Khi nói đến vấn đề giáo dục
Phật giáo, tức là đang đề
cập đến quá tŕnh giáo dục
của Phật giáo. Có thể nói
quá tŕnh đó đ̣i hỏi phải
xác định rơ ràng về mục đích
giáo dục, phương pháp giáo
dục và nội dung giáo dục
v.v... đối tượng tham gia
thực hiện quá tŕnh giáo dục
ấy chính là Thầy và Tṛ.
Khái niệm và mục
đích giáo dục Phật giáo
Khi nói
đến vấn đề giáo dục Phật
giáo, tức là đang đề cập đến
quá tŕnh giáo dục của Phật
giáo. Có thể nói quá tŕnh
đó đ̣i hỏi phải xác định rơ
ràng về mục đích giáo dục,
phương pháp giáo dục và nội
dung giáo dục v.v... đối
tượng tham gia thực hiện quá
tŕnh giáo dục ấy chính là
Thầy và Tṛ. Từ góc độ giáo
dục học Phật giáo, người
viết xin tŕnh bày vài quan
điểm về tư tưởng giáo dục
của từ "Khất sĩ".
Có thể
nói rằng, đối tượng giáo dục
Phật giáo là chúng sanh
trong đó con người là đối
tượng trung tâm. Chính v́
thế giáo dục Phật giáo cần
nghiên cứu đến vấn đề đời
sống con người và các vấn đề
liên quan đến đời sống của
con người. Hoặc nói khác, đó
chính là nghiên cứu thuộc
tính duyên sinh của bản chất
con người.
Giáo
dục của Phật giáo là quá
tŕnh chuyển hóa khổ đau t́m
đến tiến tŕnh của hạnh phúc
và an lạc trong cuộc sống.
Đó chính là quá tŕnh chuyển
hóa của Vô minh thành Trí
tuệ trong cuộc sống của con
người. Nói tóm lại, mục đích
giáo dục của Phật giáo là
giải thoát viên măn. Để đạt
được mục đích giáo dục này
th́ cần thực hiện mục tiêu
là làm sao để biết được sự
Khổ và chuyển hóa hiện tượng
Khổ ấy; phương pháp đưa đến
hạnh phúc và thực hiện
phương pháp ấy để đạt được
hạnh phúc.
Ư nghĩa và tư tưởng
giáo dục của từ "Khất Sĩ"
Khất sĩ
là một trong ba nghĩa của Tỳ
Khưu, trong kinh Pháp Hoa
nghĩa sớ, quyển một có ghi
rằng “Tỳ khưu gọi là Khất sĩ,
trên th́ xin giáo pháp của
Như lai để nuôi dưỡng tinh
thần, dưới th́ khất thực của
bá tánh để nuôi tự thân”. Tổ
sư Minh Đăng Quang dạy “...
‘Khất’ có nghĩa là xin, lẽ
xin là chơn lư của vơ trụ,
mà chúng sanh, kẻ th́ xin
vạn vật để nuôi thân, người
th́ xin các pháp để nuôi trí”
(1).
Khất sĩ là vai tṛ qua trọng
trong giáo dục, luôn hướng
về chư Phật, Bồ tát, thánh
hiền và chư thiện tri thức
để cầu học hỏi những điều
chánh đạo. Hướng về tất cả
chúng sanh xin được chia sẽ
những điều tốt lành, những
kinh nghiệm hóa giải phiền
năo, thực hiện con đường đạo
đức và hạnh phúc trong cuộc
sống.
Khất sĩ
đối với việc truyền tŕ Phật
pháp là vô cùng quan trọng
v́ trong đó thể hiện vai tṛ
và trách nhiệm của cả người
Thầy và Tṛ trong phương
diện giáo dục. "Nội tu ngoại
truyền" là hai phương diện
vô cùng trong quan trọng
trong công tác giáo dục của
Phật giáo, hai phương diện
này liên quan mật thiết với
nhau. Đây chính là ư nghĩa
Giáo dục Phật giáo trong từ
Khất sĩ.
Vai tṛ Thầy và Tṛ
trong từ "Khất sĩ"
“Khất
sĩ ” từ phương diện người
Tṛ
"Khất
sĩ là học tṛ nghèo đi xin
ăn để tập cho đời theo gương
bố thí giúp đỡ lẫn nhau, kẻ
vật chất người tinh thần để
được sống" (2). Học tṛ Khất
sĩ luôn học tập cho ḿnh
phẩm chất đạo đức, hoàn mỹ
nhân cách và cuộc sống tự
tại, cuối cùng là giải thoát
viên măn. Thầy giáo, phương
pháp giáo dục và cơ cấu giáo
dục đều nhằm mục tiêu triển
khai và phát huy các tính
chất giáo dục và tác dụng
của giáo dục.
Nhưng
trong quá tŕnh tu học đó
tṛ Khất sĩ luôn luôn đống
vai tṛ chủ thể, chủ động.
Tất cả các hoạt động của dạy
và học đều đề cao tính chủ
động, tích cực của người học
tṛ. Hay nói cách khác tṛ
Khất sĩ luôn luôn phải thể
hiện tính chủ động tự giác,
v́ đó chính là tính quan
trọng trong giáo dục.
