng là những ǵ mà các nghệ nhân đă cố gắng thể hiện trên trang tượng về Đức Phật. Như quí vị cũng thấy đấy bức ảnh Phật trước mặt chúng ta ở đây đâu phải là h́nh ảnh của một “Đức Phật đau khổ” mà đây chính là ảnh tượng của một “Đức Phật trí tuệ và tự tại”.

Để đạt được mục đích giải thoát, chúng ta phải thực hiện những ǵ cần thực hiện chứ không phải tự đáp ứng tất cả những ǵ ḿnh muốn. Trên quan điểm thế tục, chúng ta thường tầm cầu những ǵ ḿnh muốn và Níp Bàn kể ra cũng là cái mà người Phật tử chúng ta vẫn MUỐN dù có khi chưa biết nó là cái ǵ. Nhưng có điều là vấn đề ở đây có khác biệt nhau ở cách thỏa măn các ước muốn. Khi chúng ta đói, chúng ta có thể t́m quán chợ mua cái ǵ đó để ăn uống. Rồi đến cả những nhu cầu khác nữa, khi cảm thấy cần được thỏa măn th́ chúng ta chỉ việc t́m cách đáp ứng. C̣n đối với trường hợp chúng ta MUỐN đạt đến cứu cánh giác ngộ th́ đây lại là một nhu cầu hết sức khác biệt và cách giải quyết cũng không giống như bất cứ một kiểu làm thỏa măn nào. Bởi nếu Níp Bàn chỉ đơn giản là một đồ vật như nhà cửa, xe cộ th́ cuộc tu có lẽ sẽ dễ dàng hơn nhưng cái ác nhiệt là Níp Bàn không phải là vậy, vi tế và trừu tượng khôn cùng. Cứu cánh Níp Bàn luôn đ̣i hỏi ở chúng ta một khả năng trí tuệ đúng mức mà thuật ngữ Phật Học gọi là Trách Pháp Giác Chi.

Cho nên kể từ bây giờ, tất cả trí tuệ của chúng ta không phải để củng cố tối đa hạnh phúc và hạn chế tối đa đau khổ nữa, mà phải được tập trung cho cái nh́n như thật về đau khổ. Chúng ta phải vận dụng tất cả trí tuệ của ḿnh để suy tư tinh tường về mọi vấn đề, chẳng hạn như đối với câu hỏi “ Tại sao tôi lại đau khổ”. Ta hăy thử nh́n xem, chúng ta đâu có thể để mặc tư tưởng của ḿnh bồng phiêu, trôi dạt vô định hướng, bởi từng ḍng tư tưởng luôn có thể tự mang một giá trị rất quan trọng đối với cuộc tu.Nhưng dĩ nhiên ta cũng hiểu thêm rằng nếu chỉ với những tư tưởng mù tịt, vọng động th́ ta không thể nào thực hiện được lời dạy của Đức Phật. Việc điều hành tư tưởng là một vấn đề của nội tâm nên chúng ta phải tự giải quyết lấy với chính ḿnh chứ tŕnh độ tu chứng không thể nào được xác định và đảm bảo thông qua một bằng cấp học vị nào.

Lần đó, khi c̣n ở Anh Quốc chúng tôi đă đến viếng thăm một người Phật tử ở Lancaster. Ông ta là một học giả về triết học Tánh Không, thuộc ḷng nguyên văn bộ luận Trung Quán của Long Thị. Ông muốn mời chúng tôi uống cà phê và tự tay pha chế lấy. Cầm lấy tách cà phê từ tay ông, cả chủ khách đều bật cười. Th́ ra trong mấy chiếc tách đó chỉ có đường và sữa mà chẳng có một chút cà phê hay một giọt nước nào hết. Ông ta đă là một bậc thầy trong cái ḍng triết học vẫn được xem là hết sức cao siêu ấy lại không có nổi một chút chánh niệm để pha cho xong một cách cà phê. Như vậy cái gọi là Trí tuệ trong Phật giáo không chỉ đơn giản là sự tích lũy đày ắp những thứ khái niệm, kiến thức. Trí tuệ Phật giáo phải có một nội dung căn bản hơn thế rất nhiều, đó chính là cái căn bản được thiết lập trên khả năng thực chứng.

Trí tuệ của con người Phật tử, nói khác đi, chính là cái khả năng khám phá đời sống và biết đặt ra những câu hỏi thật sự quan trọng, cần thiết. Chúng ta phải học được cách vận dụng tư tưởng để chỉ đạo nội tâm hướng về con người chính chắn. Chúng ta phải có trách nhiệm khám phá và phơi mở nội tâm trong mọi hoàn cảnh sống. Cái khả năng phơi mở này được song hành với những dấu hỏi chính đáng th́ sẽ thành ra cái mà chúng ta vẫn gọi là pháp môn Thiền Quán: Trí tuệ thấu suốt sự hiện hữu của bản thân. Ư thức của chúng ta lúc này baogồm những kiến thức về giáo lư và trí tuệ trực quan đối với các cảm ngiệm trung thực nhất. Với tŕnh độ này, coi như chúng ta đă sở hữu được những khả năng phơi mở, chú niệm và tri kiến như thật về vạn hữu. Đây cũng chính là Trí tuệ vể Giáo Lư Tứ Thánh Đế mà từ lâu vẫn được nhấn mạnh đặc biệt trong đường lối tu chứng của Phật Giáo truyền thống.

Nói như năy giờ th́ trí tệ trực quan về Khổ Đế có phải là hoàn toàn phủ nhận tất cả mọi sự đầu tư với một cảm nghiệm nào đó hay không? Thực ra ở đây chúng ta phải hiểu rằng trí tuệ đó chính là sự đón nhận một cách tương ứng cái đau khổ của chúng ta, gồm luôn những xung đột và mâu thuẫn nội tại. Trí tuệ của người hành giả không chỉ dừng lại ở đó. Sau khi cảm nhận được rằng ḿnh đang đau khổ, vị ấy lại tiếp tục đặt ra cho ḿnh câu hỏi tiếp theo về cội nguồn thật sự của cái đau khổ đó. Đức Phật đă dạy chúng ta rằng tất cả đau khổ cũng đều nằm trong quy luật vô thường: Ở đây quí vị có thể lấy tôi làm một h́nh ảnh minh hoạ cho vấn đề vừa nói. Chẳng hạn như sau đôi ba mươi phút thiền tọa tôi lại cảm thấy khó chịu rồi dĩ nhiên tôi sẽ tự xét lấy nguyên nhân của cảm giác đó. Khi hiểu đưọc ḿnh đang bị tệ mỏi tôi lập tức thay đổi oai nghi và nhờ vậy mà cảm thấy dễ chịu hơn. Thế rồi ngay trong chính oai nghi vừa được thay đổi này, vài mươi phút sau, tôi lại thấy bất ổn như cũ. Thế là đến đây th́ tôi đă co thể thấy được rằng mọi cảm giác của ḿnh trong thời gian vừa qua chỉ là những mảnh vụn chắp nối. Rồi tôi lại ghi nhận thêm đôi điều khác nữa: Tôi thấy ḿnh KHÔNG MUỐN cái bất an, mà chỉ MUỐN cái thoải mái. Như vậy từng giây phút đau khổ kia thực ra chẳng là ǵ cả, mà vấn đề nằm ở chỗ chúng ta có thái độ từ chối nó mà thôi. Phải nói rằng ở chỗ chúng ta có thái độ từ chối nó mà thôi. Phải nói rằng trí tuệ Thiền Quán của chúng ta lúc này đă đến được cái giai đoạn lư tưởng lắm rồi, chỉ có điều là tuy nó có sâu thẳm thật đấy, nhưng sâu thẳm một cách chua chát và đầy thử thách. Chính tŕnh độ trí tuệ Thiền Quán này mới khả dĩ mang lại cho ta một sức mạnh vừa đủ để ḥa giải với tất cả đau khổ mà không cần thiết phải chạy trốn chúng nữa. Nội tâm hành giả lúc này sẽ tự nhiên b́nh ổn và tĩnh lặng.

Như vậy, nói cho cùng th́ vấn đề căn cội mà năy giờ chúng ta vẫn bàn đến không phải là cái cảm giác đau đớn mà chính là thái độ chối bỏ, trốn chạy một cảm giác nào đó mà thôi. Ước muốn là một vấn đề rất quan trọng và nó xuất hiện trong nhiều h́nh thức. Nhưng chẳng sao hết, chúng ta vẫn luôn có thể áp dụng trở lại phương pháp quán chiếu “ Tôi đang muốn ǵ trong lúc này đây?” Thánh Đế thứ hai dạy cho chúng ta biết rằng cội nguồn của những đau khổ chính là ḷng ham muốn. Chính nó đă khiến ta có cái cảm giác rằng ḿnh sẽ được đáp ứng thỏa măn nếu chiếm hữu được những ǵ vẫn mong mỏi. Nó làm cho chúng ta phải bù đầu với biết bao ước vọng: “ Nếu như tôi có cái này, giá mà tôi trở thành cái kia, chứ phải tôi tránh được điều đó…” Đại khái, ḷng ham muốn của chúng ta là cả một ḍng luân hồi bất tận: Khao khát và sợ hăi, trốn chạy rồi cũng quay đầu, kiếp sống này đầu tư cho kiếp sống khác, bất tận và vô chung.

Nói vậy không có nghĩa rằng cuộc luân hồi là tuyệt đối bởi chính Đức Phật cũng đă từng nói đến một con đường giải thoát, đó là điểm dừng lại của tất cả đau khổ. Thuật ngữ Phật học gọi đó là Diệt Đế hay Níp Bàn. Khi mới học về vấn đề Níp Bàn tôi chỉ hiểu mơ hồ rằng đó là trạng thái vắng mặt hoàn toàn tất cả phiền năo. Từ cách hiểu đó, tôi lại nghĩ thêm rằng chỉ cần tôi đoạn trừ tất cả tham,sân,si th́ coi như tôi đă là Níp Bàn rồi vậy. Thế là tôi cố gắng thiền định với cái lư tưởng sai lầm đó của ḿnh và cái mà tôi đạt được chẳng là ǵ cả ngoài ra một thứ ngộ nhận trầm trọng thêm thôi.

Rồi theo thời gian, tôi tiếp tục thiền định và đă khám phá ra rằng sự chấm dứt đau khổ mà Đức Phật đă nói đến trong Diệt Đế c̣n có nghĩa là sự “đ́nh chỉ” mọi sự ngay khi chúng vẫn c̣n đang tồn tại. Nhờ vậy, tôi đă trở nên điềm đạm và b́nh tĩnh hơn, không c̣n nghĩ về Níp Bàn hay cứu cánh giải thoát bằng cái ước muốn bồng bột, nông nổi nữa. Bởi v́ trong cuộc tu, điều chúng ta cần làm không phải là một sự giải quyết manh động nào hết, mà là một thái độ b́nh thản “ an trí” mọi phức loạn cho đến khi nào chúng tự hủy, tự diệt th́ thôi. Chẳng hạn như trong trường hợp tôi đang có chuyện căi vả với ai đó, nếu cả đôi bên cứ xử sự theo cơn nóng giận của ḿnh th́ có lẽ cả hai sẽ phải đánh nhau mất thôi. Hoặc nếu lúc đó tôi c̣n chút b́nh tĩnh để trở về pḥng ḿnh mà trong ḷng vẫn cứ ấm ức th́ xem ra cơn giận dữ kia vẫn tiếp tục tồn tại v́ rơ ràng là tôi vẫn đang có thái độ đối kháng với nó. Có thể nói đối với các phiền năo đều như vậy cả: Một khi ta buông ḿnh theo chúng hoặc cố t́nh tống khứ chúng th́ chúng vẫn không sao chấm dứt được. Ngọn lửa phiền năo vẫn tiếp tục cháy!

Giáo lư Thánh Đế dạy ta bốn vấn đề: Sự đau khổ, cội nguồn của đau khổ, điểm chấm dứt của đau khổ và con đường đưa đến điểm chấm dứt đó. Chúng ta có thể đem tinh thần của Tứ Thánh Đế để áp dụng vào cuộc tu thường nhật của ḿnh. Trong bất cứ t́nh trạng bất ổn nào của nội tâm, chúng ta đều có thể cảm nhận chúng bằng một trí tuệ tương ứng: “ Tại sao tôi khổ? Tôi thật sự đang muốn cái ǵ? Tôi nhắc lại đó là Trạch Pháp Giác Chi.

Cái tối quan trọng trong cuộc tu của người phật tử là khả năng áp dụng triệt để những lời dạy của Đức Phật chứ không phải là sự đầu tư những kiến thức từ chương. Ngài Ajahn Chah thường nói rằng người Phật tử không nổ lực tu tập th́ giống như những con kiến bu quanh bên ngoài một trái xoài chưa gọt vỏ. Bầy kiến đó không bao giờ thưởng thức được vị ngọt của trái xoài. Thỉnh thoảng , chúng ta nghe được ở đâu đó đôi ba điều về giáo lư của Đức Phật rồi chủ quan tự măn ḿnh đă “ Hiểu Đạo”. Trong khi đó giáo lư của Đức Phật đâu phải chỉ đơn giản là một hệ thống tri thức để nghe và nói, mà yêu cầu cốt lỏi của lời dạy Đức Phật là đề nghị chúng ta phải hiểu biết về từng cảm nghiệm trong đời sống.

Đến đây th́ chúng ta đă hiểu được rằng trí tuệ của bản thân mỗi người không chỉ đơn giản được vận dụng để “t́m vui trốn khổ” một cách nông cạn, mà nó phải được sử dụng để t́m đến cái phương trời tự do cho nội tâm, vượt qua bên kia tất cả giới hạn nhận thức theo phàm tính để rồi chứng ngộ Níp Bàn. Chúng ta sử dụng trí tuệ của ḿnh để t́m đến tự do chứ không phải bỏ mặc cho nó trở nên vô dụng, dùng nó để giải phóng tư tưởng  chứ không phải để tâm cầu hạnh phúc. Trên tinh thần giác ngộ, chúng ta coi như phải vượt qua cả hai giới hạn hạnh phúc và đau khổ. Ư nghĩa của đời tu là thấu suốt tất cả cảm nghiệm chứ không phải đầu tư bất cứ cảm nghiệm nào. Đây là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Đó là tất cả những ǵ mà tôi muốn gởi lại cho các vị trong đêm nay.

 

HĂY NÓI VỀ ĐAU KHỔ

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại đức Gavesako ( Mitsuo Shibahashi) sinh năm 1951 tại Nhật Bản. Là một nhà leo núi lăo luyện, đại đức đă từng thành lập một nhóm hội viên để chinh phục dăy núi Himalayas. Lần đó đại đức cùng cả đoàn đi sang Ấn Độ và trong thời gian chờ đợi thời tiết tốt để bắt đầu cuộc thám hiểm, đại đức đă quyết định ở lại một thảo xá dưới chân núi.Thế rồi trước khi các thành viên trong đoàn có mặt đầy đủ (đại đức đă đi trước một ḿnh), đại đức bỗng nhiên cảm thấy thích thú với đời sống thiền định qua chút ít kiến thức mà ḿnh đă biết được về pháp môn này, để rồi đại đức không c̣n thấy hứng thú trong chuyện leo núi nữa. Đại đức đă ở lại thảo xá đó suốt hai năm liền. Và cũng trong thời gian này đoàn leo núi của đại đức gặp phải tai nạn, một số người trong bọn họ đă bị vùi chôn trong một ḍng băng hà đổ từ núi xuống.

Do một tí khó khăn về vấn đề giấy tờ nhập cảnh đại đức buộc phải đi qua Thái Lan, nơi mà đại đức vẫn hy vọng ḿnh sẽ tiếp tục tu tập pháp môn thiền định.Gặp được các vị sư người Tây Phương ở Bankok, đại đức đă đến chùa Pap Pong rồi thọ giới tỳ kheo với Ngài Ajahn Chah. Lúc này là năm 1975. Đại đức Gavesako gần như chuyên sống hạnh đầu đà và đại đức cũng là người đă hết ḿnh tận tụy chăm sóc thiền sư Ajahn Chah trong suốt những năm tháng cuối đời của Ngài.

Năm 1989 đại đức đă được mời về Nhật Bản để tŕnh bày về thiền định Phật giáo Nguyên thủy suốt mấy tháng trời.

Bài viết sau đây là một pháp thoại cho các phật tử từ Bangkok đến viếng thăm đại đức. Nội dung của bài viết có thể được tóm tắc trong mấy ḍng sau đây “ Hăy làm thế nào để thấy được bản chất ma chướng của ḷng ham muốn và chấp thủ. Cho đến khi nào thoát khỏi được sự chi phối của chúng th́ coi như đă thành Phật”.

Hăy Nói Về Đau Khổ

Trong bài nói chuyện này, tôi muốn nhấn mạnh với quư vị một số tiêu đề có thể tạm gọi là những kinh ngiệm tu học mà chúng ta cần phải có.

Vấn đề trước tiên mà tôi muốn đề cập ở đây chính là thái độ đối diện của người Phật tử trước tất cả những đau khổ trong đời sống. Có là kỳ quái lắm không khi tôi đề nghị các vị hăy đọc sách trân trọng trước những đau khổ như là đối với một người thầy. Chúng ta đừng theo thói quen mà chán ghét, trốn chạy hay e sở các đau khổ. Các đau khổ luôn giúp ta một lời cảnh báo, nó giúp ta thông minh hơn để có thể nh́n thẳng vào mọi sự trong đời. Nếu chúng ta có đủ can đảm để đón nhận các đau khổ th́ sẽ thấy được rằng chúng thật ra có nhiều ư nghĩa tuyệt vời lắm. Trong tinh thần đó, chúng ta sẽ khỏi phải lo ngại bất cứ điều ǵ mà chỉ việc củng cố ở nội tâm ḿnh một sức mạnh chịu đựng. Nói vậy có nghĩa là chúng ta phải biết mạo hiểm và gan ĺ, bởi v́ bất luận là những đau khổ đó có mặt ở đâu chúng ta cũng phải nh́n ngắm nó một cách trọn vẹn. Nỗi đau khổ nào cũng cần được nhận thức, cho nên chúng ta phải học được cách nhận thức đau khổ. Có điều là chúng ta cũng đừng quên rằng sự đam mê trong khả năng nhận thức đó không khéo cũng tạo ra hai thứ h́nh thái phiền năo hết sức nguy hiểm là tham ái và chấp thủ. Chính hai phiền năo này là cội nguồn cho tất cả đau khổ; đồng thời cũng che khuất tất cả nhận thức của chúng ta về đau khổ. Đến lúc này th́ chúng ta chỉ có thể bị đau khổ mà không thể nh́n thấy sự đau khổ. Chính v́ vậy, vấn đề cốt lơi của cuộc tu là biết chọn lấy cho ḿnh một con đường chín chắn để thấy rơ tất cả đau khổ. Từ cái thấy hời hợt của buổi đầu mới tu học, chúng ta sẽ dần dần có được một cái nh́n sâu sắc hơn. Thuật ngữ Phật học gọi đó là Chánh Tri Kiến, cái khả năng trí tuệ thấy rơ được từng giai đoạn xuất hiện, tồn tại và biến mất của các đau khổ để rồi từ trên cơ sở này, Chánh Tri Kiến của chúng ta lại lần được đi đến những cấp độ khác cao hơn: không có hạnh phúc hay khổ đau ǵ cả, mọi hiện tượng chỉ là từng tiến tŕnh xuất hiện tồn tại-biến mất. Với tŕnh độ Chánh Tri Kiến này, ta sẽ thấy rằng thật ra không có Cái Ǵ xuất hiện hay biến mất cả. Không có cái ǵ trên đời này đáng để ta ôm ấp. Tất cả các pháp đều vô ngă.

Bất cứ cái ǵ đă xuất hiện th́ phải có lúc biến mất.Nếu chúng ta có thể buông bỏ hết mọi thứ: Không cực ḷng với những đau khổ, không thích thú cũng không bất măn th́ chắc chắn chúng ta sẽ được an lạc. Bất cứ một đau khổ nào có thể xảy ra trong lúc này th́ cũng chỉ là những bóng khói h́nh sương.

Thái độ thứ hai mà các Phật tử cần phải có được trước tất cả các đau khổ là chúng ta học được cách đánh giá mọi áp lực trong đời sống như là những người khách lạ. Quả đúng như vậy, những cảm giác bức xúc khó chịu thực ra chỉ đến rồi đi qua tâm hồn ta như những bóng nắng bên thềm. Chúng đi rồi cũng có lúc quay lại. Nếu chúng ta không bận ḷng vật lộn với chúng th́ chắc chắn chúng sẽ không lưu trú lại được. Tuy vậy, chúng ta cũng đừng quá chủ quan trong thái độ đó của ḿnh. Hăy b́nh thản một cách tự chủ: Không xua đuổi để khách không có cơ hội phản ứng và cũng đừng nồng nhiệt chào đón để khách có hứng thú ở lại. Hăy để mặc chúng đến và đi theo nhân duyên của chúng, ta không cần thiết phải can thiệp vào. Quư vị hăy an tâm, các cảm giác đau khổ bức xúc chỉ là những du khách chứ không phải là những cư dân. Khi chúng đến ta biết là chúng đến rồi b́nh thản nh́n ngắm cho tới khi chúng ra đi. Chúng ta phải xây dựng ở nội tâm ḿnh một khả năng trung ḥa: Không ghét thương, không sợ hăi…Chỉ giữ lại cho ḿnh khả năng hiểu biết mà thôi. Cứu cánh của cuộc tu không phải là một cái hầm trú ẩn để trốn tránh đau khổ một cách nhút nhát tiêu cực mà là một trạng thái tĩnh lặng, thanh tịnh và trong sáng.

Vấn đề thứ ba chính là một câu hỏi của tôi cho các vị. Có ai trong số chúng ta ở đây đă từng trải qua cái cảm giác đau đớn gần như muốn chết hay không? Cho dù sự đau khổ có nghiêm trọng đến mức nào đi nữa th́ công việc tốt nhất cho nội tâm chúng ta là nhận biết chính xác sự có mặt của nó. Chỉ nhận biết thôi, chúng ta không cần có thêm một số nổ lực nào khác nữa. Hăy kham nhẫn và quan sát mọi cảm giác chứ không nên thích thú hay chối bỏ chúng. Trong những hoàn cảnh đó hăy cố giữ sao cho nội tâm được chuyên nhất không thiên lệch. Cái cần thiết của chúng ta lúc này chính là sự hiểu biết: Ngồi trong sự hiểu biết, đi trong sự hiểu biết. Trong khả năng ư thức này, chúng ta sẽ thấy được rằng mọi sự đều rỗng tuếch ngay trong chính bản chất của chúng. Mọi đau khổ và bức xúc chỉ đơn giản là các cảm giác phù dù, chúng không phải là chúng ta, cũng không thuộc quyền sở hữu của chúng ta.Chúng được xem là quan trọng chỉ v́ chúng ta nắm bắt chúng bằng những khái niệm. Trong khi đó mọi thứ luôn vô thường, cái cũ sẽ được thế chỗ bằng cái mới một cách liên tục.Bản thân chúng chỉ là những ǵ mà Đức Phật vẫn gọi là vô thường, khổ năo, vô ngă.

Nói một cách chính xác, chúng ta đau khổ chỉ v́ chúng ta chấp thủ. Chúng ta phải học được cách đào luyện nội tâm ḿnh cho trở thành một nguồn sức mạnh đủ để đối diện và chấp nhận mọi sự: có thấy được sự đổi thay liên tục của các cảm giác, chúng ta  mới thấm thía được định lư vô thường. Và định lư vô thường th́ luôn gắn liền với định lư vô ngă.

Vấn đề tiếp theo mà tôi muốn nhấn mạnh với các vị là chúng ta đừng bao giờ đồng hóa ḿnh với bất cứ một đau khổ nào khác. Sự đau khổ không phải là TA và ta cũng không phải là sư đau khổ. Sự đau khổ không tồn tại bên trong bất cứ AI và cũng không có AI sống trong sự đau khổ. Sự đau khổ tự nó xuất hiện, tồn tại rồi biến mất. Chúng ta chỉ có mỗi một trách nhiệm đơn giản là nhận ra được từng diễn biến của sự đau khổ để xem nó đến và đi như thế nào. Hăy nh́n ngắm đau khổ mà không cần thiết phải bận tâm xem nó ở mức độ nào, nhiều hay ít. Nhờ vậy chúng ta mới có thể chấp nhận được nó một cách can đảm, bởi bổn phận của người tu chỉ đơn giản có bốn chữ “ can đảm chấp nhận”. Và được gọi là một bậc hiền giả th́ chỉ đơn giản là người chấp nhận được mọi đau khổ.

Vấn đề tiếp đến có giá trị như là một món hành trang tâm lư để chúng ta có thể đối mặt với cuộc đời nói chung và sự đau khổ nói riêng. Ở đây tôi muốn nói đến thái độ “ bao dung” trong tinh thần thấu đáo được cái lẽ tương đối trên đời.

Trước khi đánh giá ai đó là lỗi lầm sai trái th́ chúng ta hăy nhớ lại rằng bản thân ḿnh cũng có lúc sai trái lỗi lầm và người kia không phải lúc nào cũng lỗi lầm sai trái. Hăy giữ lại mọi thứ ở một nửa con số đo lường của ḿnh thôi. Có biết suy nghĩ như vậy chúng ta sẽ không bị các tư tưởng chủ quan của ḿnh đày ải. Hoặc khi nghe lại câu chỉ trích của ai đó về ḿnh, chúng ta đừng nông nỗi tin tưởng hay phủ bác hoàn toàn. Tức là chỉ giữ lại con số đo năm mươi phần trăm mà thôi. Điều đặc biệt là đừng để nội tâm ḿnh có những phản ứng không cần thiết để rồi bị đau khổ. Mọi sự không có ǵ là tuyệt đối: Rất có thể từng người có liên qua trong chuỗi dài thông tin kia đă thêm thắc vào đó một ít tư ư. Nói vậy có nghĩ là chúng ta đừng baogiờ bị mắc bẫy trong cái suy nghĩ của người khác. Quư vị hăy nhớ lại xem chúng ta thường nổi giận trước khi t́m ra căn cội của vấn đề chínhbằg sự suy nghĩ cẩn thận của ḿnh. Đại khái, hăy luôn tỉnh táo và sáng suốt trước khi muốn làm điều gi đó.

Những khi bị buộc phải làm điều ǵ đó mà ḿnh không thích, chúng ta thường tỏ ra bất măn. Hăy nhớ rằng đó không phải là cách phản ứng tốt. Đừng giữ lại trong ḷng ḿnh những cảm giác bực bội chỉ vỉ nghĩ rằng đó là điều vô lư. Ở đây tôi ví dụ như quí vị đang làm việc với một đồng sự của ḿnh. Cả hai bên làm sao có cùng một suy nghĩ được. Mà mọi suy nghĩ th́ luôn vô thường, thay đổi. Người đồng sự của quí vị có thể rồi sẽ thay đổi suy nghĩ hoặc cũng có thể họ nghĩ một đàng mà làm một nẻo…Quư vị đừng để ḿnh bị đánh lừa bởi các cảm giác. Bởi nếu chúng ta tỉnh táo th́ chúng ta không bị đau khổ. Đừng bao giờ hoàn toàn tin tưởng vào bất cứ cái ǵ dầu là chính ḿnh, người khác hay bất cứ một sự kiện nào. Hăy học cánh b́nh thản và không sợ hăi. Đồng thời cũng đừng để ḿnh bị cuốn hút vào những ǵ nghe thấy được. Bởi hăy nhớ cái ǵ cũng đều vô thường và bất toại, hăy dành cho mọi sự trên đời năm mươi phần trăm giá trị thôi.

Năy giờ tôi vẫn nói với quí vị về những thái độ cần thiết phải có để đối diện với đau khổ nhưng nếu như ta đă bằng đủ mọi cách mà chúng ta vẫn tiếp tục đau khổ th́ phải làm sao? Ở đây tôi chỉ có một câu trả lời thôi và đồng thời đây chính là một vấn đề nữa trong bài nói chuyện này. Đó là cố gắng nh́n thẳng vào mọi sự một cách can đảm và tưởng hơn nữa.

Cái nh́n mà tôi muốn nói ở đây chính là trí tuệ về Lư Tứ Đế. Nếu chúng ta c̣n “ bị đau khổ” th́ cũng có nghĩa là chúng ta chưa hoàn tất được chánh kiến của ḿnh. Khi đau khổ xuất hiện, chúng ta hăy dơi mắt theo từng dịch biến của nó bằng cách nh́n ngắm vào chính thân tâm của ḿnh để thấy được thế nào là vai tṛ nhân tố của ḷng tham muốn và chấp thủ đối với sự đau khổ đang hiện hữu. Chúng là những ma chướng, những kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta. Chúng xuất hiện len lỏi qua các ḍng tư tưởng của chúng ta. Ghi nhận được chúng, ta sẽ được vô hại, không bị kích động và khỏi phải ôm ấp chúng một cách ngu xuẩn nữa. Con Người Đau Khổ lúc này đă thành ra một bậc Giác Ngộ, một Đức Phật. Ta không cần thiết phải đi t́m kiếm thêm những ǵ thật ra không có liên quan đến con đường mà ḿnh đang đi. Nếu phải đánh mất cả tánh mạng để đổi lấy trí tuệ này th́ đó cũng là một điều xứng đáng.

Chánh kiến hay trí tuệ giác ngộ c̣n có một nguồn trợ lực khác hết sức quan trọng, đó là Chánh Tư Duy. Cho dù có làm bất cứ công việc ǵ, ta cũng phải luôn giữ được cho ḿnh những khả năng chánh niệm và trí tuệ. Nếu như chúng ta đang lau nhà th́ công việc đó vào ngay lúc này phải được xem là một công việc quan trọng nhất trên đời, ngoài ra không c̣n công việc nào quan trọng hơn. Đang lau nhà th́ chúng ta chỉ nên “biết” ḿnh đang lau nhà mà thôi. Ta phải dành cho công việc đó tất cả sự quan tâm.

Cứ thế, cho đến tất cả những công việc lớn nhỏ khác trong đời sống thường nhật cũng đều phải được thực hiện bằng tinh thần đó. Mỗi việc có một thời gian hoàn toàn độc lập để chúng ta có thể chuyên tâm bất hị trong mỗi cử động của ḿnh. Như vậy th́ công việc nào đối với chúng ta  cũng đều có thể là những thiền án: làm chỉ biết là làm, không bận tâm đến những ǵ ngoài ra.Làm với một tâm hồn thanh thản, không để ḿnh phải cực ḷng v́ những ám ảnh về một quan điểm hay khái niệm nào đó. Chúng ta hăy làm việc như đang thực hiện bổn phận bằng tất cả tinh thần trách nhiệm. Nếu đối với bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng có thể sống với thái độ nội tâm đó được th́ chúng ta sẽ không bị đau khổ và sẽ có được một nguồn an lành, tịnh lạc rộng lớn, thường trực. Có thể nói đây là con đường tu hành được đặc cơ sở trên Chánh Kiến và Chánh Tư Duy.

 

TRÍ TUỆ GIÁC NGỘ

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại đức Brahmavamo ( Peter Betts) sinh năm 1951 tại Luân Đôn. Trong một lần ghé hiệu sách ở Luân Đôn, đại đức đă bắt đầu thích thú trước những quyển kinh Phật, mặc dù lúc này đại đức vẫn c̣n là một cậu bé học sinh. Lớn lên, đại đức vào học ngành vật lư .

Ngay từ thời sinh viên, đại đức đă là hội viên của một hội Phật giáo địa phương và bắt đầu tu tập thiền định. Sau khi tốt nghiệp với mảnh bằng ưu hạng, đại đức đă về dạy vật lư tại một trường trung học ở Devon trong ít lâu. Thế rồi qua sự quen biết với các vị tỳ kheo người Thái ở Luân Đôn, đại đức quen biết với các vị tỳ kheo người Thái ở Luân Đôn, đại đức đă quyết định t́m sang Thái Lan để xuất gia tỳ kheo tại Chùa Sraket với Ḥa Thượng Tan Chao Khun Prom Gunaphorm.

Năm 1975 đại đức Brahmavamso đến học thiền với Ngài Ajahn Chah và cũng là một trong những vị sư đầu tiên của chùa Pah Nanachat.

Năm 1983 đại đức đă sang giúp đỡ đại đức Jagaro hoằng pháp tại chùa Bodhinàna ở Perth, miền Tây nước Úc, nơi mà đến nay Ngài vẫn đang lưu trú. Đại đức đă có nhiều hoạt động tích cực trong việc xây dựng các cơ sở Phật giáo và thuyết giảng giáo lư cho trẻ em cùng các tù nhân địa phương.

Trong số các nhà sư Tây phương, đại đức Brahmavamso được xem như là vị có kiến thức về Luật Tạng uyên thâm nhất, chính những công tŕnh biên soạn của đại đức về Luật Tạng đă là những cẩm nang đầu giường cho chư tăng Tây phương khắp các quốc gia Anh Quốc, Thụy Sĩ, Úc và Tân Tây Lan.

Trí Tuệ Giác Ngộ

Hồi c̣n bé tôi cứ mơ ước sau này lớn lên được trở thành một người lái tàu hỏa. Ông của tôi thường giắt anh em tôi đến nhà ga Euston ở Luân Đôn để từ đây tôi có dịp làm quen với sắt thép, dầu mỡ và những cổ máy. Tôi thích thú lắm, cứ như được sống trong mơ vậy. Tôi nghĩ hoài đến một ngày nào đó ḿnh lớn lên rồi điều khiển cả một đoàn tàu dài ngút mắt để chạy qua những miền đất kỳ thú.

Thế rồi mấy năm sau, những mộng mơ trong tôi ngày xưa lại chuyển hướng. Tôi đă đọc rất nhiều sách rồi lại tự dựng lên trong đầu ḿnh h́nh ảnh một siêu nhân có đôi mắt luôn phát quang chói ngời, có một đời sống tuyệt đối hạnh phúc, không biết ǵ đến tuổi tác cùng những biển dâu trong cuộc đời này. Tôi mơ ước ḿnh đến một ngày nào đó cũng sẽ được như vậy.

Rồi cũng trong cái tuổi học tṛ của ḿnh, lần đầu tiên tôi được nghe kể chuyện về Đức Phật. Dù vẫn là một cậu học tṛ thôi, nhưng giai thoại về những tháng ngày tu hành của đức Bồ Tát giữa một khu rừng già ở Ấn Độ ngày xưa đă khiến tôi bắt đầu lưu tâm đến việc thay đổi nếp sống. Trong một ngày Lễ Phật Đản của Hội Phật Giáo địa phương, khi được nghe một vị đại đức người Tích Lan kể lại quá tŕnh tu hành của Đức Phật, tôi bỗng nhiên bị kích động mănh liệt. Tôi cứ  bị ám ảnh hoài lời đại nguyện của Đức Bồ Tát dưới gốc Bồ  Đề: “ Cho dầu máu ta có khô đi, xương ta có vỡ vụn thành bột ta cũng sẽ không bao giờ rời khỏi chỗ này khi chưa chứng đạt quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác”.

Giai thoại đó đă in sâu gần như mọc rễ trong tâm hồn tôi. Một cảm giác bức xúc kỳ lạ đă khiến tôi không thể kiên nhẫn ngồi lại để dự xong buổi lễ, tôi đă lập tức quay trở về trường, chạy vào pḥng ḿnh rồi nằm úp mặt. Những tư tưởng thao thức, tự vấn cứ giằng xé tâm hồn tôi: Tôi đă được nghe pháp quá nhiều, đă xem kinh quá nhiều và cả năm trời vừa qua, tuần nào tôi cũng đến tham dự một buổi thiền định…Tại sao Đức Phật có được một hùng tâm như vậy mà tôi th́ lại chẳng có được một phần nhỏ của Ngài.

Thế rồi bằng tất cả nhiệt huyết nông nổi và manh động của tuổi trẻ, tôi đă quyết định dốc sức thiền định để được giác ngộ. Hoặc là ngay bây giờ, hoặc là chẳng bao giờ-Tôi tự đặt ra cho ḿnh câu tiêu ngữ đó, và ngay ngày hôm sau, tôi đă làm một cuộc thử nghiệm. Khóa trái cửa pḥng ḿnh lại,tôi ngồi xuống ngay ngắn trên tấm tọa cụ vẫn được dùng để ngồi thiền rồi tập trung tư tưởng, tôi đọc thành một cách rơ ràng và dứt khoát: “ Cho dầu máu tôi có khô đi, xương cốt tôi có tan nát thành bụi, tôi cũng không bao giờ rời khỏi tọa cụ này trước khi giác ngộ”.

Chỉ có vậy thôi, tôi đă ngồi yên như một xác chết. Năm mười phút trôi qua, cơn đau đớn trong tôi đă lên đến mức cực điểm. Dầu máu tôi vẫn chảy b́nh thường trong huyết quản và xương cốt của tôi cũng chưa hề có vấn đề ǵ nhưng cái cảm giác tê buốt ở hai đầu gối đă cho tôi biết thế nào là địa ngục, và điều làm tôi bận tâm nhất là trong suốt thời gian đó tôi chẳng hề thấy một tia ḥa quang nào hết. Bởi theo tôi th́ dù có điều đó cũng phải xuất hiện để chứng tỏ rằng ít nhất tôi cũng đă gần đạt đạo chứ. Đổi ngược lại tôi chẳng được ǵ hết, ngoài một cảm giác đau đớn quá sức chịu đựng. Tôi đă gần như không đứng dậy và “cuộc đại ngộ thất bại” đă làm khổ tôi suốt ngày hôm đó.

Thời gian qua đi, rồi tôi cũng dần dần trưởng thành thêm đôi chút để có thể bỏ lại sau lưng ḿnh những ước vọng ngộ nghĩnh từ những ngày bé dại và cả lứa tuổi dậy th́.Hôm đó, tại phi trường Luân Đôn, tôi đă được hai vị tỳ kheo người Thái đến đưa tiễn sang Bankok để xuất gia. Măi cho đến bây giờ tôi vẫn cứ nhớ hoài câu nói từ biệt của một trong hai vị sư người Thái đó, người đă từng hướng dẫn tôi. Ngài nói với tôi: “ Hăy nhớ quay về đây khi cậu đă giác ngộ nhé”. Trước khi ra đi tôi đă tính toán kỹ lưỡng và có lời hẹn với những người thân rằng sau hai năm tu học ở Thái tôi sẽ trở về. Có thể nói rằng hai năm trời trong nếp sống xuất gia là cả một thời gian khá dài, vừa đủ cho một người kém thông minh nắm được phần nào cái căn bản của đường tu. C̣n đối với riêng tôi, tôi đă tốt nghiệp đại học nên tôi cứ tin chắc rằng với tư cách một người đă ngộ đạo. Tôi nhớ ḿnh đă từng là một người vượt qua được rất nhiều thứ,chẳng hạn  tôi đă từng từ bỏ ư muốn lập gia đ́nh, một lư tưởng sống mà khó ai lại dễ dàng bỏ qua. Đại khái tôi đă phủi bỏ tất cả trước ngày lên đường sang xứ Thái.

Nhưng quí vị biết không, hai năm trời xuất gia đă cho tôi thấy rằng việc giác ngộ giải thoát chẳng hề dễ dàng tí nào. Tôi nhận ra điều đó qua những kinh nghiệm thật xót xa. Chẳng hạn tôi là một người da trắng được ăn học đàng hoàng ở một đại học lừng danh thế giới, vậy mà trong cuộc sống tu hành tôi đă thật sự thua kém một cách đáng ngại so với những nhà sư bản xứ chỉ mới học xong lớp ba, lớp bốn trường làng.Nhưng đổi lại, ḷng kiêu ngạo của tôi hồi nào đă dần dần được tẩy xóa. Đó là cả một kỳ tích, dù tôi thật ra vẫn chưa thực sư giác ngộ.

Tôi đă học được cách t́m thấy cái thú vị trong đời sống đạm bạc và khép ḿnh của một nhà sư. Tôi đă bỏ hết những ǵ thuộc về cái da trắng của ḿnh để tự nguyện chấp nhận cuộc đời của một người tay trắng. Tôi không muốn rời xứ Thái và những tục niệm ngày xưa ở bên quê nhà đến bây giờ bỗng nhiên bay biến đâu cả.

Vào mùa an cư thứ tư trong đời tu của ḿnh, tôi đă phải đối diện với một biến động. Người ta nhắn tin về Thái Lan rằng Giáo Hội Phật Giáo Anh Quốc đă mua được một cơ sở để làm chùa bên đó đang cần có thêm chư tăng. Phải nói rằng đây là một thời điểm để tôi đối đầu với vấn đề giác ngộ. Bởi v́ lúc đó tôi đang sống tại một ngôi chùa hẻo lánh, hiu quạnh và việc tu tập thiền định của tôi lúc đó cũng đă bước vào giai đoạn chuyển ḿnh. Nói chung, chuyện tu hành của tôi lúc này xem như đang ổn định.Vậy mà cái chuyện “xê dịch”kia lại xảy đến cho tôi!

Vào một buổi chiều, sau nhiều giờ tọa thiền, trên con đường kinh hành tôi bất chợt hiểu ra căn cội của mọi vấn đề mà ḿnh vẫn trăn trở và tâm hồn tôi lúc đó lập tức trào dâng một niềm hạnh phúc thật kỳ lạ. Mọi thứ chung quanh như bừng sáng lên, toàn thân tôi như được thấm nhuần cái cảm giác an lạc nào đó thật lạ lùng và tôi thấy ḿnh như đang tiếp nhận được một nguồn sinh lực hết sức mănh liệt. Trời tối lúc nào tôi cũng không hay. Tôi cứ ngồi đó thiền định như quên mất ḿnh đi. Sau đó tôi nằm xuống nghỉ một lát và tỉnh dậy lúc ba giờ sáng để lại bắt đầu buổi thiền định trong Tham Vấn Đường. Tôi đă trải qua những giờ tọa thiền một cách thanh thản và dễ dàng đến mức không biết buồn ngủ hay mỏi mệt là ǵ. Niềm hạnh phúc trong thiền lạc đúng là không thể nói được. Chỉ tiếc là để kéo dài nó như ư ḿnh muốn th́ không phải dễ.

Ngôi chùa mà tôi vừa kể trên, nơi tôi đă sống qua thời gian thiền định tuyệt vời nhất, lại là một ngôi chùa rất nghèo, mọi phương tiện vật chất đều hết sức thiếu thốn. Chùa nằm ở miền Đông Bắc Thái Lan và ở đây mỗi ngày chư tăng chỉ dùng có một bữa, không có điểm tâm. Ấy thế nhưng, cái buổi sáng sau đêm thiền định hạnh phúc kia lại là tất cả những ǵ thử thách và đối lập với những thành quả mà tôi đă đạt được trong vài giờ trước đó. Trong bữa ăn hôm ấy, ngoài món cá hầm thường được nấu rất cẩu thả và mất vệ sinh, c̣n có một tô cà ri thịt heo. Hôm ấy sư trụ tŕ người Thái tỏ ra chán ngấy món cá hầm khó nuốt kia rồi cứ múc từng muổng lớn cái món cà ri. Tôi thiệt t́nh chẳng bận tâm ǵ tới chuyện đó dù ai cũng có thể thấy rằng cái cảnh tượng ấy rất dễ khiến người ta bực ḿnh. Phải nói rằng tôi chẳng hề có ư “tranh giành quyền lợi” trong những trường hợp cỏn con như vậy. Trong đám đông chư tăng lúc đó tôi ngồi ở vị trí thứ hai kế bên vị trụ tŕ nhưng vị này cứ như chẳng hề nh́n thấy tôi. Thế rồi sau đó, như nhớ ra, vị này đă đổ trút phần cà ri c̣n sót lại trong tô vào dĩa cá hầm trước mặt tôi, rồi nói “cứ nuốt cả vào đi, vào tới bao tử rồi mọi món cũng sẽ trộn chung lại với nhau thôi”. Đến lúc này th́ tôi thật sự nổi giận. Đó là một thái độ thiếu lịch sự không thể chịu nổi. Nếu vị trụ tŕ chỉ hồn nhiên làm việc đó theo cái suy nghĩ thiệt thà của ḿnh th́ tại sao không trộn chung lại các thứ để ăn trước khi chia phần cho tôi. Tôi đă trừng mắt giận dữ nh́n  vào dĩa thức ăn của ḿnh nhưng cũng may tôi không có phản ứng nào khác. Điều đáng tiếc là vị trụ tŕ đă làm tôi nổi giận đến phát điên. Quư vị hăy nhớ rằng đúng ra bữa ăn hôm đó phải là một bữa ăn tuyệt vời cho tôi. V́ ngay đêm trước tôi vừa trải qua những giây phút giác ngộ!

Một tư tưởng nhức nhối đă xảy đến cho tôi trong lúc đó rằng ḿnh vẫn chưa thực sự giác ngộ. Các bậc giác ngộ không hề biết nổi giận. Chư vị A la hán không thể nào bị các món ăn chi phối. Tôi đă nổi giận có nghĩa là vẫn chưa giác ngộ. Phải nói đây là một sự đổ vỡ ghê gớm, một áp lực nặng nề cho tôi. Tôi đă đổ bỏ tất cả thức ăn vào bát của ḿnh để đem vất đi. Và tôi đă không c̣n đủ b́nh tĩnh để ghi nhận cái lưỡi của ḿnh đă nếm phải thứ ǵ trong bữa ăn đó nữa.

Trong t́nh trạng đạo lực ngày càng thối thất và sa sút đó, trong những năm tu sau đó của ḿnh, tôi càng ngày càng xuống dốc thậm chí đổ đốn hơn. Cái lư tưởng tu hành ngày nào bây giờ bỗng dưng mờ nhạt bên cạnh những ước mơ của thời tuổi trẻ, từ cái ước mơ của người lái tàu hỏa, cho đến h́nh ảnh một nhà thiên văn học hàng đầu, một cầu thủ kiểu mẫu, một tay chơi tây ban cầm lừng danh hoặc một sinh viên nổi tiếng hào hoa…và cứ vậy, tôi thấy cái lư tưởng giác ngộ của ḿnh có vẻ ngu xuẩn làm sao. Bởi xét cho cùng, cái ước mơ trở thành người lái tàu hỏa thôi cũng là điều có thể thực hiện. C̣n đối với cứu cánh giác ngộ th́ tôi hoàn toàn không thể t́m thấy một chút đảm bảo nào hết. Và cũng trong suốt thời gian đó, mối quan hệ giữa tôi với các bạn bè đồng tu cũng càng lúc tệ hại hơn. Tôi không muốn nói chuyện với ai, chỉ trả lời một cách đầy ác cảm trước những câu hỏi. Như vậy t́nh trạng của tôi lúc này đúng là hoàn cảnh của một người lạ nơi đất khách. Mọi thứ chung quanh đều có vẻ như chống đối lại tôi: những bữa ăn buồn nôn, những vật dụng hư cũ, những muỗi vắt ác nghiệt cùng cái không khí nóng bức triền miên…cái ǵ cũng khó khăn đối với tôi, nhưng tại sao lại như thế? Bởi v́ tôi đă đánh mất ḷng tự tin một cách nghiêm trọng. Như vậy rơ ràng là cho đến khi nào chúng ta vẫn chưa hiểu được một cách chính chắn ư nghĩa của sự giác ngộ th́ bất cứ một con ong, cái kiến nào cũng có thể dễ dàng khiến ta đánh mất lư tưởng cao đẹp đó cả. Thật ra tôi tự hiểu ḿnh vẫn chưa hề có ư muốn hoàn tục, tôi biết rơ điều này và nó đă có một ư nghĩa rất quan trọng đối với tôi. Điều mà tôi cần thiết phải thực hiện chính là biết bỏ đi những ǵ là hoang tưởng. Cho nêu nếu lư tưởng giác ngộ của tôi trước đây chỉ xuất phát từ một ư muốn nông nổi th́ nó lại cũng chỉ là một thứ hoang tưởng mà thôi. Mà đă vậy, nó chỉ là cái cần được vất đi!

Trong cảnh giới của thiền quán, xét về một khía cạnh nào đó, một tư tưởng đơn sơ đôi khi lại là một con đường ngắn nhất để dẫn đến trí tuệ giác ngộ. Trong khi đó, một nội tâm bị ám ảnh bởi quá nhiều suy tính th́ lại chỉ có thể đưa người ta đến một ngơ cụt ngu xuẩn. C̣n đối với t́nh trạnh tŕ độn của tôi th́ sao? Điều này đă nói đến rất nhiều trong kinh điển và đă có biết bao vị chân sư cũng từng lưu ư đến vấn đề này. Đó là cái chân lư “ mọi cái Trở Thành luôn là đau khổ, bất luận là Trở Thành Cái Ǵ”. Đức Phật đă từng khẳng định rằng Ngài không chủ trương việc Xây Dựng, Tạo Tác hay một nổ lực để Trở Thành cái ǵ đó. Ư tưởng Trở Thành chính là sản phẩm của Ngă Chấp. Chính cái lư tưởng trở thành đă tô điểm và củng cố cho mọi mê vọng ngộ nhận. Nó có thể được gọi là lớp da phủ ngoài của một cái Tôi phù du. Chấm dứt mọi ước vọng trở thành cùng những ảo tưởng được thoát thai từ nó th́ coi như mọi vọng niệm cũng được phá vỡ.

Như vậy th́ chưa cần ǵ đến những tŕnh độ thánh trí, những nhận thức trên đây đối với tôi cũng có thể tạm được xem là một cứu cánh giác ngộ rồi. Tôi thấy rằng thay v́ nhức đầu cho cái hành tŕnh xác định một cái Tôi “ Ai? Người Nào?... Th́ tốt hơn ta hăy cùng nhau khám phá xem người nào có ước muốn trở thành bậc Giác Ngộ nếu như quả thật có một con người thật sự hiện hữu. Tôi đă cố gắng khám phá định lư vô ngă, một công phu có nhiều ư nghĩa hơn là chuyện Trở Thành Một Con Người Giác Ngộ. Một điều đáng buồn cười là có nhiều người cứ đến hỏi tôi một câu hỏi hạng bét mà họ đă từng hỏi nhiều vị khác rằng tôi đă đắc đạo hay chưa. Trong những trường hợp đó tôi đă mượn lại câu nói của cố Ḥa Thượng Anadamangala Mahànàyakathera, một đại sư thánh hạnh người Tích Lan để trả lời câu hỏi đó: “ Tôi chưa được giác ngộ thánh trí nhưng tôi đă học được cách chối bỏ tối đa những ǵ cần chối bỏ”.

 

TINH THẦN QUAN ÂM VÀ H̀NH ẢNH CON VOI

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại đức Sucitto sinh năm 1949 tại Luân Đôn nhưng vài năm sau đó, gia đ́nh của đại đức đă dời về một thị trấn nhỏ ở Dunstabe. Đại đức đă bắt đầu hứng thú với Phật giáo kể từ lúc c̣n đi học , qua các tác phẩm văn chương Nhật Bản. Nhưng chỉ có thế thôi, Ở Dunstable không có điều kiện để đại đức nghiên cứu về đạo Phật. Là một người có năng khiến văn chương, năm 1971, đại đức đă nhận được mảnh bằng cử nhân văn chương Anh Mỹ tại đại học Warwick. Sau đó, để t́m cho ḿnh một hướng đời nhiều ư nghĩa hơn, đại đức đă thực hiện một chuyến du lịch về phương Đông. Cuộc đi được bắt đầu từ Châu Úc. Sau một thời gian ở Ấn Độ, đại đức đă đến Thái Lan năm 1975 rồi tham dự một thiền khóa được tổ chức tại Chiang Mai. Chỉ sau vài hôm thiền định, đại đức đă nghĩ đến việc xuất gia.

Xuất gia xong, trong suốt ba năm đầu tiên, đại đức gần như chỉ sống ở chùa Kiriwong tại thành phố Sawan. Trong một thời gian lưu trú tại Chiang Mai, đại đức đă gặp Ngài Sumedho trước khi vị này rời Thái về Anh. Thế rồi năm 1978 trong chuyến về Anh để thăm gia đ́nh, đại đức đă quyết định ở lại tu học bên vị này. Suốt những năm tháng sau đó, đại đức đă giúp đỡ Ngài Sumedho rất nhiều , đặc biệt là đă ra sức ấn hành các bài giảng của Ngài cùng các kinh sách khác của chùa Harhnam. Từ năm 1983 đại đức đă thành lập một cơ sở tu học cho các tu nữ mười giới và đến năm 1984 đại đức dời về sống ở trung tâm Phật giáo Amaravat́ rồi sống luôn tại đây cho đến nay.

Bài viết dưới đây gần như là một đoạn hồi kư kể lại những tháng ngày đại đức đă sống tŕ hạnh đầu đà cùng với đại đức Gavesako ở Isan, một tỉnh lẻ miền Đông Bắc Thái Lan vào mùa đông năm 1986.

Tinh Thần Quan Âm và H́nh Ảnh Con Voi

Sijara không đẹp lắm, ở về phía đông Bangkok và đă trở thành một thành phố nối dài do mật độ dân số của thủ đô. Siraja nằm dọc theo bờ biển, chạy từ Samut Pakhan đến Chonburi, đời sống chủ yếu nương theo cơn vùng dậy của nền công nghiệp dầu hỏa và tàu bè trong vùng vịnh Thái Lan. Đại đức Gavesako và tôi đă quyết định đi đến đây để làm một cuộc du hành Đầu Đà và đặc biệt là để t́m đến một ḥn đảo mà dân địa phương vẫn gọi là đảo Sichang ( trong tiếng Thái có nghĩa là ḥn đảo của loài voi thiêng).Lúc bấy giờ đang sắp sửa bước vào mùa Giáng Sinh, khắp nơi trên đất Thái đều rất nhộn nhịp, đặc biệt các thành phố đă bị tây hóa. Chúng tôi bàn nhau ngủ lại một hai đêm trong một ngôi chùa nhỏ mà đại đức Gavesako đă quen biết trước, để rồi từ đây chúng tôi sẽ ra ḥn đảo kia sống dấu ḿnh trong ít hôm.

Phải nói đây  là một ư tưởng rất hay của chúng tôi, bởi ngay giữa lúc mọi nơi đều đang bắt đầu náo nhiệt th́ chúng tôi có mặt ở một khu rừng vắng tại Isan. Ngôi chùa nhỏ mà chúng tôi nghỉ đêm chỉ có một diện tích vài mẫu thôi, chùa nằm đối diện với một sườn đồi nằm bên ngoài thị trấn Siraja, không quá xa hay quá gần với trung tâm dân cư. Nhưng dù vậy những bài hát Giáng Sinh từ đường phố vẫn vọng lên chùa lồng lộng. Theo dự tính, chúng tôi sẽ ở lại chùa này một hai đêm nhưng vào lúc này tôi thấy phải đi thật gấp và khổ nỗi muốn ǵ th́ cũng phải lấy vé tàu trước đă. Một chiếc vé thôi, trong thời điểm này cũng phải đợi đến mấy ngày mới mua nổi. Nên vào một buổi chiều, sau khi đă ở lại ngôi chùa đó vài ngày, chúng tôi đă ra bờ biển rồi t́m đường sang một ḥn đảo nhỏ bằng cách men theo cầu tàu. Trên đảo có một ngôi chùa Phật giáo Trung Hoa và cũng rất nhiều ngôi chùa theo truyền thống này ở khắp xứ Thái. Ngôi chùa Tàu mà chúng tôi vừa ghé vào cũng vô cùng rườm rà, rắc rối với hàng chục ảnh tượng và nghi thức cúng bái. Để cầu phước lợi, người ta thường đến những ngôi chùa kiểu này tế lễ và cầu khẩn Đức Phật hoặc các vị Bồ Tát, đặc biệt là Quan Thế Âm Bồ Tát. Theo tín ngưỡng Trung Hoa, đó là vị Bồ Tát luôn lắng tai nghe ngóng lời cầu khẩn của những chúng sanh khổ nạn để kịp thời phú hộ cho họ. Phải nhận rằng tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra được cái không khí huyền hoặc như vậy qua kiến thức của ḿnh về Phật Giáo. Tôi đă cố làm ngơ đi trước mọi h́nh ảnh đó trong chùa để quay ra nh́n về biển cả lúc này đang chói ngời trong ánh nắng chiều. Ngắm một bầu trời mát dịu như đang lồng lộng trên kia, tôi cứ vậy mà càng muốn bỏ đi thật gấp để t́m đến một nơi có thể thiền định lập tức.

Buổi chiều hôm sau, chúng tôi đă t́m được thuyền để đi ra đảo Sichang. Chúng tôi ghé vào bến đỗ trên đảo rồi cứ vậy mà đi bộ dọc theo bờ biển để đến một chỗ càng xa bến tàu càng tốt. Chúng tôi đă bắt gặp một ngôi chùa cổ hoang tàn đổ nát vốn đă được xây dựng từ đời vua Mongkut. Dĩ nhiên ngôi chùa này chẳng giống ngôi chùa Tàu bên ḥn đảo nhỏ kia. Cái hoang cảnh tiêu sơ ở đây dù sao cũng vẫn giữ lại được một bầu không khí ấm cúng và trang nghiêm. Ngay trên nền chùa có mọc lên một cây Bồ Đề, các vách tường của chùa đều rạn vỡ, trên những mảnh tường c̣n lại gần như trơ trụi. Chúng tôi ngậm ngùi khi thấy trên đó có một vài bức chân dung của những vị tỳ kheo tŕ hạnh đầu đà. Trong số đó có cả ảnh Ngài Ajahn Mun, sư phụ của thiền sư Ajahn Chah. Đối với chúng tôi, được sống ở một nơi gần như thánh địa này để thiền định quả là vô cùng lư tưởng. Chúng tôi đă chọn đúng chỗ rồi, một chỗ ẩn tu thật tuyệt vời.

Chúng tôi lại thả bộ xuống những kè đá và quyết định tận dụng từng ngày trong điều kiện sống viễn ly này một cách nhiều ư nghĩa nhất. Năm ngày trôi qua thật nhanh, chúng tôi gần như đă đánh mất khái niệm thời gian v́ bất cứ lúc nào trong những ngày này chúng tôi đều luôn cảm thấy tâm hồn ḿnh được trong sáng kỳ lạ. Khả năng tập trung chánh niệm cũng có vẻ dễ dàng hơn. Thậm chí cho đến sức khỏe sinh lư của chúng tôi trong thời gian này cũng như đang ở vào t́nh trạng tốt nhất. Chúng tôi cảm thấy khỏe khoắn đến mức không muốn đi ngủ.

Thời tiết trên đảo mùa này thật tốt, bởi nói chung th́ ở Thái Lan, tháng mười hai luôn là tháng lư tưởng nhất trong năm: ấm áp, mát mẻ và cũng chẳng có sương mù. Được trải qua những ngày này trên đảo th́ quả là thú vị. Tôi vẫn từng đêm ngồi thiền giữa trời rồi nếu muốn có thể ngước nh́n lên hằng tỉ tinh tú bên trên. Những khi đó, thời gian như dừng lại…

Quư vị có ngờ được không, sau mấy ngày hết sức an lạc đó tôi lại có thêm một phần thưởng nữa. Vào một ngày thật tốt trời, tôi t́nh cờ đi ngang qua một ngôi gác gỗ thật đẹp, nó cũ lắm rồi, lại bị cháy hết một nửa và nằm lẫn khuất trong một đám cây rừng. Ngôi gác gỗ đó nằm gần bên chùa và băng qua nó tôi đă phát hiện được một hang động nằm dưới ḷng đất. Hang rộng lắm, nói trần cũng cao, đủ để ta có thể đi kinh hành, và trong hang c̣n có nhiều cái hóc nhỏ mà nếu vào đó ngồi thiền th́ tuyệt. Đă vậy, đây lại là một cái hang hoàn toàn bằng đá mới thú chứ. Có mặt trong hang th́ coi như ta chẳng c̣n nghe thấy bất cứ cái ǵ bên ngoài nữa. Sống ở đây ta cứ như đang nằm trong ḷng trái đất. Đó quả là một ước mơ của người ẩn sĩ! Phát hiện được cái hang động, tôi mừng vui lắm và cứ bàng hoàng măi. Hôm đó là ngày rằm tôi muốn đi ngồi thiền nhưng suốt buổi chiều hôm đó, đầu óc tôi cứ phóng tung loạn xạ với đủ thứ tạp niệm: ḿnh đang ngồi gần ngôi chùa cổ này, như vậy coi như ḿnh đang ngồi thiền chung với Ngài Ajahn Mun. Ḿnh có thể xuống hang động kia để thiền định hoặc cũng có thể đi kinh hành dưới đám cây rừng giữa cơn gió chiều để chờ trăng lên và biết đâu vào đầu hôm đêm nay ḿnh sẽ chứng đắc được cái ǵ đó.

Đang miên man đắm ḿnh trong những ḍng suy tưởng đó bỗng dưng tôi có cảm giác như ḿng mất hẳn trọng lượng và đang sắp sửa bay bỗng. Tôi kinh ngạc tột độ khi thấy một nhóm người đang tiến về phía tôi và trong sương chiều đang phủ xuống, tất cả bọn họ đều có chung một dáng vẻ thật kỳ quái, ma ảo. Tất cả đều mặc đồ trắng và tôi vô cùng ngỡ ngàng khi nhận ra trong số đó có một người là cư sĩ áo trắng ở ngôi chùa nhỏ bên đảo Siraja mà chúng tôi đă ghé ngủ hôm trước. Ông ta đang đi đến chỗ tôi, với một nhóm phụ nữ cũng mặc toàn đồ trắng. Tôi tự nhiên nghĩ là họ đến thăm chúng tôi. Mà t́nh thế lúc ấy thật khó xử, tôi không biết nói tiếng Thái. Nhưng dù sao họ cũng đă thấy tôi rồi, không thể làm ǵ hơn được, tôi đành ngồi yên tại đó và hy vọng mọi chuyện rồi sẽ qua đi thật nhanh. Tất cả chúng tôi đă ngồi xuống bên cạnh gốc Bồ Đề cổ thụ nằm bên ngoài ngôi chùa cổ rồi một người trong số họ đă đưa cho tôi mấy lon nước đă được ướp lạnh sẵn., trong đó có cả Coca Cola.Tôi nhận lấy một lon rồi thong thả uống. Bọn họ lại hỏi tôi đủ chuyện, họ nói nhiều lắm trong khi tôi chỉ hiểu được loáng thoáng, tôi chỉ mỉm cười rồi bập bẹ giải thích ḿnh không hiểu được tiếng Thái. Lúc đó tôi cứ nghĩ đến Gavesako và thầm mong đại đức có mặt kịp lúc và nói chuyện với nhóm người đó. C̣n tôi lúc này dĩ nhiên chỉ muốn bỏ đi để t́m đến chỗ nào đó ngồi thiền. Nhưng rồi trong tư tưởng tôi lại đột nhiên nảy ra những dấu hỏi “ Tại sao nhóm người kia lại đến đây? Tại sao tôi cứ kinh ngạc về chuyện đó?” V́ đại đức Gavesako mới đến, tôi phải ngồi với đại đức một lát. Rồi khi nhận thấy đại đức với nhóm người kia đă bắt đầu câu chuyện với nhau, v́ đại đức Gavesako rất giỏi tiếng Thái, nên tôi mới quyết định đứng dậy bỏ đi. Vào đúng ngay lúc đó, đại đức Gavesako nói với tôi là hăy thu xếp để quay về.

Thấy tôi có vẻ thắc mắc, đại đức cho biết sẽ quay lại Siraja. Buổi thiền định đêm nay của tôi coi như không thể thực hiện được rồi. Tôi lại hỏi lư do trở về Siraji, đại đức Gavesako trả lời cho tôi biết rằng nhóm người kia cố ư mời chúng tôi quay trở lại, c̣n đại đức th́ không có lư do để từ chối. Một cái ǵ đó như niềm thất vọng đă rơi xuống trong tôi. Tôi quay lại để lấy hành lư mà cứ thắc mắc trong ḷng: “ Bọn họ muốn ǵ? Chúng tôi đang làm ǵ? Chúng tôi đang dự định trở vào nền chùa để tụng kinh kia mà! Tại sao chúng tôi không tiếp tục ở đây nữa trong khi chúng tôi đă ở đây được mấy ngày rồi? Chúng tôi có thể sẽ trở về bất cứ lúc nào kia mà…Chúng tôi đến đây để thiền định rồi bây giờ lại quay trở về thành phố . Tại sao chứ? Thực ra người ta muốn ǵ ở chúng  tôi?”. Nhưng ở hoàn cảnh chẳng đặng đừng này, tôi biết ḿnh không thể xử sự như ư nên cũng đành thôi. Chúng tôi ra bến tàu rồi chở đợi ở đó một lát. Ít phút sau, một con thuyền chạy đưa chúng tôi rời đảo Voi Thiêng trở về Siraja.

Thế là, chúng tôi quay trở lại ngôi chùa trong thị trấn Siraja mà không biết để làm ǵ. Tôi về pḥng của ḿnh, sắp xếp hành lư rồi ngồi đó chờ đợi. Tôi về pḥng của ḿnh, sắp xếp hành lư rồi ngồi đó chờ đợi. Tôi đă ngồi đó chờ đợi nhưng không có ǵ xảy ra cả, ngoại trừ những âm thanh ồn ào từ thành phố dội về chùa suốt cả ngày đêm. Mà ở xứ Thái kể cũng lạ, cứ vào mùa Giáng Sinh th́ mọi người, bất kể là con chiên Thiên Chúa hay Phật tử đều vui chơi ca hát như nhau cả. Những bài hát mừng Giáng Sinh như White Christmas, Rudolph the red-Nosed Reindeer đều bằng tiếng Anh nên có lẽ v́ vậy mà người ta, phần đông là không hiểu được ư nghĩa của chúng , cứ trổi giọng hát một cách vô tội vạ. Từng đêm, từng buổi sáng, tôi cứ ngồi đó lắng nghe và chờ đợi. Ngồi nghe mấy bài hát Giáng Sinh mà tôi cứ nhớ ánh trăng trên đảo Sichang, nhớ tới ngôi chùa cổ đổ nát, nhớ tới Ngài Ajahn Mun rồi những giờ thiền định trên ḥn đảo thơ mộng đó nữa.

Nhưng có điều không thể phủ nhận là cũng chính trong những ngày này, tôi đă học được cách lắng nghe, và nó gần như đă là một thành quả tu học của tôi.Tôi nghe như trong bản thân ḿnh có chút ǵ đó đă được ổn định để tôi có thể sống giao ḥa trung thực với mọi sự chung quanh. Bài hát Giáng Sinh Rudolph the Red-Nosed Reindeer thật ra có một nội dung rất đặc biệt, nhất là khi ta nghe nó qua vài lần. Nội dung của bài hát này có một ư nghĩa răn đời chứ không chỉ đơn giản là một nhạc khúc hát mừng lễ hội. Chuyện lạ lắm, tôi đă thử bỏ đi những gút mắc trong ḷng ḿnh rồi lắng nghe từng âm thanh của cuộc đời chung quanh, đằng sau cái dư hưởng của những náo nhiệt đó là cả một cảnh giới tịch mặc vô cùng kỳ diệu. Rồi một điều hết sức kỳ diệu khác nữa là chính cái cảnh giới im lặng mà tôi vừa nói kia lại mở ra cho tôi cái khả năng lắng nghe mọi sự. Đó chính là cái cảnh giới thinh lặng tuyệt vời được dành riêng cho “cái thính giác ư thức”, một thứ thính giác sâu thẳm và mênh mông mà không một âm thanh nào có thể nhiễu động. Đồng thời trong chính cái thính giác kỳ diệu này cũng hàm chứa một sự bao dung độ lượng vượt ngoài thời gian tính.

Từng ngày rồi từng ngày trôi qua vẫn không có ai đến gặp gỡ hoặc để đưa chúng tôi đi đến nơi nào cả.Người ta không muốn tôi thuyết pháp, tụng kinh,làm lễ, đi đâu và nói ǵ hết. Có thể họ e ngại rằng chúng tôi chỉ quen sống độc cư hoặc cũng có thể người ta nghĩ rằng chúng tôi thích sống đạm bạc. Thậm chí tôi c̣n nghĩ đến tất cả những t́nh huống có liên quan cái gọi là t́nh đời, ḷng người. Nhưng rồi sao cuối cùng rồi tôi cũng vẫn cảm thấy hạnh phúc. Tôi đă cố gắng nhớ lại tất cả sức mạnh từ tâm của một vị Bồ Tát để học cách tri ân với mọi người, dù thiên hạ thực ra có thể nào đi nữa. Trong khi đó, những người đă thỉnh chúng tôi quay lại thị trấn vẫn cứ tiếp tục có vẻ như muốn quản thúc tôi, làm ngược lại mọi ư muốn của tôi, kể cả cái ư muốn lắng nghe tất cả những ǵ nghịch ư mà họ mang lại. Tôi thấy như ở bất cứ nơi nào cũng đếu có những đồng sự của họ và họ vẫn ĺ lợm không thay đổi cách cư xử đối với chúng tôi.

Phải nói rằng tôi đă có một bài học từ Sichang, ḥn đảo Voi Thiêng. Bản thân Đức Phật cũng giống như một con voi. Con voi ở đây chính là biểu tượng cho một đại nguyện bất thối hướng vế cứu cánh giải thoát. Đó cũng là cái h́nh ảnh biểu tượng về lư tưởng sống của một vị tỳ kheo tŕ hạnh đầu đà, một nếp sống được xây dựng bằng những nghị lực chịu đựng –im lặng và cô đơn thử nghiệm chính ḿnh ở những góc trời hoang dă, quạnh hiu. Càng được đi xa, tôi càng thấy hạnh phúc v́ ở những bến bờ trôi dạt đó, tôi được cái quyền sống cô đơn và độc lập. Nói một cách thơ mộng nhất, hễ nhắc đến lư tưởng và cuộc đời của một hành giả Đầu Đà th́ tự nhên tôi cứ nghĩ đến một người quản tượng đang treo lên lưng con Voi Thiêng. Và trong tưởng tượng của tôi, anh quản trượng đó không phải chỉ là một gă nài voi b́nh thường, mà ngược lại anh ta là một người quản trượng có một sức mạnh thiền định như ư, nội tâm của anh là một con voi và anh có thể điều phục nó bất cứ lúc nào.

Điều khỏi phải nói là đời sống của một tỳ kheo luôn có điều kiện để tu học một cách nghiêm túc và nếu muốn cũng có thể sống một ḿnh, nhưng xét trên quan điểm đời sống mà nói th́ không có ai có thể cắt đứt hoàn toàn mọi quan hệ xă hội. Đời sống là một đơn tử không thể tồn tại mà thiếu sự tương quan. Cho dầu nếp sống mà Đức Phật đă qui định cho một tỳ kheo luôn nhắm đến cái khả năng tự tại nhưng phải nói rằng tôi đă học hỏi được rất nhiều qua những thử thách trong đời sống tập thể: tăng chúng luôn vạch ra cho tôi những con đường để tôi có thể biết ḿnh sẽ đi về đâu.

Tôi rời pḥng ḿnh và đi t́m đại đức Gavesako. Đại đức đang đọc một tờ báo. Đại đức đọc một ḍng trong đó cho tôi nghe “ Mỗi phút trên thế giới có tới bốn đứa bé ra đời”. “ Chứ phải thiên hạ đều biết tu thiền cả th́ hay biết mấy”. Tôi nhận xét.

Đời tu có nhiều cái để nói lắm. Có nhiều lúc chúng ta cần phải cần đến một nếp sống khép ḿnh, đôi lúc chúng ta phải biết sống cô đơn và cũng có đôi lúc chúng ta phải cần đến một bài hát Giáng Sinh!

 

SỐNG TỈNH THỨC

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại Đức Munido (Keith Morgan) sinh năm 1951, gia đ́nh sống tại Missinswille Tân Tây Lan ( North Island). Người trong nhà đại đức hầu hết là mục sư Tin Lành.

Đại đức bắt đầu biết đến đạo Phật từ những ngày tháng c̣n học Tâm Lư Học ở đại học Aikato. Năm 1972 khi sang Úc Châu, đại đức đă gặp các vị tỳ kheo người Thái ở xứ này. Sau đó, trong thời gian ở New South Wales, đại đức đă tham dự một thiền khóa dưới sự hướng dẫn của Ngài Ajahn Khantipàlo.

Năm 1973 đại đức rời Châu Úc sang Indonesia để rồi từ đó t́m sang Nhật Bản theo đuổi pháp môn thiền Zen theo truyền thồng thiền tông của quốc gia này. Thế rồi đại đức lại đi qua Bangkok để dạy Anh ngữ và t́nh cờ gặp được Ngài Ajahn Sumedho cùng các vị sư người Tây Phương tại chùa Bovornives. Chính tại đây đại đức đă quyết định xuất gia sa di rồi sau đó thọ giời tỳ kheo với Ḥa thượng Phra Somdet Nànasamvara. Lúc này là năm 1974 và ngay mùa an cư đầu tiên đại đức đă đến nhập hạ với Ngài Ajahn Thate ở chùa Hin Mark Peng gần biến giới Ai Lao.

Sau một cơn trọng bệnh phải nhập viện ở Bangkok, đại đức đă gặp Ngài Ajahn Sumedho rồi theo vị này về chùa Pap Pong rồi xuất gia với thiền sư Ajahn Chah (năm 1975).

Năm 1979, v́ t́nh trạng sức khỏe không được tốt, đại đức đă trở về Tân Tây Lan dưỡng bệnh trong sáu tháng. Lúc này ở cả Auskland và Wellington đều có chưtăng cư trú với những cơ sở vững vàng.

Năm 1980 , đại đức lại đi sang Anh Quốc đế nhập chúng tại Chithurst. Ba năm sau đại đức được cứ đến Devon , miền Tây Nam nước Anh để xây dựng một ngôi chùa. Hiện nay đại đức đang sống tại Chithurst và giúp thượng tọa trụ tŕ giáo dục các vị tân sư.

Bài viết sau đây là một thời pháp đêm của đại đức Munindo tại trung tâm Phật Giáo Dhammaloka ở Perth trong dịp viếng thăm chùa Bodhinàna ở miền Tây nước Úc.

Sống Tỉnh Thức

Tôi vô cùng sung sướng được gặp lại đại đức Ajahn Jagaro sau tám năm trời không gặp nhau. Chúng tôi đă cùng trao đổi về sự phát triển ở các thiền viện cùng những hoạt động Phật sự khác ở các cơ sở mà ḿnh chịu trách nhiệm. Chúng tôi hàn huyên với nhau mà chủ yếu cũng vẫn là để t́m ra những đường hướng hoạt động Phật sự sao cho ngày càng tốt hơn.

Điều thú vị nhất của chúng tôi là đă thấy được những thành quả mà ḿnh đạt được trong ngay chính cuộc tu. Tôi c̣n nhớ rơ, trong lễ thọ giới Sadi tại Thái Lan ngày xưa, tôi thật t́nh đă không mấy thích thú với cái nghi thức thọ tŕ quy giới bằng cách phải đọc theo thầy Ḥa thượng từng điều một. Tuy vậy, một cảm giác ǵ đó thật kỳ lạ đă âm thầm xuất hiện trong ḷng tôi, để tôi cứ tin chắc rằng ḿnh đă t́m được một chổ trao gởi đúng đắn.

Thiện cảm của tôi với Phật giáo đă bắt đầu từ một cuốn sách đọc được ở trường đại học. Phải nói rằng tư tưởng Phật giáo đă chinh phục tôi ngay từ sau giây phút đó một cách trọn vẹn, cứ như là một định phận. Tôi đă t́m thấy ở quyển sách Phật đó một niềm vui hết sức kỳ lạ, thứ cảm giác của một người vừa khám phá ra điều ǵ đó mà ḿnh không ngờ trước được. Về điều này có lẽ không chỉ riêng tôi mà đối với ai cũng thế.

Nhưng cái điều trớ trêu là thực tế luôn khó khăn hơn lư thuyết, Đức Phật dạy ta nh́n thấu bản chất của đời sống, áp dụng trí tuệ thấu thị vào đời sống, phát triển khả năng tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh của đời sống và chúng ta cũng có vẻ như sẵn sàng làm đúng lời Ngài dạy, chỉ khổ nỗi, cái khả năng tỉnh thức của chúng ta th́ lại không đủ để làm được cái ǵ cả. Đức Phật dạy chúng ta hăy có một cái nh́n như thật về đời sống để đời sống không c̣n là những vấn đề cực ḷng cho mọi người nữa. Đối với Đức Phật, chuyện đời chẳng là vấn đề ǵ hết bởi Ngài luôn có thể nh́n thấy tất cả. C̣n đối với chúng ta, chúng ta không được như Đức Phật nên dầu cuộc đời có ra sao đi nữa, nó vẫn cứ là cái đày ải chúng ta. Điều này không phải nằm ở cuộc đời, mà chính là ở ngay trong cách nh́n của chúng ta về cuộc đời. Thái độ phản tỉnh trước đời sống luôn hết sức quan trọng. Mỗi khi tôi gặp phải chuyện rắc rối, tôi vẫn thường tự cứu ḿnh bằng những suy nghĩ: Con đường của Đức Phật là một đạo lộ tự tại, thế tại sao con đường của ḿnh lại có quá nhiều rắc rối. Ở đây ,ḿnh có hai con đường để tự chọn. Con đường của bản thân và con đường của Đức Phật. Thế nhưng tại sao lại không chọn lấy con đường của Ngài để bỏ đi con đường nhiêu khê của ḿnh.

Có thể nói con đường tu học được bắt đầu từ cái cảm giác khao khát chân lư. Muốn tu học, chúng ta phải nhận ra được cái giá trị và tính cần thiết của mọi sự hiểu biết về chân lư. Chúng ta phải lập tức thực hiện ngay từ bây giờ những ǵ là thật sự cần thiết chứ không thể ngồi đó mà đợi chờ cho đến khi ḿnh tắt thở, cho đến khi ḿnh thỏa măn được cái thứ kiến thức lư tính.

Đôi lúc trong đời sống, chúng ta vẫn tthỉnh thoảng thích đối diện với những khó khăn để khẳng định chính ḿnh nhưng rồi chúng ta lại không thể vượt qua nổi chúng. Tất cả vấn đề thực ra nằm ngay ở khả năng mà chúng ta có được. Chẳng hạn chúng ta tự ḿnh đă có được cái khả năng tỉnh thức và muốn áp dụng nó trong đời sống. Nhưng cái yêu cầu ở đây không phải là chúng ta chỉ sự dụng tỉnh thức trong đời sống thường nhật như một phương tiện hành đạo, mà chúng ta c̣n phải nghĩ đến việc hàm dưỡng nó nữa: Từ những động tác đứng ngồi, chúng ta phải luôn dàn xếp và ổn định nội tâm của chính ḿnh nữa.

Trong những ngày đầu tiên mới đến Chithurst ,chúng tôi đă phải đối diện với biết bao khó khăn. Trước mắt chúng tôi lúc đó là một cánh rừng rộng một trăm hai mươi mẫu vừa được cúng dường. Ở đó có một cái hồ nước và một ngôi nhà đổ nát. Với hai bàn tay trắng, chúng tôi đă vô cùng bối rối trước lời đề nghị của các giới chức địa phương rằng: “ Phải biết sửa sang trước khi sử dụng và không được đốt phá thay đổi ǵ hết”. Thế rồi công việc vừa ổn định xong th́ chính quyền địa phương lại lên tiếng không đồng ư cách xứ lư của chúng tôi trong khu rừng đó. Thế nhưng cũng từ trở lực này mà chúng tôi đă có được một khu rừng thật đẹp ở West Sussex với một tăng pḥng thật lư tưởng.

Điều may mắn là về cách làm việc, chúng tôi đă học được kinh nghiệm từ lần trước. Nhưng điều này cũng có nghĩa là chúng tôi phải mất hàng tháng trời để chờ kết quả. Chúng tôi đă cố hết sức nhưng mọi sự vẫn cứ có vẻ bấp bênh, mong manh. Mỗi lần nghĩ về những người có liên quan đến công tŕnh th́ chúng tôi lại bực ḿnh. Chúng tôi đă trải qua từng ngày tháng bồn chồn, khẩn trương như những chiến sĩ thành troie. Pháp môn thiền định trong thời điểm này quả là vô cùng cần thiết và hơn bất cứ ai hết, đại đức Ajahn Sumedho được xem như là người gương mẫu nhất cho chúng tôi trong thái độ sống này. Chúng tôi đă phải nhờ đến sự trợ lực của một khả năng nội tâm tỉnh thức và điềm tĩnh để có thể đi qua được cái thời điểm đầy chướng duyên này. Mà hành trang th́ có ǵ đâu, nói cho cùng th́ chỉ là cái khả năng can đảm chịu đựng thông qua sự tỉnh thức thường trực. Phải nhận rằng sự bất an, lo lắng là một cảm giác như vậy, chúng tôi dĩ nhiên chỉ việc t́m đến cha mẹ. Rồi khi lớn lên, gặp lúc bắt buộc đối mặt với chuyện đời, chúng tôi phải học cách tồn tại bằng chính những kiến thức của ḿnh về tất cả sự thật của đời sống. Như vậy là chúng tôi đă thật sự trưởng thành bởi nếu không, th́ chúng tôi phải nhờ cậy đến biết bao thứ có thể thay thế cho gia đ́nh như đi t́m một người cộng sự, những danh phận hay tiền bạc mà ḿnh có được, một niềm tin tôn giáo hay sự chỉ đạo của một hệ thống triết học nào đó…

Trong khi đó đ̣i hỏi cao nhất trong cuộc tu của chúng tôi phải là một khả năng cảm nhận trọn vẹn và chính chắn về mọi trở lực của đời sống để thấy chúng là chúng. Có điều là quí vị cũng đừng quên rằng cái khả năng điều chế nội tâm vô cùng quan trọng.Thiếu nó, ta không thể có được những cảm nhận như thật. Trong những ngày đầu ở Chithurst, khi phải bù đầu với hàng chục bận rộn, chúng tôi vẫn cố gắng thực tập bài học này để ghi nhận cái cảm giác bất an là bất an nhưng phải nh́n nhận rằng tất cả công phu của chúng tôi lúc đó chỉ là một thứ cố gắng khiên cưỡng với đủ thứ áp lực đè nặng lên trên.

Phật giáo đă nhận định rơ ràng hai thái độ tư tưởng cực đoan được xem là hoàn toàn sai lầm. Đó chính là thái độ mù quán tin tưởng hết mọi thứ hoặc điên cuồng phủ nhận tất cả. Con đường dẫn đến chân lư phải là thái độ trung dung, hài ḥa và khách quan đánh giá mọi sự theo đúng bản chất của chúng. Mà để thực hiện điều này, trước tiên chúng ta phải làm chủ được nội tâm ḿnh để không bị tác động một cách tiêu cực trong tất cả những ǵ ḿnh cảm nghiệm được bởi hăy nhớ rằng đó chính là một thái độ thua cuộc. Mà trong đời sống, chúng ta thường rất dễ bị rơi vào t́nh trạng này khi mọi sự đă được chúng ta áp đặt lên nó một khái niệm về cái Tôi rồi chẳng may chúng lại đổ vỡ, không được thành tựu như ta đă trù tính. Hồi c̣n ở Thái Lan, sau khi đă xuất gia được bốn năm ngay trong chính cuộc tu của ḿnh. Lúc đó c̣n ở ngoài đời, tôi đă từng bị một tai nạn xe cộ, nên suốt mấy năm sau đó, tư thế thiền đối với tôi là cả một cực h́nh. Hai đầu gối của tôi cứ vồng lên mà không thểnào chạm được tới cái tọa cụ. Các bác sĩ ở Bangkok bảo rằng xương chân của tôi có tí vấn đề nhưng khổ nổi là không thể làm phẩu thuật hay một liệu pháp lâm sang nào cả. Họ bảo tôi phải đi khám biệnh đôi ba tuần lễ để thăm ḍ kết quả nhưng rồi sau hai tháng trời với ba lần phẫu thuật, tôi vẫn đi lại một cách khó khăn. Quang tôi lúc đó là đủ thứ bông, băng rồi nhiều y cụ khác. Đă vậy thời tiết lại đang bắt đầu vào mùa đông.Lúc đó tôi buồn lắm, tôi nghĩ cuộc đời xuất gia của ḿnh thế là coi như đă hết, bởi đâu có một vị sư nào mà không thể ngồi xếp bằng được đâu. Từ đó, cứ mỗi lần thấy ai ngồi xếp bằng th́ tôi lại cảm thấy khó chịu. Tôi tự thấy t́nh trạng của ḿnh thật đáng sợ và đầu óc tôi cứ quay cuồng với những suy nghĩ: “ Ḿnh không c̣n có thể ngồi xếp bằng như người ta được nữa rồi, các bác sĩ đă thật sự bó tay, luật nghi của hàng xuất gia làm sao có thể chấp nhận được một người như ḿnh”. Tôi đă thực sự đau đớn, đau đớn từ thể xác đến tinh thần, Tôi đă sống trong một t́nh cảnh hết sức bi đát.

Thế rồi tôi được nghe tin thiền sư Ajahn Chah vừa từ trên rừng xuống thăm Bangkok. Tôi bất chợt có suy nghĩ kỳ lạ rằng nếu tôi đến gặp Ngài th́ rất có thể Ngài sẽ giúp đỡ được cho tôi. H́nh ảnh về Ngài đă sừng sững trong tôi như một thần tượng. Rồi tôi lại đến viếng Ngài như đă dự tính. Ngài nh́n tôi rồi hỏi thăm sức khỏe. Tôi thưa lại với Ngài Hết mọi chuyện. Thế rồi với một nét mặt ngạc nhiên, Ngài nói với tôi bằng một giọng nói thật cứng rắn: “ Sư nghĩ rằng ḿnh không thể tiếp tục tu tập trong t́nh trạng này phải không? Nếu bây giờ sư đă nghĩ vậy th́ có lẽ suốt đời sư cũng sẽ không bao giờ tu tập được ǵ đâu”.

Phải nói rằng khi vừa nghe xong câu nói này, ngay trong ḷng tôi lúc đó như có một sự hoán chuyển mănh liệt. Tôi không thể nào diễn tả được cảm giác đó, Rơ ràng là Ngài Ajahn Chah trong câu nói khi năy đă kín đáo cảnh báo tôi một điều vô cùng quan trọng là tôi đă tự tạo ra cho ḿnh một chuyện rắc rối để cực ḷng. Theo cách nói của Ngài th́ tất cả nỗi đau thật ra chẳng là ǵ hết. Vấn đề là thái độ chối từ của tôi đối với những đau khổ cũng như cách xử lư vấn đề của tôi mà thôi. Điều này không chỉ là câu lư thuyết suông.Khi  có ai đó nhắc nhở cho bạn biết phản tỉnh những ǵ ḿnh đă làm th́ chắc chắn ai cũng có cái cảm giác như tôi lúc này thôi, cho dù lúc đó có thể chúng ta cũng đồng thời cảm nhận một cú sốc.

Thái độ buông bỏ cũng là một chức năng của đời sống tỉnh thức để giúp ta giải quyết những rắc rồi cuộc đời. Với một khả năng tỉnh thức đúng mức, những đau khổ trong đời sống sẽ trở thành một bài học trí tuệ cho chúng ta. Khi biết sống tỉnh thức và chánh niệm với một thái độ nghiêm cẩn, chúng ta có thể chịu đựng được mọi cảm nghiệm chua chát, đồng thời cũng thấu suốt được biết bao vấn đề của đời sống c̣n nh́n ngắm lại từng sinh hoạt của ḿnh cùng cái thế giới cảm quan thường nhất bằng một khả năng thông minh tự do, chúng ta sẽ không có thái độ chối từ một cách yếu hèn bất cứ cảm giác nào và chúng ta lúc này đă thành ra một người học tṛ xuất sắc giữa đường đời mênh mông.

Nếu khả năng cảm nhận của chúng ta bị giới hạn , nội tâm bị khép kín th́ điều tất nhiên là trí tuệ cũng không được khơi nguồn, Hoặc nếu chúng ta có thái độ hồi tưởng về những cái cay đắng cuộc đời mà ḿnh đă may mắn vượt qua, với tâm trạng của một người vừa thoát nạn th́ xem ra chúng ta vẫn chưa học hỏi được ǵ về cuộc đời, chưa tu tập đúng mức cái khả năng tỉnh thức của chính ḿnh. Tinh thần vô úy trước những đau khổ của đời sống luôn đặt cơ sở trên khả năng tỉnh thức. Trong cuộc tu của ḿnh, chúng ta phải từng ngày và suốt đời trau luyện khả năng tỉnh thức để quân b́nh nội tâm và dàn xếp tất cả những phúc loạn của nó.

Một khi đă có cái thói quen quan trọng hóa những cảm nghiệm nghịch lư, những câu chuyện đời bất trắc th́ đối với những chuyện vui, chúng ta đôi khi cũng có thể bị cực ḷng . Lần đó, ở Tân Tây Lan, tôi đă đến thăm một người bạn thân vốn là một vị sư đă từng sống chung với tôi ở Anh quốc.Vị này bây giờ là một bác sĩ ở Chithurst.Anh bạn của tôi đă từng sống qua một thời gian dài trên những dăy núi tuyệt đẹp ở South Island. Theo lời mời của anh, hai chúng tôi đă bỏ ra ít hôm đi chơi trên núi Alps. Tôi chưa từng sống trên núi bao giờ cả, vậy mà bây giờ lại cảm thấy vô cùng thích thú khi được rong chơi ở miền núi non này trong những ngày thật đẹp trời, khí hậu thật tốt và đặc biệt là đi bên cạnh một người bạn thân. Ngoài những giờ phút ngoạn cảnh, chúng tôi c̣n dành ra nhiều thời gian để đàm đạo rồi ngồi thiền hết sức thú vị. Trong những ngày chơi núi đó, có một buổi sáng đầy ấn tượng mà cho tới bây giờ tôi vẫn c̣n nhớ hoài.Hôm đó, trời c̣n rất sớm, chúng tôi đă rời khỏi túp lều dă chiến mà mấy hôm nay vẫn ở đó để ngủ qua đêm. Chúng tôi lần xuống một ḍng suối đầy những đá. Những tia nắng mặt trời lấp lánh trên các đỉnh núi phủ tuyết. Quang cảnh đẹp quá. Tôi uống từng ngụm nước suối, hít thở cái không khí trong lành chung quanh và gần như đắm ḿnh một cách vô thức trong bầu không khí huyền hoặc đó. Thế rồi một cảm giác là lạ bắt đầu len lỏi qua tâm hồn tôi, một thứ cảm giác khó gọi tên chợt xuất hiện, Tôi lại lặng lẽ và len lén theo dơi nó…bất chợt tôi có một ước muốn là làm sao có thể giữ lại được nó trong ḷng ḿnh măi măi. Rồi tư tưởng tôi lại đi xa hơn nữa, tôi nghĩ đến ngày ḿnh trở lại Anh quốc mà vẫn mang theo được cái cảm giác hạnh phúc này.

Như vậy, một chút lưu luyến, nuối tiếc đối với những niềm hạnh phúc cũng vẫn có thể là một vấn đề nhức nhối khi chúng ta thiếu mất ngay tự nội tâm ḿnh cái khả năng nh́n ngắm trung thực và thực tế. Như vậy là chúng ta đă tự mắc phải một sai lầm, và đă sống trong những ảo tưởng. Cái nguy hiểm của niềm hạnh phúc là khiến chúng ta cứ lo sợ phải đánh mất nó và từ đây chúng ta lại nẩy sinh ra cái hoang tưởng là măi măi giữ nó trong tay ḿnh. C̣n đối với những đau khổ, cứ mỗi lần nhớ lại hoặc đang trực diện với chúng th́ ta lại nghĩ đến việc trốn chạy, Đây cũng là lư do tại sao trong bất cứ sự tan vỡ nào cũng có sự đau khổ. Ngay cả cái chết cũng là một trường hợp tan vỡ. Điều đáng tiếc là thay v́ nh́n thẳng vào sự đau khổ, người ta thường có thói quen nhớ về nó bằng sự tức tưởi rồi cứ nuôi một ảo vọng sửa đổi được nó. Đây chính là một thái độ sống chối bỏ sự thật.

Trong kinh Pháp Cú có một câu kệ thật tuyệt vời:

-Cứ cho cái giả là thật và ngộ nhận cái thật là cái giả th́ người ta vẫn tiếp tục sống trong cái giả. Chỉ khi nào thấy được cái thật là cái thật và cái giả là cái giả th́ người hiền trí mới đạt được cái thật.

Để có thể xác định được một cách chính xác cái ǵ đó là thật hay giả, chúng ta nhất thiết phải tự có cho ḿnh một khả năng tỉnh thức thật sự. Chúng ta phải cần đến một trí tuệ phơi mở để có thể từ đó đón nhận được những tặng vật của cả sự sống và cái chết một cách rốt ráo, hết ḿnh.

Thái độ “ hết ḿnh” ở đây có nghĩa là sự cảm nhận đầy đủ và không phân biệt.Chúng ta không thể chỉ đơn giản tùy thích cảm nhận những ǵ ḿnh muốn rồi chối bỏ những ǵ ḿnh ghét. Con đường tu học mà Đức Phật đề nghị ở chúng ta chính là thái độ chuyên tâm một cách khách quan trong từng nhận thức của ḿnh về đời sống. Thái độ này sẽ đem lại cho chúng ta một khả năng bén nhạy cần thiết, một tŕnh độ trí tuệ thật sự độc lập và tự do.

Tŕnh độ tu học này là một phần thưởng cao quư cho người t́m đạo giải thoát. Đức Phật đă gọi giáo pháp của Ngài là một hệ thống giáo lư thiện thuyết ( Svàkkhàtadhamma). Đức Phật luôn dạy chúng ta hăy thực hiện những ǵ ḿnh cảm thấy là cần thiết. Trong cuộc tu, chúng ta không thể hành động với tinh thần cầu may. Ở đây chúng ta có tất cả những pháp môn đào luyện thân khẩu ư một cách rơ ràng. Pháp môn tu hành của chúng ta bao gồm những học giới về sinh hoạt và những thiền án để làm thăng hoa tâm linh. Pháp môn thiền định dạy ta biết sống trung thực với từng giây phút hiện tại.Tất cả những khó khăn trở lực mà chúng ta gặp phải trên đường tu của ḿnh rồi cũng sẽ ổn thôi nếu chúng ta biết khéo ứng dụng các pháp môn đối trừ. Bên cạnh chúng ta luôn có những người bạn tốt, những pháp lữ trong giáo hội tăng già, những người vẫn thường có thể cùng chúng ta san sẻ nhiều thứ. Đại khái chúng ta luôn có thể thực hiện tất cả những ǵ mà Đức Phật vẫn mong mỏi ở những người đệ tử.

Sự thật về đời sống luôn là một điều hết sức thú vị và kỳ diệu. Nó đ̣i hỏi chúng ta phải hiểu rằng đời sống là cái ǵ đó cần được nhận thức chứ không phải chỉ đơn giản là một định phận buồn tẻ để chúng ta âm thầm chấp nhận vô điều kiện cho đến khi tắt thở. Bản chất của đời sống là cái cần được nh́n thấy và hiểu biết. Có đi qua được giai đoạn tự chuyển hóa bản thân, chúng ta mới thấy rằng ḿnh đă bắt đầu vượt qua được cái bản năng sống lệ thuộc vào những cảm giác buốn vui, đau khổ hay hạnh phúc. Rồi chúng ta vẫn phải tiếp tục để nâng cao tầm nh́n của ḿnh, để thấy rằng trước giờ ḿnh thật ra chưa hề nh́n thấy được bản thân. Chúng ta nhất định phải có được một nhăn quan mới mẻ về mọi sự trên đời. Hai chữ Chân Lư trong chúng ta bây giờ không cần thiết ḍ dẫm, lần ṃ để xác định nó nữa. Chúng ta chỉ đơn giản dấn thân, nhập cuộc và lên đường với nó mà thôi.

Tất cả nổ lực trong cuộc tu của chúng ta chỉ nhắm vào mục địch t́m ra bản chất của đời sống. Và chính chúng cũng giúp cho ta có được những sinh phong tuyệt vời. Sự nóng giận trước đây, bây giờ trở thành sự năng động và cứ thế, những chướng ngại tinh thần khác như ḷng tham, đố kỵ, khoái cảm, đau buồn đều cùng lúc trở thành những nhân tố cho cái Tri Kiến Như Thật của chúng ta. Đến lúc này th́ chữ Pháp (Dhamma) trong lời nguyện quy y đă có một ư nghĩa là một trong ba ngôi báu, mà c̣n chỉ cho tất cả những ǵ hiện hữu!

Như những ǵ vừa nói trên đây th́ phải chăng sự đón nhận trọn vẹn bản chất của mọi hiện hữu là một thái độ cam tâm tiêu cực trong đời sống?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể nói rằng nếu trí tuệ Thiền Quán mang một tinh thần tiêu cực như vậy th́ rơ ràng là chúng ta chẳng c̣n ǵ để thực hiện thêm nữa trong đời sống tinh thần. Ngược lại với nhận xét đó, trí tuệ Thiền Quán là một phép sống vô cùng năng động bởi nó luôn mang ư nghĩa trưởng dưỡng tất cả khả năng của chúng ta trong việc đối diện với bất cứ t́nh trạng hiện hữu nào mà ḿnh đang sống qua, một cách sinh tử và chuyên nhất. Trong sinh phong này hoàn toàn không có ǵ mang tính tiêu cực hay bị động, mà ngược lại, đây chính là một nếp sống vô cùng tích cực và năng động. Nếp sống thấu suốt đó là một con đường tối ưu để hành giả ghi nhận được trọn vẹn từng t́nh huống thực tại. Ta có thể mượn lời của Lăo Tử trong Đạo Đức Kinh để giải thích, diễn tả nếp sống này là “ Vô vi nhi hữu vi, hữu vi nhi vô vi-Làm mà như không làm ǵ cả, không làm ǵ cả nhưng thật ra đă làm rất nhiều”. Nói vậy có nghĩa là bất cứ một cử động lớn nhỏ nào của chúng ta, dầu đối với những công việc nhỏ nhặt nhất, cũng đều được thực hiện một cách tỉnh thức và sáng suốt, dù xem ra về h́nh thức th́ lại có vẻ ngớ ngẩn hay vô tâm. Đây mói chính là phương tiện tối ưu để dẫn đến một thành quả thật sự nhiều  ư nghĩa. Mọi cảm nghiệm của chúng ta ngay lúc này được kết hợp thông suốt với một khả năng trí tuệ chính chắn. Ở tŕnh độ này chúng ta chỉ có thể nói hoặc làm những ǵ thật sự là cần thiết. Nếu không thấy có ǵ cần thiết th́ chúng ta đừng làm ǵ cả. Dĩ nhiên, nếu c̣n là phàm phu, chúng ta cũng vẫn thường xuyên mắc phải những sai lầm, nhưng chỉ cần kịp thời phát hiện được th́ ta vẫn có thể sửa chữa bằng cách không thể tiếp tục để ḿnh bị cuốn hút hay bị tác động bởi chúng nữa và chỉ việc cảm nhận chúng một cách như thật. Đây chính là tâm điểm của pháp môn Thiền Quán.

 

ÁNH ĐUỐC PHẬT ĐÀ

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại Đức Puriso ( Bruce Evand)sanh năm 1951 tại Melbourne, nước Úc. Lúc trẻ, đại đức đă từng có duyên với nhạc nghệ và cũng đă thực hiện được một cuốn băng. Bị hấp dẫn trước một thiền sư Nhật Bản ở New Perth, đại đức đă quyết định sang Nhật để Thiền. Trong chuyến đi này, đại đức có ghé ngang Bangkok và gặp được các vị tỳ kheo người Tây Phương. Nhưng tâm hồn văn nghệ cũng như thói quen nghề nghiệp đă khiến đại đức tuy có cảm t́nh nhưng vẫn cứ chùng bước trước giáo lư Nam Tông, bởi theo giới luật truyền thống th́ một nhà sư không được chơi nhạc. Đổi lại, đại đức đă quyết định tham dự một thiền khóa Tứ Niệm Xứ ở Nong Khai. Trong những ngày tu thiền này, cây đàn Guitar của đại đức mang theo đă bị đánh cắp. Sự kiện này đă khiến đại đức bỏ ư định sang Nhật và cố gắng t́m cách thích nghi với đời sống ở Thái Lan để có thể tiếp tục ở lại đây.

Được nghe kể về thiền sư Ajahn Chah, đại đức đă đến viếng chùa Pah Pong rồi thọ giới tỳ kheo với Ngài ( năm 1975). Năm 1982, đại đức đă cùng với Ngài Jagaro trở về Úc để xây dựng một ngôi chùa ở Perth. Sau đó đại đức trở về Thái. Hiện này đại đức đang trụ tŕ tại chùa Wana Bodhinyan ( c̣n gọi là chùa Keurn), gần chùa Pah Pong, miền đất giáp với biên giới Lào-Campuchia. Đại đức hiện cũng đang hoạt động để phục hồi các khu rừng đang bị tàn phá tại đây. Công tŕnh này của đại đức đă được thông tin rộng răi trên các đài truyền h́nh Thái Lan.

Bài viết dưới đây được dịch lại từ một thời pháp bằng tiếng Thái của đại đức Puriso vào mùa an cư năm 1987 vào một đêm thiền định tập thể vẫn được tổ chức hàng tháng vào hai ngày Bồ tát cho Tăng Ni và Phật Tử tại các thiền viện ở miền Đông Bắc Thái Lan. Nội dung của bài viết chỉ gồm trong một câu thôi: “ Khi ta mang ánh sáng vào chỗ tối th́ bóng tối sẽ biến mất. Và ta chỉ cần biết vậy thôi, không cần t́m hiểu xem cái bóng tối kia đă tồn tại ở đó bao lâu rồi”.

Ánh Đuốc Phật Đà

Hôm nay, tất cả quí vị đă bỏ nhà để đến chùa góp mặt trong pháp hội này, phải nói đây là một cơ hội thật tốt để chúng ta tạm thời gác qua hết những chuyện đời và quay về sống phản tỉnh đối với bản thân. Nhưng tôi chỉ mới nói rằng quư vị đang có một cơ hội tốt, c̣n quư vị th́ sao? Quư vị có ư thức được ḿnh đang ở đâu và làm ǵ hay không? Đi vào chùa để văn cảnh hay để tu học? Nếu để tu học th́ quư vị đă bắt đầu chưa? Các vị hăy luôn nhớ rằng, một khi đă chấp nhận con đường tu học th́ chúng ta nhất định phải cố gắng ra sao đó đề tự khẳng định chính ḿnh. Chúng ta không thể tu học như một h́nh thức chiếu lệ mà ngược lại phải luôn nh́n về phía trước  để nhắm tới những tiến bộ. Chúng ta phải biết tu học một cách có lư tưởng, áp dụng Phật Pháp vào ngay chính đời sống của ḿnh để từng sinh hoạt của bản thân được thực hiện dưới ánh sáng Phật pháp.

Ở đây, tôi có thể lấy ví dụ về trường hợp chúng ta đang là người trau dồi chánh niệm. Mỗi người hăy tự xét lại chính ḿnh thử xem, trong một ngày chúng ta có được bao nhiêu giây phút sống trong chánh niệm , tỉnh giác? Chúng ta hăy học phép trau dồi chánh niệm bằng những giờ thiền định. Trước hết, ta có thể tập trung sự chú ư của ḿnh vào từng hơi thở, trong đôi ba phút thôi, trước khi ḿnh bị phóng tâm. Rồi nếu như thời gian đôi ba phút đó là quá dài th́ chúng ta vẫn có thể ngồi yên lại đó cho thời gian trôi qua cũng được.

Đối với một hành giả, ngồi yên trong một ư thức rơ ràng cũng đă là thiền định, Khi đă giữ vững được tư thế ngồi rồi th́ chúng ta sẽ lại bắt đầu hít vào, thở ra bằng một sự ghi nhớ cẩn thận. Chỉ chừng đó thôi cũng đă là một phương thức phát triển khả năng chánh niệm và một khi khả năng này được thuần phục th́ coi như chúng ta đă tự khẳng định được khả năng tu học của ḿnh mà ở đây là khả năng chánh niệm.

Trong rừng thiền này, mọi điều kiện vật chất đều quá hạn chế, Ở đây chỉ có một pḥng vệ sinh mà thôi, Vậy th́ chúng ta phải tu học ra sao để có thể thích nghi với hoàn cảnh này? Chúng ta cũng thấy đó, những người có mặt ở đây mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Đó cũng là một trong những thực tập căn bản cho chúng ta. Trong rừng thiền luôn có người theo dơi chúng ta một cách chặt chẽ. Trong những ngày tu học tập thế này, từ buổi chiều, không ai trong số các thiền sinh đă phát nguyện không nằm, lại có thể ngă lưng. Lời nguyện đó là một quy tắc, ai cũng phát nguyện th́ dù có ra sao cũng phải tôn trọng cho dù đau nhức đến mấy đi nữa. Đây chính là khả năng tinh tấn rất cần thiết cho con đường tu học của mỗi người.

Thính giác cũng là một pháp môn có giá trị dặc biệt. Ta nghe pháp để có thêm hành trang tu học. Một người chưa từng nghe ǵ về Phật pháp th́ làm sao có thể biết được ḿnh phải tu học như thế nào. Tư tưởng của chúng ta vẫn có khuynh hướng phóng tán và bị câu thúc, mắc míu vào trăm ngàn thứ chuyện đời nhưng chính nhờ nghe được chánh pháp, chúng ta có thể đón nhận được những niềm vui kỳ diệu để dễ dàng buông xuôi hết những ǵ là rác rưởi không cần thiết. Nói vậy có nghĩa là nếu mỗi ngày chúng ta đều sống thực hành theo Phật pháp th́ bản thân của chúng ta sẽ luôn được an lạc và con đường tu hành cũng trở nên dễ dàng hơn. Trong khi đó với một đời sống tách rời Phật pháp, chúng ta chỉ thường xuyên cảm nhận những đau khổ. Có thể nói tất cả những đau khổ trên đời đều đi ra từ một sự chấp thủ và sự chấp thủ đó chính là sợi giây trói buộc được nối kết lại bằng những khái niệm về cái gọi là Tôi, Của Tôi.

Dân số trên thế giới ngày càng đông đúc và quanh ta luôn có những người cần được chia sẻ nhiều thứ. Nhưng trên thực tế đă có được bao nhiêu người đă biết sống chia sẻ, đă có bao nhiêu người được chia sẻ, ai cũng muốn sống gom thâu và nắm chặt bàn tay. Người ta xâu xé nhau để được tồn tại, để ḿnh và những người thân được an toàn. Ngoài ra, họ không c̣n biết đến ǵ nữa. Nói một cách khác, nhân loại đang bị đau khổ một cách trầm trọng. Người ta bảo là ḿnh điều hành đời sống nhưng thực ra đời sống đă điều hành trở lại họ. Tất cả những phúc loạn trên toàn cầu cũng từ đó mà ra. Thôi th́ đủ thứ: Bôi nhọ nhau, tranh căi nhau, đánh nhau bằng đủ mọi h́nh thức…Nói cho cùng, hầu hết nhân loại đă bị mù ḷa cả rồi.

Giữa cảnh đời như vậy, chúng ta phải làm ǵ cho ḿnh? Chúng ta phải biết lắng nghe chánh pháp và chuyên tâm thực hành những ǵ ḿnh học hiểu được. Chúng ta phải biết tháo bỏ đi những đôi mắt kính chủ quan, để có thể nh́n thẳng vào cuộc đời với ánh sáng của chánh pháp và đem ánh sáng ấy trở vào làm nguồn sáng cho chính nội tâm ḿnh.Khi ta mang ánh sáng vào chỗ tối, bóng tối sẽ biến mất,c̣n chuyện bóng tối đă tồn tại ở đó baolâu th́ không phải là vấn đề để ta bận tâm, bởi lúc này nó đă được giải quyết. Trong câu nói trên đây, ánh sáng có nghĩa là trí tuệ hiểu biết mọi sự theo tinh thần và đường hướng của chánh pháp. Ta vẫn nhắc đến ánh sáng Phật pháp nhưng nói một cách cụ thể đó là ǵ? Khi ta biết bỏ đi những ngộ nhận về Tôi. Của Tôi rồi nh́n thấy đúng theo bản chất của chúng th́ chính sự nh́n thấy này là nhăn quan trong ánh sáng Phật pháp.

Trong Phật giáo, chúng ta thường nghe nhắc về tám ngọn gió đời là Được, Mất, Khen, Chê, Vinh, Nhục, Hạnh Phúc, Đau Khổ. Đây là những ǵ mà con người vẫn bị chi phối. Con người gần như suốt đời cứ đi t́m những tài sản, danh vọng và dĩ nhiên không ai muốn bị chê bai hay bị mất mát một cái ǵ đó, Được cái ḿnh thích, chúng ta hạnh phúc, gặp cái ḿnh ghét th́ chúng ta đau khổ. Bên cạnh những danh lợi thông thường, c̣n có một thứ khác cũng có thể khiến người ta phải cực ḷng theo đuổi, đó chính là cái vị trí tinh thần của ḿnh trong mắt người khác. Có những người không mấy thiết tha đến chuyện gia tài sự sản, mà họ chỉ hứng thú trong cái ước mơ có được một quyền lực, sức ảnh hưởng và chi phối đối với người khác. Chẳng hạn như các chính trị gia mà ta vẫn thường thấy, họ có thể bỏ ra bao nhiêu tiền cũng không tiếc, miễn sao chiếm được một sức mạnh chính trị và một chiếc ghế nào đó trên chính trường.

Nếu nh́n kỹ vào chuyện đời, th́ chúng ta sẽ nhận ra rằng tám khía cạnh trên đây của đời sống thực ra chỉ là những ǵ được có mặt từ một Cái Tôi ảo vọng. Sự tu tập theo đúng lời Phật dạy chính là thái độ khước từ, chối bỏ Cái Tôi nghiệt ngă đó. Cố t́nh xây dựng một bản ngă thực ra là một nếp sống “ ngược đời, trái đạo”, bởi tự trong bản chất của các pháp không hề có một Cái Tôi nào cả và cuối cùng rồi, ngay trong giờ phút tắt thở chúng ta đều phải buông bỏ lại hết mọi thứ.

Tôi đă từng có dịp quan sát đời sống sinh hoạt của mấy con khỉ trong rừng. Chúng thỉnh thoảng vẫn thích chơi cái tṛ mà ta có thể tạm gọi là “ lễ tôn vương của muôn thú”. Một con khỉ trong bầy leo lên cái g̣ cao nào đó rồi nh́n xuống như một ông vua đang ngự trên ngai. Lũ khỉ c̣n lại quây quần bên dưới rồi leo trèo lên nhau và lại với tay níu kéo con khỉ đang ngồi trên kia. Thường th́ những con khỉ muốn được “làm vua” như vậy đều là những con tinh nghịch và quái quỷ nhất trong bọn. Chúng luôn muốn chứng tỏ với bầy đàn cái “ thần uy” của ḿnh. Mà thật ra th́ mỗi lần được “làm vua” như vậy, chúng đâu có được sung sướng ǵ, thậm chí c̣n cực thân hơn mấy con khỉ khác nữa. Chúng phải chống trả chật vật với cả bầy khỉ đang leo trèo lên ḿnh chúng và kéo lôi chúng xuống khỏi cái g̣ kia. Như vậy xem ra th́ mấy con khỉ không được làm vua lại c̣n sung sướng hơn nhiều bởi chúng có dịp vui đùa thỏa thích mà chẳng phải sợ mất mát cái ǵ hết.

Câu chuyện trên đây về mấy con khỉ rừng là cả một bài học cho chúng ta. Chúng ta hăy biết học cách “ tự thu nhỏ ḿnh lại”. Thái độ sống đó không hề có nghĩa là một kiểu sống tiêu cực, thua cuộc một cách thiếu thông minh. Mà ngược lại, chúng ta hăy thu nhỏ ḿnh lại bằng một tâm hồn khiêm tốn, vị tha, nhường nhịn và biết cảm thông.

Bốn giá trị tinh thần này có ư nghĩa là nâng cao chúng ta lên khỏi cái ḍng đời thác loạn. Trong khi đó gần như rất hiếm có người biết nghĩ đến các giá trị này để tự xây dựng bản thân ḿnh với một tŕnh độ trưởng thành thật sự, mà ai cũng cứ thích tự xây dựng cho ḿnh những tượng đài ảo tưởng. Đức Phật gọi đó là nếp sống đi ngược lại với tự nhiên.

Như vậy, có thể nói rằng bất cứ con đường nào có thể giúp chúng ta loại bỏ được những khái niệm về Cái Tôi và Của Tôi th́ đều là những pháp môn chín chắn, đều là con đường dẫn đến tịnh lạc. Nói vậy có nghĩa là càng buông bỏ được nhiều thứ th́ chúng ta càng được hạnh phúc và mọi sự chấp thủ, ôm ấp chỉ là con đường dẫn đến khổ đau. Cứ vậy mà nói, th́ những ai chưa từng có dịp làm quen với Phật Pháp sẽ rất khó mà chấp nhận được điều này. Bởi hầu hết chúng ta đều có khuynh hướng ôm ấp, nắm giữ. Có nhiều thứ trên đời được người ta cố thủ như thể chúng chính là bản thân của họ. Thái độ nắm bắt mù quáng đó gọi theo thuật ngữ Phật Giáo là sự chấp thủ. Trong khi đó, nếu với một tinh thần xả bỏ th́ chúng ta sẽ thấy được rằng những ǵ ḿnh có được thật ra chỉ là một thứ sở hữu mang tính tương quan hết sức đơn giản và không hề có một chất keo ràng buộc nào ở đó cả. Vạn sự luôn tồn tại bằng vào những điều kiện trợ sinh nên khi những điều kiện ấy không c̣n nữa th́ mọi sự sẽ tự biến diệt. Suy nghĩ về cuộc đời bằng cách hiểu như vậy chính là sự suy nghĩ trong ánh sáng Phật pháp. Thái độ suy nghĩ đó sẽ mang lại cho chúng ta một nếp sống tinh thần mới mẻ và b́nh yên. Chúng ta sẽ cảm nhận được từng sự rạn vỡ của ḷng chấp thủ để từ đây, nội tâm của chúng ta cũng sẽ trở nên thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Việc chúng ta t́m đến tu học trong rừng thiền này không chỉ đơn giản là một cách lánh mặt tạm thời những gia sự phiền phức, mà chúng ta phải xem đây là một “cuộc về nguồn” đối với chính đời sống của ḿnh để có thể nh́n thẳng vào mọi chuyện đời, chuyện ḷng một cách rơ ràng hơn. Cũng những công phu tu học này, nhưng nếu chỉ được thực hiện tại nhà th́ chúng ta có thể gặp phải ít nhiều khó khăn. Chỉ riêng việc tọa thiền hay kinh hành thôi cũng là một chuyện không dễ dàng. Trong khi đó, trong bối cảnh của một tu viện hay một thiền đường th́ chỉ cần một sự dốc ḷng đúng mức, ta luôn có thể được thoải mái và thanh thản. Chẳng hạn những khi ta bất chợt muốn đi kinh hành một ḿnh th́ vẫn có thể yên tâm làm theo ư ḿnh muốn một cách tự do mà không e ngại ai đó ḍm ngó ḿnh bởi trong bất cứ thiền đường nào cũng vậy, việc đi kinh hành của các thiền sinh luôn là một điều hết sức b́nh thường nếu không muốn nói đó là một trong những oai nghi cần thiết của bất cứ thiền sinh nào. Trí tuệ giác ngộ là thuộc cảnh giới nội tâm, nhưng bối cảnh thực tế để thực hiện nó th́ vô cùng quan trọng. Chẳng hạn như nếu ta đi kinh hành giữa chỗ buôn bán, phố xá th́ chắc chắn rằng thiên hạ chung quanh sẽ cho ta là người loạn trí, thậm chí họ c̣n có thể xúc phạm đến ta nữa. Như vậy, những thiền đường tự viện luôn là những trú xứ lư tưởng để chúng ta có thể sống thư giăn, thiền định, tham khảo kinh sách hoặc tĩnh dưỡng tinh thần mà không sợ bị quấy rầy bởi bất cứ cái ǵ. Việc thọ tŕ các học giới dĩ nhiên là một thứ công phu nhiều ư nghĩa bởi ít nhất đây cũng là một pháp môn rất khó thực hiện , nhất là đối với trường hợp bát quan trai giới. Chỉ cần thọ tŕ nghiêm túc tám học giới bát quan thôi, người Phật tử coi như đă có được nếp sống của một bậc xuất gia, nhất là trường hợp họ có cơ hội được lưu trú tại chùa, một không gian hết sức an lành và cách ly trọn vẹn với tất cả những tục sự đa đoan của đời sống cư sĩ. Có thể nói rằng nếu sống qua được hai mươi bốn giờ đồng hồ giữ tṛn tám học giới th́ xem như ta đă là một nhà sư trong chừng ấy thời gian. Ngược lại, việc thọ tŕ bát quan trai giới ngay tại gia đ́nh th́ phải nói rằng mọi sự sẽ không được như vậy nữa. Những ồn ào từ máy hát, ti vi, và khách khứa tới lui…đều là những trở lực bất lợi cho đời sống nội tâm của chúng ta.

Hơn thế nữa, từng giây phút có mặt trong một rừng thiền như thế này, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội thấm thía được những vấn đề hết sức thú vị, chẳng hạn như về sự đau khổ. Tinh thần và thể xác của mỗi người gần như luôn có sự tồn tại của sự đau khổ. Bổn phận của người hành giả chúng ta là thấu suốt bản chất của tất cả đau khổ. Chúng ta phải học hỏi để biết được cái ǵ đă gây tạo ra những ǵ có liên quan tới nó. Đức Phật đă từng dạy rằng đau khổ là cái cần được liễu tri nhưng hầu hết con người chúng ta đâu có mấy ai muốn nhớ tới cái khổ chứ đừng nói ǵ đến việc liễu tri hay nhận thức nó. Gặp phải sự đau khổ, thường th́ người ta chỉ nghĩ đến một việc duy nhất là trốn chạy nó mà không muốn nh́n thẳng vào nó. Những người như vậy không phải là những người Phật tử. Người Phật tử phải biết nh́n thẳng vào mọi vấn đề ngay khi chúng vừa xuất hiện để có thể t́m hiểu nhân tố nào đă gây tạo nên chúng.

Chẳng hạn như có một lần nào đó, do t́nh cờ ta làm phiền ḷng người khác rồi bị họ phản ứng, ở đây có thể là một câu nói nặng lời. Nếu chúng ta biết cách lắng nghe một cách trung thực những ǵ họ nói, chúng ta sẽ nhận ra ở đó một sự thật hết sức thú vị. Sự nổi giận của con người chỉ đơn giản là thái độ phản ứng mang tính chống trả, tự vệ và được đặt cơ sở trên ḷng sợ hăi, một nỗi sợ hăi hết sức sâu kín và tiềm ẩn trong tận đáy ḷng mỗi người. Nếu chúng ta giữ được b́nh thản để đón nhận từng lời họ nói, ta sẽ thấy được rằng họ đă nói đúng theo những ǵ họ muốn. Mọi rắc rối đến đây coi như đă tạm ổn, Ít nhất cũng là về phía chúng ta.

Trong đời sống tu học của ḿnh, càng giới hạn những “sự cố” th́ chúng ta càng được yên lành. Nếu có một sự cố nào xảy ra ngoài ư muốn, ta cũng vẫn phải can đảm đối diện với nó bằng trí tuệ Phật pháp, với tất cả những khả năng thoải mái và khách quan nhất. Nhưng để có được một cái nh́n bằng trí tuệ Phật pháp th́ không phải là chuyện dễ dàng. Bởi hăy nhớ rằng chúng ta vẫn c̣n đó quá nhiều những thói quen mang tính bản năng. Chính cái bản năng này đă khiến cho ánh sáng trí tuệ khó được thắp lên. Chúng ta đau có chịu nh́n ngắm mọi sự theo đúng bản chất của chúng mà lại thường có thói quen tô vẽ,nắn bóp chúng theo cách nghĩ bản năng cùng những giá trị mà ḿnh vẫn áp đặt lên đó.

Chúng ta phải từng bước học hỏi Phật pháp để hoàn chỉnh bản thân ḿnh cho ngày một vững vàng và độc lập hơn. Chúng ta phải học cách biến cái bản năng mù quáng thành ra cái bản lănh đầy ư thức. Phật pháp đă cho ta nhiều bài học để sửa ḿnh đó là Giới, Định, Tuệ và Định là những phương tiện tinh thần giúp ta ổn định tam nghiệp của bản thân ( thân, khẩu, ư). Nếu tam nghiệp không được huấn luyện th́ đời sống của chúng ta cũng sẽ trở nên loạn động và như vậy, ta không thể nh́n thấy được mọi sự đúng như bản chất của chúng. Nói một cách khác, là chúng ta không thể nh́n thấy các vấn đề theo đúng tinh thần ánh sáng của Phật pháp. Chúng ta cần thiết phải thọ tŕ một cách nghiêm cẩn những pháp môn tu học mà Đức Phật đă để lại cho người t́m đạo. Đó là các học giới, các hạnh Đầu Đà để tiết dục, một tấm ḷng hào sảng, một bàn tay muốn biết mở rộng để san sẻ cho tha nhân những ǵ ḿnh có. Ta có thể xem đây là những pháp môn để tu học. Những pháp môn này luôn mang lại cho ta một sức mạnh để vượt qua các trở lực trong đời sống và cuộc tu, đồng thời chúng cũng c̣n có ư nghĩa giúp ta thanh lọc nội tâm của chính ḿnh nữa.

Bảo là vượt qua các trở lực nhưng chúng ta vượt qua bằng cách nào đây? Để trả lời câu hỏi này, tôi muốn lấy ví dụ về pháp môn bố thí. Bất luận là ta đem đến biếu tặng cho người khác một thứ vật chất nào đó hoặc hy sinh cho họ đôi chút thời gian, công sức-tất cả những hy sinh đó đều là những h́nh thức bố thí và chúng cũng đều là con đường giúp ta vượt qua các trở ngại tinh thần để thanh lọc nội tâm. Ta đừng bao giờ có một tính toán chật hẹp rằng ḿnh hy sinh những thứ đó để được đi về thiên giới. Cứu cánh đó thật ra không có ǵ để được đảm bảo một cách tuyệt đối.Nếu ta bố thí mà vẫn có một đời sống hư đốn th́ đường xuống địa ngục đối với chúng ta lúc này có thể sẽ gần hơn đường lên thiên giới. Như vậy tốt nhất là chúng ta hăy sống với một tâm hồn hào sảng không toan tính và nên hiểu rộng ư nghĩa của công đức bố thí để nhắm tới mục đích tẩy rửa tâm hồn. Thực ra, chúng ta có thể nh́n thấy được kết quả của từng hành động mà ḿnh thực hiện ngay trong đời sống hiện tại,chứ đâu phải đợi đến một kiếp sống tương lai xa xôi nào đó. Nếu ta biết sống hy sinh cho người khác bằng tất cả thành ư và chân t́nh ngay trong chính giây phút thực hiện nghĩa cử hy sinh đó, ta cũng đă cảm nhận được một niềm hạnh phúc và an lành rồi. Đây chính là thành quả trước mắt của pháp môn bố thí mà ta cần phải biết thưởng thức, thái độ này xem ra c̣n hay hơn cái tư tưởng tù túng của một người bố thí mà chỉ biết ngóng đợi quả báo ở kiếp lai sinh.

Đối với việc thọ tŕ các học giới cũng vậy.Nếu chúng ta giữ tṛn các học giới bằng tất cả thành tâm, giữ giới trong một tinh thần hồn nhiên và khiêm tốn, th́ ta sẽ cảm nhận được ở nội tâm ḿnh một sức mạnh kỳ diệu lắm. Tâm hồn của chúng ta lúc đó sẽ trở nên dũng mănh và kiến cố hơn. Với một tâm thái như vậy th́ công phu thiền định nào cũng được trợ lực một cách hữu hiệu. Như vậy giới luật trong sạch cũng là một đoạn đường mà chúng ta phải đi qua trong cuộc tu của ḿnh.

Nói một cách rốt ráo th́ những điều vừa được nhắc đến trên đây chính là cái giá trị đào luyện ở các khu rừng thiền như thế này. Mỗi rừng thiền đều luôn tạo điều kiện cho ta biết cách tu học, áp dụng triệt để và hữu hiệu tất cả khả năng cải hóa của chúng ta, để ta có thể nh́n thấy được thành quả trước mắt của các nổ lực tu học. Chỉ cần ta dàn xếp được nội tâm ḿnh th́ coi như cái phần thưởng cho mọi nổ lực của chúng ta đă được bày sẵn ra đó. Như đă nói, chúng ta không nên tu học trong cái lư tưởng vọng về một thành quả xa xôi nào đó ở tương lai, bởi v́ ngay tại đây và bây giờ ta đă có thể nh́n thấy nó rồi. Tất cả các thiện sự tự chúng đă là một thành quả mà điều này có lẽ chẳng được mấy người nhận thức nổi. Thậm chí, suy nghĩ của thiên hạ có khi c̣n tệ hại hơn, có kẻ đă dem ghép chung việc đi chùa với công chuyện làm ăn của các phật tử thâm niên rồi ngây thơ và hàm hồ phủ nhận tất cả ư nghĩa tinh thần trong việc đến chùa tu học của những người mộ đạo. Phải nói rằng đây là cả một sự ngộ nhận hết sức nghiêm trọng, Bởi bất cứ giây phút nào ta thực hiện các thiện hạnh th́ cũng có nghĩa là ngay trong khoảnh khắc đó người ta đang sống trong cảnh giới của thiện hạnh. Quả báo của từng hành động lớn nhỏ cũng luôn gắn liền với nó. Nhân và Quả ở đây tương quan nhau một cách vô cùng mật thiết. Điều này không chỉ là trường hợp cá biệt đối với ác pháp hay thiện pháp. Có lắm lúc chúng ta thấy nhiều người luôn sống tội lỗi nhưng không có vẻ ǵ là bị đau khổ từ đời sống tội lỗi của họ. Rồi ta lại nông nổi cho rằng các ác nghiệp không có hậu quả. Phải nói đây là một cái nh́n vô minh.

Phật giáo vẫn dạy chúng ta rằng “ làm thiện gặp lành, làm ác gặp dữ”. Tiêu ngữ đó không phải là lư thuyết suông hay một lời rao giảng mang ư nghĩa răn đời như một giáo điều b́nh thường để kêu gọi nhân loại thay đổi nếp sống ngoài xă hội. Câu giáo lư đó thật ra có một ư nghĩa hết sức thâm trầm, sâu sắc là đưa người Phật tử đến với cái trí tuệ khám phá đời sống. Chính những hành động bất thiện đă quy định nhân cách của chúng ta. Chúng ta có là một tướng cướp, gái làm tiền, kẻ lừa đảo, tên khát máu…tất cả đều xuất phát từ từng hành động, ngôn ngữ và suy nghĩ của chúng ta. Cho nên Đức Phật đă dạy rằng “ Mỗi chúng sinh đều là chủ nhân ông tự chịu trách nhiệm về những hạnh nghiệp của ḿnh”.

Dĩ nhiên, bên cạnh cái hậu quả căn bản ngay trong hiện tại như vừa nói trên, các nghiệp thiện ác c̣n để lại những hậu quả về sau mà thời gian th́ luôn bất định, Chẳng hạn như khi ta đánh cắp của ai đó một số tài sản lớn rồi tiêu xài sung sướng trong một thời gian nào đó, cuối cùng khi sự việc bị phát hiện, tất cả những cảm giác khoái lạc có được từ hành động bất chính kia lúc này không c̣n nữa và bị thế chỗ bằng những trừng phạt thích ứng. Đó là chưa kể đến cái ác báo trong kiếp lai sinh, Có tĩnh tâm thiền định, ta sẽ thấm thía tất cả những ǵ là quy luật nhân quả trong từng hành động lớn nhỏ.

Lần đó, tại nước Úc, tôi và đại đức Jagaro đang trên đường từ phi trường Perth về Custom th́ gặp được một người đàn ông. Ông ta vừa uống xong một ít rượu nhưng điều đặc biệt là qua cung cánh chuyện tṛ th́ lại có vẻ như một nhà tư tưởng. Nh́n tấy chúng tôi, ông đă lập tức đặt ra những câu hỏi về đạo Phật. Chúng tôi đă trả lời cho ông một cách nhiệt t́nh. Khi chúng tôi đang nói, ông đột nhiên hỏi một câu:

-Có phải là các vị luôn tôn kính Đức Phật?

-Vâng điều đó dĩ nhiên rồi!

-Người ta đă kể cho tôi nghe rằng Đức Phật là một con người cao khiết luôn có một đời sống gương mẫu, chẳng hạn như sẵn sáng hy sinh bản thân cho người khác và được cả thế giới tôn kính như một bậc hiền giả vĩ đại. Nhưng cuối cùng rồi th́ Ngài cũng qua đời phải không?

-Đúng như vậy!

-Các vị có đồng ư với tôi là những kẻ tàn bạo như Hitler chẳng hạn, tàn sát biết bao người, gây khổ đau cho hàng triệu người trên thế giới rồi cuối cùng cũng chết phải không?

-Đúng như vậy!

-Vậy th́ đâu có sự khác biệt nào trong cái chung cuộc của những người đại hiền với những kẻ đại ác?

-Đúng là cuối cùng rồi th́ ai cũng phải chết cả-Tôi thong thả trả lời ông ta-Nhưng điều đó không có nghĩa là mọi sự giống nhau. Đức Phật luôn hiểu rất rơ về cái chết. cả đời của Ngài là những ngày tháng hoàn toàn tỉnh thức để thấu suốt về haitiếng Sinh tử. Trong những giây phút cuối cùng trên giường chết, Đức Phật vẫn b́nh thản và tỉnh táo, không phân vân nghi hoặc, cũng không tiếc nuối hay sợ hăi. Ngài là một người đă có được đời sống Như Thật, sống đúng với chân lư một cách hoàn thiện nhất.

C̣n Hitler hay những kẻ giống như ông ta th́ theo một cách nào đó, chẳng hiểu được ǵ về cái chết. Hitler đă sống trong sợ hăi và thác loạn. Hạng người đó coi như đă bị mù ḷa trước bóng tối của những đau khổ và tất cả những ǵ là chân lư trong đời. Đó cũng là lư do khiến Hitler mù quáng lao vào tất cả những tội ác kinh khủng nhất. Hitler sống trong khủng hoảng rồi cũng chết đi trong ngộ nhận và bóng tối. Cuộc đời của Hitler chỉ có bóng tối và lỗi lầm. Như vậy, con người luôn giống nhau ở điểm là đă trót sinh ra th́ phải có ngày nhắm mắt xuôi tay nhưng hoàn toàn khác nhau ở cách sống và cách chết. Người th́ luôn sống và chết trong sự hiểu biết, có kẻ lại chỉ có thể sống và chết mà không có nổi một nhận thức nào hết…

Câu chuyện nhỏ trên đây là cả một vấn đề vô cùng quan trọng mà tất cả những người tu Phật nhất thiết phải thấm thía nó bằng trọn vẹn khả năng của ḿnh. Chúng ta đă có hiểu ǵ về ư nghĩa của chữ “ Phật”? Phật có nghĩa là sự hiểu biết hoặc Người Hiểu Biết. Đạo phật là một hệ thống giáo lư đ̣i hỏi ở các giáo đồ cái khả năng Hiểu Biết, hiểu biết về bản chất Như Thật của vạn sự, vạn vật.

Tuệ giác của Đức Phật và chư vị Thánh đệ tử, nói cho cùng, chính là sự hiểu biết tận tường về bản thân ḿnh.Nếu muốn trở thành một người Phật tử đúng nghĩa th́ điều bắt buộc là chúng ta phải học cách nuôi lớn khả năng hiểu biết đó ở chính ḿnh. Sự hiểu biết này không hề giống như bao thứ kiến thức thế tục thông thường khác vốn chỉ là một mớ hỗn độn những dữ kiện thông tin cùng các lập trường tư tưởng chữ nghĩa. Tôi nhắc lại, sự hiểu biết cần có ở đây chỉ đơn giản là sự hiểu biết về chính bản thân ḿnh.

Trong bất cứ phút giây nào xây dựng được ở nội tâm ḿnh công phu tu tập đó th́ coi như ta đang trồng một cây Bồ đề ngay trong chính tâm hồn ḿnh. Tất cả những phiền năo trở lực rồi cũng sẽ thành ra những thứ phân bón vun xới cho cội cây Bồ Đề đó, cội cây của trí tuệ giác ngộ. Chúng ta rồi cũng có thể tận dụng các phiền năo để làm đối tượng tri nhận cho đời sống tỉnh thức. Qua từng biến dịch của từng ḍng tư tưởng ta sẽ thấy rơ được đặc tính của những tham lam, sân hận và si mê.

Chẳng hạn như khi một cơn giận dữ xảy đến, ta hăy trung thực ghi nhận sự xuất hiện của nó mà đừng bao giờ tự dối ḷng bằng một suy nghĩ khác hay một câu nói nào đó rập khuôn theo kinh điển: “đâu phải tôi đang giận dữ, cái tâm trạng đó đơn giản chỉ là một thứ rác rưới, một con mèo hoang thôi mà”. Trong những cơn giận dữ, chúng ta thường khi tự đánh mất nhận thức về nó bởi v́ cứ măi lo bận tâm hướng về cái đối tượng đă chọc giận ḿnh mà ít khi chịu nh́n ngắm lại nội tâm bản thân. Đó cũng là một cái thói quen xấu của chúng ta. Luôn nh́n ra mà chẳng mấy khi chịu nh́n vào!

Đức Phật đă từng dạy rằng tất cả những đối tượng ngoại lai thật ra chẳng có ư nghĩa ǵ, điều quan trọng là chúng ta phải tự biết cách đón nhận và xử lư nội tâm ḿnh bằng một trí tuệ quan sát. Chúng ta hăy học cách nhận diện và nh́n ngắm từng thứ phiền năo khi chúng đi qua ḷng ḿnh. Làm được điều đó, có nghĩa là ta đă nh́n thấy được mọi sự qua ánh sáng của Phật Pháp. Vấn đề xem ra cũng không có ǵ là khó hiểu và xa vời cho lắm: khi ta hiểu được một cách chính xác cái bản chất gây khổ của các phiền năo th́ ta cũng dần dần giải quyết được chúng. Nhưng đến đây, th́ chúng ta lại phải trả lời một câu hỏi khác: tại sao tất cả chúng ta vẫn biết các phiền năo là cội nguồn của đau khổ mà vẫn tiếp tục ôm giữ nó?

Câu trả lời cũng đơn giản thôi: nói th́ dễ mà làm th́ mới khó. Nhưng chẳng sao hết những thời pháp thoại sẽ giúp đỡ chúng ta các hướng dẫn và nâng bước cho chúng ta vào đường tu. Cho dầu hành tŕnh đó có gian khổ đến mấy nhưng trong từng phút giây nổ lực đưa ḿnh ra khỏi những ràng buộc của nội tâm th́ chúng ta cũng đă là những Phật tử đúng nghĩa rồi.

Mấy ngày qua, trời không có mưa. Đi kinh hành khắp rừng thiền, tôi cứ thấy như cây cối ở đây đang dần dần muốn chết khô. Nhưng hôm nay trời đă mưa trở lại. Các vị có thấy không, lũ ếch nhái cứ nhảy tới lui và kêu vang như hạnh phúc lắm vậy. Trong rừng thiền này có mấy vũng nước cạn cho bọn chúng tha hồ rong chơi và rất có thể ngay trong lúc này chúng chỉ đơn giản tin tưởng rằng mấy vũng nước đó sẽ măi măi đầy tràn mà đâu hề biết là chỉ nay mai thôi, khi trời không c̣n mưa nữa, những ngày nắng sẽ kéo dài và chúng rất có thể sẽ bị chết đi khi mấy vũng nước kia bắt đầu khô nứt.

Cuộc đời của chúng ta đâu có khác ǵ lũ ếch nhái đó, Khi những điều kiện sống thoải mái chưa bị xâm phạm th́ ai cũng có thể thấy ḿnh tràn trề hạnh phúc.Rồi đến lúc mọi sự đổi thay, th́ chắc chắn nếp sống của chúng ta cũng bị thay đổi theo. Chúng ta có hiểu là từng người trên thế giới này phải luôn sống lệ thuộc vào thiên nhiên nhưng có mấy ai đă nhận ra điều đó, Hầu hết chúng ta cũng giống như đám ếch nhái bé nhỏ kia thôi. Tâm sinh lư của con người cũng là một phần trong tạo hóa thiên nhiên. Chúng ta đi ngược lại với thiên nhiên cũng có nghĩa là chúng ta đang tự hủy diệt chính ḿnh. Chúng ta không ai có thể sống chối bỏ qui luật thiên nhiên mà ngược lại phải biết sống hài ḥa với nó. Chống lại thiên nhiên là đồng nghĩa với tự sát.

Đến đây th́ tôi đă có thể kết thúc thời pháp thoại. Tôi hy vọng rằng một số điều tôi đă đề cập có thể được quư vị ứng dụng. Hay ít nhất các vị cũng có thể lấy đó làm một đề tài để trở về tự kiểm nghiệm rồi nếu được , áp dụng chúng vào cuộc tu của bản thân bằng chính trí tuệ của ḿnh.

 

THIỀN ĐỊNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Tiểu Sử Tác Giả:

Đại đức Kittisaro ( Randolph Weinberg) sinh năm 1952 tại Tennessee. Thời trẻ, đại đức học hành rất giỏi. Sau khi đạt nhiều giải thưởng quan trọng tại trường trung học Quân Sự, vào năm 1974 đại đức lại tốt nghiệp với số điểm thi xuất sắc về hai môn Sử và Triết ở đại học Princeton. Sau đó dù rất muốn học ngành Y nhưng theo yêu cầu trong học bổng của đại học Princeton, đại đức phải vào học khoa Anh văn tại đại học Oxford. Trong thời gian thực hiện bản luận án về Aldous Huxley, đại đức đă dần dần nghĩ về đời sống nội tâm.

Để công việc nghiên cứu được tốt hơn, đại đức đă t́m những chỗ vắng vẻ và thật t́nh cờ, đại đức đă t́m đến một trung tâm Phật giáo tại Oakenholt gần khu Oxford. Chính tại đây đại đức đă gặp một nhà sư Miến Điện ( Thượng tọa tiến sĩ Revata Dhamma) và tiến sĩ Douglas Burns, học tṛ của Ngài thiền sư Ajahn Chah. Được nghe kể về Ngài Ajahn Chah và Ngài Sumedho, đại đức Kittisaro đă quyết định t́m sang Thái Lan để xuất gia. Tháng 2 năm 1977, đại đức Kittisaro đă thọ giới sa di tại chùa Pah Pong rồi bốn tháng sau lại thọ giới tỳ kheo, cùng với Ngài Ajahn Chah.

Trong hai năm sống ở Thái Lan, đại đức Kittisaro đă mắc phải chứng bệnh sốt nhiễm khuẩn và tưởng đă không qua khỏi. Thế rồi trong khi bệnh vẫn chưa b́nh phục, v́ quá nhớ nhà, đại đức đă trở về Mỹ. Từ Hoa Kỳ, đại đức không quay lại Thái Lan mà đi sang Anh Quốc sống với các huynh đệ người Tây Phương ở Chithurst. Đến lúc này, t́nh trạng sức khỏe của đại đức ngày càng tệ hại hơn để măi đến mấy năm sau mới từ từ hồi phục. Từ năm 1985 đến năm 1988, đại đức là trụ tŕ tại chùa Devon Vihàra.

Bài viết sau đây là những câu trả lời của đại đức Kittisaro về Phật pháp tại một buổi công giảng ở Bath và cho những câu hỏi của các giáo sư Tôn Giáo Hoc đến viếng Devon Vihàra. Những câu vấn đáp này đều được thực hiện năm 1986.

Thiền Định Giữa Đời Thường

Câu hỏi: Đại đức có thể cho chúng tôi được biết nếp sống sinh hoạt thường nhật của đại đức không ạ?

-Ở chùa, chúng tôi luôn thức dậy lúc bốn giờ sáng để tập thể dục và làm vệ sinh cá nhân cho đến 4.45 giờ. Từ năm giờ sáng, là thời gian tụng kinh , thắp hương, đốt nến, chưng hoa và quỳ gối cầu nguyện. Tất cả những động tác này đối với chúng tôi là những chuẩn bị để bắt đầu cho một ngày mới bằng tất cả tấm ḷng hướng về Đức Phật với mong mỏi được sống trong chánh niệm và tỉnh thức. Có thể nói đó là hướng sinh hoạt chung cho trọn ngày của chúng tôi, Huynh đệ chúng tôi luôn có chung một lời cầu nguyện là “mong sao từng hơi thở của ḿnh trong ngày hôm nay đều mang lại niềm an lành cho tất cả chúng sinh”.

Sau đó chúng tôi ngồi thiền và thường th́ thời gian này được kéo dài trong một tiếng đồng hồ. Lúc 6.30 giờ, chúng tôi lau dọn pḥng ốc rồi uống một chút ǵ đó để lót dạ như trà hay bột ngũ cốc. Sau đó, riêng phần tôi th́ có thể đọc sách hoặc tṛ chuyện với huynh đệ. Công việc này cũng không chiếm nhiều thời gian và chúng tôi lại đi khất thực quanh các khu dân cư lân cận. Trên đường đi,chúng tôi không được có một thái độ hay cử chỉ nào không cần thiết. Việc khất thực đối với chúng tôi chỉ là một bổn phận phải được thực hiện trong một cung cách thật chuẩn mực: không cố ư làm phiền đến ai, cố tránh mọi thái độ có thể gây phiền phức hoặc khó xử cho bất cứ ai, mà chỉ lặng lẽ đi qua từng nơi vừa đủ để người ta biết đến sự có mặt của ḿnh. Chúng tôi phải luôn tỏ ra sẵn sàng nhă nhặn và nghiêm túc trước những người đặt bát hoặc muốn trao đổi ǵ đó. Hiện nay trong khu vực gần chùa chúng tôi đă có khoảng mười lăm gia đ́nh là thí chủ thường xuyên thỉnh về cúng dường tại cư gia theo lịch tŕnh các ngày trong thánh. Như vậy trong giờ khất thực, chúng tôi chỉ từng bước lặng lẽ với chiếc b́nh bát trong tay mà không nói hay làm cái ǵ thừa thăi. Chúng tôi dùng cơm trưa lúc 11.30 giờ. Thức ăn gồm những món khất thực được hoặc cũng có thể là các thứ Phật tử mang đến tận chùa cúng dường. Sau giờ ăn, tất cả chúng tôi về pḥng riêng nằm nghỉ một lát.

Bắt đầu từ buổi xế chiều trở đi, tôi luôn có nhiều việc để làm. Chẳng hạn như gặp gỡ khách khứa và dạo một ṿng tu viện để nhắc nhở các lớp thiền và lớp học. Chúng tôi thư dăn bằng cách uống trà trong đôi ba phút rồi sau đó là lên chánh điện lúc 7.30 giờ tối để tụng kinh, đôi khi là có các Phật tử quanh vùng cùng đến dự. Mỗi tuần có ít nhất là hai buổi chiều thuyết pháp cho các Phật tử và một đêm thức trắng để thiền định trong hai tư thế thiền tọa và kinh hành.

Có thể nói rằng chúng tôi phải mất hàng mấy năm trời để tu học được cách sống chung đụng trong một tập thể gồm toàn những người dưng với nhau, học cách đối nhân xử thế, học cách sống cô đơn và đạm bạc trong một điều kiện vật chất hạn chế tối đa. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến cái khó khăn nhất của đời sống tập thể là phải biết lăng quên chính ḿnh đi, không cực ḷng về cái vị trí của ḿnh trước mọi người. Những khi rỗi rảnh, tôi vẫn luôn t́m đến vấn an các bậc trưởng lăo. Đối với tôi, việc đó luôn mang ư nghĩa nối kết t́nh pháp hữu mà không cần thiết phải bận tâm đến việc đánh giá xem các vị đó có hơn kém ǵ ḿnh. Tôi cho đó là một cách sống thiết yếu và có nhiều ư nghĩa: Trước hết là tinh thần tôn ti trật tự và sau đó c̣n là dịp để học thêm đức tính khiêm cung. Trong một ngôi chùa, mỗi cá nhân là một thành viên và không có qui định nào để ai đó có thể tự cho ḿnh là khôn ngoan hơn cả. Càng lúc, tôi càng thấm thía được cái ư nghĩa tuyệt vời trong việc vấn an, đảnh lễ các bậc tôn túc.

Câu hỏi: Xin Ngài cho biết một nếp sống được xem là cần thiết cho người Phật tử?

-Thường th́ Đức Phật đề nghị các Phật tử cư sĩ nên giữ tṛn năm học giới ngay trong đời sống thường nhật của ḿnh. Đó là: Tránh sát sinh, tránh trộm cướp, tránh gian dâm ( quan hệ t́nh dục bất hợp pháp), tránh nói dối và tránh uống các thứ gây say. Có giữ được năm học giới này ta mới có dịp để hoàn chỉnh nhân cách tốt hơn và giữ giới trong tinh thần hiểu biết. Chúng ta phải thấy được một cách rơ ràng là đời sống của mỗi người luôn bị thúc đẩy bởi đủ thứ ham muốn và chúng ta nên cố gắng trung thực nh́n thẳng vào ḷng ḿnh để khỏi phải sống tuân theo cái bản năng cuồng điên. Chúng ta phải thấy được sự nguy hiểm từ các áp lực tham dục đối với những sự vật cần được nh́n thấy. Chẳng hạn bia, rượu cùng các thứ thuốc kích thích khác đều là những thứ làm ta mê muội đi. Nếu không có phát nguyện thọ tŕ các học giới th́ chúng ta rất khó có được cái trang bị tâm lư để kiêng khem những đ̣i hỏi vật chất tội lỗi. Nhưng nhờ có một lời nguyện trước Tam Bảo th́ chỉ riêng cái ư nghĩa tinh thần của nghi thức đó cũng có thể giúp ta dễ dàng thực hiện hơn. Các học giới tuy có vẻ đơn gản nhưng cái giá trị thực dụng th́ lớn lắm. Không giữ được các học giới, chúng ta không thể đủ sức hiểu được cái đau khổ của đời sống, trong khi con đường giác ngộ giải thoát lại được bắt đầu từ đó.

Câu hỏi: Đạo Phật có nói ǵ về t́nh yêu hay không?

-Phật giáo dạy rằng sự yêu thương, trong bất cứ trường hợp nào, cũng nên có sự hiểu biết đi chung. Thông thường th́ chúng ta cứ khư khư một định nghĩa về hai chữ yêu thương: đó là cảm giác “ thấy thích, muốn có, muốn được, muốn gần”. Chúng ta gần như sử dụng động từ này một cách quá bừa băi. Bừa băi ở đây có nghĩa là sử dụng nó trước khi cho nó một định nghĩa thật rơ ràng. Theo tinh thần của Phật giáo mà nói th́ Yêu hay Thương một người hay một sự vật nào đó th́ có nghĩa là ta đang “chạy theo” hoặc muốn kết hợp với đối tượng đó và nói như vậy th́ một sư yêu thương đúng mức, như đă nói, phải gắng liền với một sự hiểu biết: Hiểu biết để lắng nghe và chăm sóc. Chẳng hạn như một bà mẹ thương con th́ bà luôn chú ư đến những ǵ nó cần. Thái độ đó đâu phải lúc nào cũng làm cho bà mẹ được hạnh phúc, nhưng chỉ v́ thương con nên bà phải làm như thế. Chẳng hạn như khi đứa bé bị giật ḿnh rồi khóc đêm th́ dù muốn hay không, bà mẹ vẫn phải thức trắng với nó. V́ t́nh mẫu tử, bà mẹ thành ra một khối với đứa con ḿnh. Đứa bé lúc này coi như đă thành ra cái đối tượng để bà mẹ hóa thân. Theo cách hiểu của tôi về lời dạy của Đức Phật th́ sự yêu thương trong sạch nhất không hề có sự pha lẫn nào với một trạng thái hiềm khích xung đột. Sự yêu thương phải là thái độ “ chiều đón” nhau mà sống, đối với nhau bằng tất cả tấm ḷng rồi chăm sóc, lưu tâm với nhau. Như vậy, thái độ thủy chung là một yếu tính rất cần thiết trong sự yêu thương.

Có thể quư vị ở đây sẽ có người cho rằng kiểu yêu thương đó xem ra có vẻ tù tùng và thiếu kịch tính. Sự yêu thương kiểu đó đâu có linh động và xem ra chẳng có được bao nhiêu ảnh hưởng đối với cuộc đời xung quanh. Nhưng ta thử nh́n lại xem, một sự yêu thương thủy chung như vậy luôn có một sức tác động rất lớn, nó có thể gây tạo ở chúng ta một khả năng hoán chuyển sâu sắc. Phải nói rằng đây là tất cả kinh nghiệm của chính bản thân tôi, đặc biệt là trong những ngày tháng bệnh hoạn. Tôi đă may mắn không chết, để cho đến bây giờ tôi ít nhất cũng có thể tới lui đây đó và gặp gỡ mọi người. Trong nhiều năm qua, tôi gần như chỉ sống vật lộn với tấm h́nh hài này trong tất cả khó khăn và đau đớn. Tôi đă phải chạy theo t́nh trạng sức khỏe của ḿnh trong từng ngày, từng giờ, để đối diện với nó, trông chừng nó và vận dụng tất cả những nguồn dinh dưỡng cần thiết nhất.

Chúng ta nhận thấy rằng các nhà khoa học hôm nay dường như đă không c̣n giữ lại cái cách bàn thảo chung chung nữa, họ xé nhỏ các lănh vực chuyên môn ra thành từng vấn đề để giải quyết. Vấn đề đơn giản nhất để chúng ta nh́n vào mọi sự là bắt đầu thay đổi chúng. Như tôi đă nói, sự yêu thương trong Phật giáo không thể để song hành với một thái độ so sánh nào cả. Mọi sự yêu thương thật sự phải đứng độc lập th́ nó mới được tồn tại trọn vẹn. Nếu chúng ta c̣n nghỉ đến việc “ghi nhận” đối tượng ḿnh ghét để có thể xác định sự yêu thương đối tượng ḿnh thích th́ rất có thể trước khi có được sự yêu thương, tâm hồn chúng ta đă đầy ắp những chán ghét. Mà Đức Phật đă dạy: Ḷng oán ghét không bao giờ có thể được giải quyết bằng chính ḷng oán ghét. Để dàn xếp nó, chỉ có t́nh thương mà thôi. Như vậy mọi tâm lư thù nghịch chỉ có thể được chấm dứt thông qua một tâm lư bao dung chứ không thể được chấm dứt bằng bất cứ tâm lư nào mang tính sát phạt, đối nghịch.Ta càng nổ lực chấm dứt thái độ oán ghét, thù nghịch trong khi chưa tự có được một tấm ḷng yêu thương thật sự th́ chỉ càng hoài công thêm thôi.

Câu hỏi: Chúng tôi rất muốn được biết thái độ của Phật giáo về những vấn đề mà thế giới vẫn đang quan tâm, chẳng hạn như vấn đề vũ trụ quan hay nguồn gốc của tất cả mọi sinh vật?

-Phải nói rằng đây là một vấn đề cực kỳ mông lung mà cho dầu chúng ta có ngồi lại để nói tới như những chuyện vui th́ không biết cho đến bao giờ mới đủ. C̣n đ̣i hỏi đến những giải đáp mang tính khoa học nghiêm túc th́ chắc chắn là sẽ mất thời gian mà thôi. Đức Phật đă từng dùng đến một câu chuyện ngụ ngôn để nhắc nhở chúng ta hăy biết cẩn thận trước những khao khát tri thức về các vấn đề vừa nói. Ngài đă đưa ra h́nh ảnh một người bị trúng tên độc vẫn ĺ lợm không chịu để cho người khác trị thương giúp ḿnh để rồi cứ khăng khăng đ̣i được trả lời những câu hỏi vớ vẩn của ḿnh về thân thế của người bắn tên, chất liệu của cây cung và mũi tên…nạn nhân chắc chắn sẽ chết đi trước khi được nghe những câu trả lời.

Đă có rất nhiều người đến hỏi Đức Phật những vấn đề thật ra nếu có được trả lời th́ cũng chỉ có ư nghĩa là làm thỏa măn một cách nhất thời những thắc mắc của họ: “ Vũ trụ là vô biên hay hữu biên? Điều ǵ sẽ xảy ra cho vị A La Hán sau khi vị này viên tịch? Ḍng luân chuyển sinh diệt của thế giới được bắt đầu như thế nào?...Thường th́ trước những câu hỏi này, Đức Phật chỉ có một lời đáp mà đại ư là : “ Người ta sẽ chết đi trước khi nghe xong câu trả lời cho những thắc mắc đó. Hăy nhớ rằng thân người là một cơ hội tuyệt vời để thực hiện lư tưởng giải thoát, hăy tận dụng nó một cách có ư nghĩa, đừng làm hoang phí nó bằng những điều vớ vẩn”.

Điều thật sự cần thiết của tất cả chúng ta là giải thoát khỏi vô minh để thưởng thức được cái hương vị giải thoát. Giải thoát ở đây là sự vượt ngoài những ảo tưởng về cái Tôi-Của Tôi, vượt ra khỏi những ǵ vẫn giới hạn chúng ta từ bấy lâu nay.Lời dạy của Đức Phật luôn nhắm tới cái khả năng giải thoát vô minh và đau khổ ở mỗi con người. Chúng ta đừng tiêu phí thời gian cho những khao khát kiến thức không cần thiết. Thời gian là hiếm hoi, hăy tranh thủ nhổ ra mũi tên độc ở chính ḿnh và bước thẳng vào con đường tu tập.

Câu Hỏi: Xin hăy cho biết thái độ của Phật giáo đối với các vấn đề xă hội cũng như những ǵ Phật giáo có thể đóng góp cho xă hội?

-Trước hết, theo tôi th́ tất cả chúng ta ở đây nên xét lại cái quan niệm cho rằng nếu chỉ với ư chí, tức chỉ có đời sống tinh thần, th́ coi như chẳng đóng góp được cho ai. Có một điều mà tôi biết rất rơ là khi trong chùa tôi có một vị nào đó vui t́nh dễ chịu hoặc nóng tính khó gần th́ chỉ riên điều này thôi cũng đă có những ảnh hưởng không nhỏ đối với các vị chung quanh.

Chúng ta phải nhận rằng giữa thiện chí với hành động cụ thể đúng là có một khoảng cách rơ ràng. Nhưng ta cũng thấy rằng cái thiện chí ở mỗi người luôn có một vai tṛ rất quan trọng. Cùng nh́n vào một vấn đề, nhưng mỗi người có một cách giải quyết riêng. Điều này xuất phát từ ư tưởng của chúng ta, có thiện chí hay không có thiện chí.

Những người Phật tử chúng ta có thể đem tinh thần của Lư Tứ Đế mà áp dụng vào đời sống.Thánh Đế thứ nhất dạy cho chúng ta về tất cả đau khổ trên đời nói chung và trong đời ḿnh nói riêng. Thông thường th́ khi gặp phải đau khổ chúng ta luôn t́m cách để trốn tránh nó, trốn tránh trong một tinh thần hèn nhát và mù quáng. Đức Phật dạy rằng thái độ đó sẽ không bao giờ giúp ta thoát khỏi đau khổ được. Rồi chúng ta lại ôm ấp tất cả những ǵ khoái lạc và hạnh phúc, thế nhưng có thứ hạnh phúc nào lại không thay đổi, bởi dù ǵ hạnh phúc cũng chỉ là một sự thật mang tính Tương Đối. Vấn đề chính yếu đối với Thánh Đế thứ nhất là chúng ta phải học cách nh́n thẳng vào tất cả đau khổ.

Điều này xét ra cũng giống như câu nói của Đức Chúa Jesus: “Các con hăy nhặt lấy chiếc thập tự giá”. Về sử học và theo ư nghĩa của Kinh Thánh th́ chiếc thập tự giá là biểu tượng cho tất cả sự trừng phạt và đau đớn. Những người Phật tử chúng ta cũng thế, chúng ta phải có can đảm chấp nhận cái thập tự giá của đời ḿnh,phải biết đối diện với tất cả sự thật mà đừng vận dụng một cách trẻ con bất cứ một khả năng nào đó để trốn chạy đau khổ, buông khỏi tay ḿnh chiếc thập tự giá. Như đă nói, chúng ta phải biết nh́n thẳng và phân tích tất cả đau khổ mà ḿnh đang đối diện, Đừng sợ hăi chúng rồi xuôi tay quy hàng.

Nói ra th́ có vẻ thần thánh, một lần nào đó, chúng ta hăy thử nh́n vào từng cơn đau th́ sẽ thấy nó chỉ là một giai đoạn cực ngắn của một chuỗi dài cảm giác luôn biến đổi thật nhanh. Điều này cũng dễ hiểu thôi, cái mà chúng ta vẫn gọi là những đau đớn nhức buốt thật ra đâu phải là một hiện hữu bất biến. Như vậy th́ ta cũng có thể nói rằng đau khổ là cái mà các nhà khoa học phải học hỏi thêm: Bởi ngay chính sự đau khổ rồi cả thái độ nh́n ngắm nó cũng là từng đơn tử luôn sinh hóa. Có tận mắt ngắm nghía những đau khổ, chúng ta mới thấy được rằng bản thân mỗi người thật ra chỉ là từng biến thể của nó trong mỗi khoảnh khắc. Hiểu biết được điều này, sống hết ḿnh với nhận thức này, chúng ta sẽ được cái thái độ tỉnh thức trọn vẹn trước mọi đau khổ và hạnh phúc. Phát hiện ra chân lư này, chúng ta sẽ cảm nhận được lắm điều thú vị. Từng nỗi đau hay từng cơn đau đớn chỉ là những người khách lạ chợt đến chợt đi mà sự hiện hữu của chúng ta chỉ là một chuỗi dài ghép nối của những đau khổ và hạnh phúc. Như vậy từng người chúng ta vẫn là những kẻ khách lạ giữa trần gian luôn đổi thay này.

Năy giờ là chúng ta đă nói về hai chữ ư chí, c̣n theo Phật giáo th́ nếp sống Hành Động phải thực hiện ra sao? Cái yêu cầu cao nhất của những người Phật tử là phải có được cái can đảm phơi mở tâm hồn và nh́n thẳng vào những ǵ thật sự cần được thực hiện chứ không phải đưa mắt nh́n ngó mông lung về những ǵ xa vời, viễn vông. Điều đáng buồn cười là chúng ta thường có thói quen thích thú chú ư đến những chuyện khác thường, c̣n những ǵ mang tính “đời thường, tiểu tiết” như về gia đ́nh hay cách cư xử th́ chúng ta chẳng mấy khi quan tâm. Chúng ta đă quên mất một điều là nếu không thực hiện được những “ tiểu tiết đời thường” đó , th́ sinh hoạt của chúng ta lập tức bị xáo trộn. Chúng ta có thể nói thật nhiều về thái độ sống hài ḥa và đoàn kết nhưng đă có mấy ai giữ được ḿnh khi phải đối diện với những vấn đề đó một cách nghiêm túc.

Vậy th́ kể từ bây giờ, chúng ta hăy bắt đầu sống Hành Động đi: quay về với chính ḿnh để có một cái nh́n chín chắn về mọi sự và nhận thức được tất cả những ǵ ḿnh phải làm. Dựa trên khả năng bản thân và điều kiện sống trước mặt, chúng ta hăy biến đời ḿnh thành một món quà ư nghĩa cho tất cả chúng sinh. Trong đời sống của một tu sĩ Phật giáo, tôi phải luôn nhận ra những điều ḿnh có thể làm và không thể làm. Chẳng hạn như một trong những điều mà tôi phải học hỏi để thực hiện ch́nh là đời sống giản dị : giản dị trong cái ăn, giản dị trong trang phục, trong cách tận dụng và trân trọng những ǵ người khác đem cúng dường. Tôi c̣n phải học cách chào đón tất cả mọi hạng người, một cách phát triển và nuôi lớn lư tưởng sống. Nói cho cùng , th́ toàn bộ đời tu của tôi chỉ là một chiếc răng cưa bé xíu của cổ máy vũ trụ vĩ đại nhưng đó cũng là một đóng góp, v́ tôi đă sống Hành Động.

Trong câu trả lời này về vấn đề xă hội, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh đến ba chi Thánh Đạo trong giáo lư Tứ Đế là Chánh Ngữ, Chánh Mạng và Chánh Niệm. Chánh Ngữ và Chánh Mạnh ngoài cái giá trị căn bản là đóng vai tṛ những nguồn đạo lực trong hành động giải thoát của bản thân, c̣n có một giá trị khác nữa là xây dựng và đóng góp rất nhiều cho tất cả mọi người. Riêng về Chánh Niệm, ngoài giá trị hàm dưỡng một đời sống tỉnh thức, c̣n giúp người Phật tử tránh được tất cả những thành kiến, định kiến, lập trường, ư niệm, quan điểm lệch lạc.

Cuộc tu của chúng ta có thể là một hành tŕnh đ̣i hỏi rất nhiều thời gian, nhưng điều đó chẳng sao hết, nếu chúng ta không bỏ cuộc, mỗi giờ khắc sẽ là từng bước chân trưởng thành, thăng hoa. Chúng ta hăy học cách vận dụng đúng mức khả năng trí tuệ của ḿnh để phơi mở và soi rọi một cách khách quan cái nhận thức về bản thân, gia đ́nh, quê hương xứ sở hoặc lập trường chính trị của ḿnh. Chỉ với một tư thiên kiến chủ quan thôi, chúng ta sẽ tự chuốc lấy cho ḿnh vô vàn đau khổ.Trong khi đó việc cần thiết của chúng ta chỉ đơn giản là cảm nghiệm tất cả mọi đau khổ, bất luận là chúng xảy đến từ phía nào , rồi thấu đáo nó một cách thông minh.

Phải nói rằng thế giới hôm nay đang trải qua những tháng ngày khổ nạn nghiêm trọng nhất. Biết bao người trong số chúng ta nắm được trong tay quá nhiều quyền hành nhưng chúng ta đă giải quyết được ǵ đâu. Trước mắt chúng ta vẫn c̣n tồn đọng trăm ngàn vấn đề nhức nhối. Mà điều đau xót nhất là có mấy ai hiểu được rằng những vấn đề đó của nhân loại không thể nào chỉ được giải quyết bằng bạo lực. Mọi chuyện rắc rối chỉ có thể dàn xếp ổn định bằng một thái độ chăm sóc nghiêm cẩn, bằng vào sự đóng góp hết ḿnh của từng người trên hành tinh này.

Câu hỏi: Xin cho biết con đường tu học hoàn chỉnh nhất có phải là cần được tuân theo cái tŕnh tự Tự Giác rồi mới Giác Tha?

-Đây là cả một vấn đề để chúng ta phải bàn thảo ở đây. Về mặc lư thuyết, th́ vấn đề có vẻ gần giống như vậy: Quư vị trước hết phải là người tự giác ngộ rồi sau đó mới có thể tiếp độ người khác. Chưa giải quyết được chính ḿnh một cách trọn vẹn, th́ ta không thể làm được ǵ hết. Sự thật th́ không phải như vậy. Cả hai thái độ sống Tự Giác và Giác Tha luôn đi đôi với nhau. Tôi đă rút ra được bài học này ngay từ lúc c̣n sống ở Thái Lan. Hồi đó, tôi thường quan tâm đến chuyện giúp đỡ đến những người khác như các vị thầy bạn trong chùa và xem đó như một niềm vui, một phần lẽ sống. Thế rồi tôi trở bệnh và thành ra người bất lực. T́nh trạng sức khỏe của tôi lúc đó đă không cho phép tôi được sống như ư muốn nữa. Và tinh thần phục vụ của tôi cũng từ đó bị suy giảm rơ rệt. Dựa vào đây, tôi mới hiểu rằng trí tuệ tu học của ḿnh thật ra vẫn chưa được trang bị một cách kỹ càng. Mọi sinh hoạt của tôi vào thời điểm đó coi như cứ chất đầy những thất vọng và chính thái độ thất vọng này đă có những ảnh hưởng thật sự tệ hại đối với từng sinh hoạt lớn nhỏ của tôi.

Đây là lư do tại sao Phật giáo vẫn thường xuyên nhắc tới một nếp sống thăng bằng và nhấn mạnh cái giá trị của một thời khóa sinh hoạt tập trung vào tinh thần ổn định bản thân. Những người Phật tử c̣n đang tu học như chúng ta đều rất cần tới những thời gian sống trong tĩnh lặng qua từng phút từng giây. Bởi v́ chỉ với một nếp sống như vậy, chúng ta mới có thể nhận ra ḿnh đang nghĩ về cái ǵ và cái ǵ là điều cần phải thức hiện. Có thể nói rằng cái lỗi lầm nghiêm trọng nhất trong mọi suy nghĩ và hành động của chúng ta chính là những ǵ bị tác động bởi khái niệm về một cái tôi. Hăy luôn luôn cảm nhận một cách trung thực mọi biến động của bản thân, nh́n ngắm cẩn thận những ǵ vẫn xảy ra quanh ḿnh trong từng lúc rồi tự ngắm ḿnh vào một nếp sống đầy hiểu biết.

Nếu chúng ta chỉ ngồi đó để cố trông chờ cái giây phút giác ngộ trong khi chẳng chịu làm thêm cái ǵ nữa th́ tôi xin nói thẳng rằng cuộc nói chuyện của tôi gởi đến cho quư vị đêm nay hoàn toàn vô nghĩa. Cho tôi xin lỗi khi phải đưa ra ví dụ này rằng nếu chúng ta cứ ngồi bất động để chờ đợi từng đàn gia súc xuất hiện trong trang trại của ḿnh th́ chắc có lẽ quư vị cũng hiểu rằng đó chỉ là một ước mơ hăo huyền. Bởi bất cứ lư tưởng nào, ước mơ hay ư muốn nào cũng cần phải có một cơ sở hợp lư. Ta không thể nào đạt được mục đích với cùng lúc quá nhiều những nghi ngờ: “ Tôi đă sẵn sàng để thành tựu được cái ước muốn đó hay chưa?” Chúng ta luôn thiếu thốn qua nhiều những chuẩn bị.

Nhưng nói như vậy, cuộc tu không phải hoàn toàn chỉ gồm những thất vọng và câu tự vấn trên đây cũng rất có thể là một thiền án tuyệt vời để chúng ta có thể nh́n thấy chính ḿnh mọi nơi và từng lúc một cách chính xác theo đúng tinh thần của thiền quán. Tôi lấy ví dụ như khi chúng ta đang ngồi thiền định và tâm tư lại hướng vọng về cái chuyện giác ngộ th́ câu tự vấn trên đây vào lúc này quả thật là cần thiết. Ta hăy ghi nhận nó cho đến khi nó biến mất th́ coi như nội tâm của chúng ta đă có được một sự b́nh yên cần thiết. Chẳng riêng ǵ tư tưởng đó, mà đối với bất cứ tư tưởng nào cũng thế, có nh́n thấy được chúng đến và đi như thế nào th́ chúng ta mới thấm thía được cái bản chất vô thường của nội tâm. Tôi không muốn nhắc tới ở đây bất cứ một vấn đề nào nằm ngoài ra chuyện đang bàn. Tôi cũng không muốn các vị phải lưu tâm chờ đợi cái giây phút mà nội tâm ḿnh không c̣n bị vướng vít bởi những câu hỏi vớ vẩn. Tôi chí muốn nhấn mạnh một điều là chúng ta hăy chú ư đến từng tư tưởng tự vấn và thực hiện những ǵ thật sự cần thiết mà khả năng bản thân cho phép. Chính thái độ b́nh tĩnh này sẽ giúp ta nuôi lớn sức mạnh kiên tâm và ổn định hóa tinh thần.Tôi cho rằng tất cả những ǵ vừa nói trên đây đều có một ư nghĩa quan hệ mật thiết với nhau.

Thế c̣n vấn đề thời gian, chúng ta phải mất nhiều thời giờ để thành lọc chính ḿnh và trở thành ông thánh cao khiết hay không? Chúng ta phải bắt đầu mọi sự bằng từng công việc nhỏ nhặt nhất. Chúng ta muốn trở thành Đức Chúa Ky Tô hay Đức Phật để cứu thế th́ cũng tốt thôi nhưng vấn đề nằm ở chỗ là chúng ta phải khởi sự từ đâu chứ? Như đă nói, ngay đến Đức Phật, Ngài cũng đă bắt đầu con đường của ḿnh bằng những cái nhỏ nhặt nhất. Ngài đă từng dạy chúng ta hăy luôn tự biết lượng sức, phải biết leo lên đỉnh núi cao từ đáy sâu của vực thẳm. Chúng ta không thể trong một sớm một chiều mà thành Phật, thành Chúa. Chúng ta phải biết khởi hành cuộc đi của ḿnh ngay từ những ǵ đang có trước mắt, chẳng hạn như một cơn nhức đầu, sổ mũi. Chân lư chỉ có thể được phát hiện vào từng phút giây tỉnh thức, từng phút giây chánh niệm trong mỗi thời khắc hiện tại.

Câu Hỏi: Thế giới sẽ ra sao nếu ai cũng làm đúng lời phật dạy? Và theo đại đức chúng ta cần có thái độ thế nào đối với thế giới khoa học hiện đại, chẳng hạn như những thay đổi nào đó.

-Đối với riêng tôi mà nói th́ cái việc suy nghĩ và cảm giác của người Phật tử về thế giới không quan trọng tí nào hết. Lư do hết sức đơn giản là toàn bộ giáo lư nhà Phật chỉ nhắm đến một đời sống Tỉnh Thức. Ngôn ngữ và lư luận chỉ làm rắc rối cuộc đời thêm thôi. Chẳng hạn như đối với ngay chính căn pḥng này, mỗi người trong số chúng ta ở đây đều có một nhận xét riêng, chẳng ai giống ai.Kể cả những ǵ tôi nói cho quư vị cũng thế, làm sao chúng ta lại có thể hoàn toàn thống nhất suy nghĩ với nhau được.

Mặc dù, một cách khách quan, tôi vẫn nhận ra rằng nhân loại chúng ta bây giờ gần như đă có chung nhau một số quy tắc cơ bản để hệ thống hóa một cách nhất quán các sự kiện. Chúng ta có thể đặt ra những chuyên ngành để sắp xếp các sự vật thông qua phương pháp khoa học và cũng đă bắt đầu hiểu được ít nhiều những qui luật cấu tạo của không ít sinh vật trong trời đất. Chúng ta cũng đă có những khả năng quan trọng để can thiếp vào thiên nhiên; Di chuyển cái này, sửa đổi cái kia, khoét sâu địa cầu, đưa người lên trăng, du khảo các thiên thể…nhân loại c̣n có khả năng sáng tạo ra thật nhiều thứ. Ngay cả ngôn ngữ và cơ cấu xă hội cũng nằm trong những phát minh của loài người.

Với tất cả những cái đó, một tôn giáo giàu tính thần quyền đến mấy cũng phải nhận rằng nhân loại đă tiến bộ vượt bực và gần như c̣n có thể làm chủ thiên nhiên. Thậm chí có người c̣n tin rằng đến một lúc nào đó có khoa học sẽ có thể giúp con người đạt được cái ước mơ trường sanh bất tử để đời đời hưởng lạc. Tất nhiên đó chỉ là một thứ không tưởng xuất phát từ quan điểm duy vật cực đoan. Mà đă là cực đoan , quá khích th́ những suy ngĩ đó trước sau cũng vẫn chỉ là những quan niệm kiến chấp. Có thể nói con người vẫn không ngừng nuôi lớn những khát vọng sáng tạo ra trăm ngh́n thứ để đoạt quyền tạo hóa dựa trên những khả năng trí tuệ mà ḿnh đang có được nhưng ta hăy nhớ rằng những tham vọng đó rất có thể sẽ khiến con người đánh mất nhân tính. Bởi cho dầu chúng ta có khôn ngoan đến mấy, văn minh đến bao nhiêu nhưng trước mắt, chỉ có mỗi một vấn đề thôi mà nhân loại xem ra có vẻ như không thể thực hiện nổi, đó chính là mối tương giao giữa người với người: Nhân loại vẫn từng ngày đánh nhau, chia cắt nhau rồi hiểu lầm nhau.

Các tôn giáo chín chắn nói chung đều dạy ta hăy sống hiểu biết và cảm thông, từ vật đến người, Hiểu biết hay cảm thông ở đây chính là sự phơi mở trái tm, trải rộng tâm hồn. Khi chúng ta c̣n bé, đứng trên một bờ biển nào đó rồi nh́n ra khơi với đôi mắt mở rộng hồn nhiên. Chúng ta lúc đó hăy c̣n thơ ngây lắm, chưa biết tới những kiến thức khoa học về trời mây sóng nước. Chung quanh và trước mắt chúng ta lúc đó chỉ là từng cơn gió biển, những đợt sóng vỗ bờ, cái âm thanh ngàn đời của đại dương…và bây giờ dù đă là những người lớn, có đôi lúc chúng ta cũng nên quay lại với cái tâm hồn bé con của ḿnh ngày nào là mở rộng tâm hồn rồi lắng nghe và nh́n ngắm một cách đơn gản, thiệt thà, khách quan , trung thực, không toan tính mưu cầu ǵ hết. Tôi tin rằng nếu sống lại bằng cái tâm thái kỳ diệu đó chúng ta sẽ thấu suốt trọn vẹn tất cả những ǵ vẫn bị che kín từ lâu. Chúng ta sẽ biết ngạc nhiên, thành kính và hài ḥa với thế giới chung quanh. Bên cạnh đó, một khía cạnh khác của thái độ trên mà chúng ta cần phải triển khai ở đây, đó chính là ḷng yêu thương , trạng thái “ hết ḿnh” với vạn vật một cách trung thực, bất luận đó là những thương đau hay cái dễ chịu, hạnh phúc. Sống trong ḷng yêu thương, chúng ta tự nhiên trở thành một bộ phận mật thiết của trời đất, chúng ta gắn liền với tất cả mọi người, mọi vật một cách trọn vẹn nhất.

Nhưng cái ǵ trên đời cũng là tương đối cả, đến ngay thái độ yêu thương tuyệt vời như vậy không khéo cũng sẽ trở thành một thứ cực đoan. Chúng ta thử nghĩ xem ḿnh sẽ hành động như thế nào, kể cả những ǵ là cần thiết nhất là hoàn toàn tương ứng với ḷng yêu thương đó, nếu như chúng ta bắt tay vào bằng một thái độ mù quáng cuồng nhiệt. Như vậy không có một thứ cực đoan nào là có thể chấp nhận được cả.

Chúng ta không thể nông nổi đánh giá những tiến bộ khoa học hiện đại là hoàn toàn tốt đẹp hay tuyệt đối tội lỗi, cho dầu đó là những phát minh về y học hay những đầu đạn hạt nhân. Bản thân những phát minh đó không là ǵ cả, vấn đề nằm ở chỗ những người đă sử dụng chúng. Do đó, ở đây tôi không hề muốn nhân danh một cái ǵ hoặc ai đó để đưa ra cho mọi người một hướng hành động như là những giáo điều. Tôi chỉ muốn đề nghị với từng người thái độ phơi mở để mà sống, để có đủ can đảm và sáng suốt đối diện với tất cả đau khổ và biết nuôi dưỡng ở tâm hồn ḿnh một khả năng biết yêu thương. Chỉ với t́nh thương, chúng ta mới có thể sống san sẽ. Chúng ta phải cảm thông một cách đúng mức những nỗi đau của người khác và cố tránh tối đa những ǵ có thể gây thương tổn cho tha nhân. Chúng ta đừng dùng lư luận hay giáo điều để rao giảng người khác hăy sống như thế này, đừng hành động như thế kia.Bởi v́ theo tôi đó cũng là một cách sử dụng vũ lực, hay ít nhất cũng là tạo áp lực. Chính cái tham vọng , hoặc nói nhẹ nhàng hơn, cái toan tính xếp đặc cho người khác chấp nhận đi theo con đường của ḿnh một cách khiên cưỡng th́ đây cũng là một kiểu hành động vô minh. Trong khi đó Đức Phật đă từng dạy rằng cội nguồn của mọi rắc rối trên cuộc đời này lại chính là vô minh. Chúng ta hăy ghi nhớ điều đó để có thể sống tỉnh thức và yêu thương mà không mắc phải lỗi lầm nào, những cực đoan mà năy giờ tôi đă ít nhiều nói tới.