"Khất
sĩ là học tṛ đang đi du học
khắp nơi cùng xứ, học nơi
thầy , nơi bạn, nơi tṛ, học
với tất cả chúng sanh vạn
vật, các pháp, học với Phật
Pháp Tăng ba đời, học từ xóm
làng tỉnh xứ, đến khắp các
xă hội, thế giới chúng sanh,
học nơi chữ viết, nghe lời
nói, học bằng lo lắng nghĩ
ngợi, học nơi sự thật hành,...Tạm
xin ăn tu học đi ngay chơn
lư chẳng chúc lăng xao,
không màng khổ nhọc"(3)
Đă là người th́ ai cũng có
khuyết điểm, ai cũng có ưu
điểm, v́ thế học tṛ Khất sĩ
cần phải giúp đỡ lẫn nhau,
học tập lẫn nhau, vận dụng "Kiến
ḥa đồng giải" vào cuộc sống.
Đây là h́nh thức giáo dục "ḥa
hợp" của Phật giáo. Nhờ vậy
mà có được loại h́nh “Phản
quan tự kỷ” để tự bổ túc và
sửa đổi cho ḿnh những điểm
khuyết.
Tự học
bổ khuyết là phương pháp tự
hoàn mỹ nhân cách và phẩm
đức của người học tṛ Khất
sĩ. V́ thế mà Tổ sư Minh
Đăng Quang dạy rằng "Khất sĩ
là cái sống của chơn lư vơ
trụ mà tất cả chúng sanh đều
là học tṛ cả thảy" (4)
“Khất sĩ ” từ
phương diện người Thầy
"Khất
sĩ cũng như ông thầy giáo
dạy học cho bá tánh, chẳng
lănh tiền lương, dù dạy ít
dạy nhiều không hề kể công
so của, quư nhất là gương
hiền đạo đức, gương giới
hạnh, gương từ bi đại lượng
ở đời" (5). "Khất sĩ chư
Tăng phải đi, đi khất thực
khắp nơi để cứu độ, khuyên
tiếp dẫn những người cho họ
đi theo, ấy là dẫn..."(6).
Thầy Khất sĩ thực hiện công
tác giáo dục, thuyết pháp
giảng kinh, hóa duyên độ
chúng tất cả v́ mục đích là
truyền và tŕ con đường hạnh
phúc, con đường giải thoát
khổ đau. Thực thi giáo dục
Phật giáo là người trong
công tác giáo dục kể cả
người dạy và người học đều
tự xem và bổ khuyết chính
ḿnh.
Việc tự
kiểm thảo và tu tập chính
bản thân ḿnh là tính chất
vô cùng quan trọng, bất luận
là Thầy hay Tṛ đều cần có
năng lực kiểm thảo của tự
thân. V́ chính những cử chỉ
hành vi của bản thân là bài
học vô giá cho mọi người.
Thầy Khất sĩ luôn lấy "Lợi
tha làm tự lợi" v́ thế quá
tŕnh giáo dục cần phải thực
hiện một cách Khế lư, Khế cơ
và Khế thời. Chỉ có như vậy
mới thực hiện một cách tích
cực trong công tác giáo giáo
dục.
Tóm lại
Từ góc
độ giáo dục học th́ từ "Khất
sĩ" bao hàm nhiều ư nghĩa
trong quá tŕnh giáo dục.
Vai tṛ của người Thầy và
Tṛ thể hiện rất rơ và vô
cùng quan trọng trong tiến
tŕnh tu học và giáo hóa. V́
mỗi cá nhân, mỗi thành viên
trong xă hội đều là "Khất sĩ",
tức là ai ai cũng cần có sự
nương tựa nhau, trao đổi
nhau, hổ trợ và tương tác
lẫn nhau để tồn tại và pháp
triển, tất cả sự vật hiện
tượng đều là thuộc tính của
Duyên sinh. Với quan điểm
này, th́ từ "Khất sĩ" bao
hàm ư nghĩa của quá tŕnh
giáo dục, hoằng pháp lợi
sanh và xây dựng tiến tŕnh
giải thoát.
Chú
thích:
(1) (3)
(4) (5) Chơn lư, Tập I,
trang 278, 274, 273, 294.
(2)
Minh Đăng Quang pháp giáo,
trang 35.
(6) Bồ
Tát giáo, trang 72.
Tài
liệu kham khảo:
- Ban
biên dịch Đạo Uyển, Từ điển
Phật học, NXB Tôn giáo, năm
2006.
- Tổ sư
Minh Đăng Quang, Chơn lư,
Tập I, NXB Tôn giáo, năm
2004.
- Tổ sư
Minh Đăng Quang, Bồ Tát giáo,
bản năm 1962.
- Soạn
giả Hàn Ôn, Minh Đăng Quang
pháp giáo, bản năm 1960.
- Cưu
Ma La Thập dịch, Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa, quyển 9, (Đại
Tạng Kinh bản chữ Hán).
- Nam
Hoài Cẩn, Nam Hoài Cẩn Tuyển
Tập, NXB Đại học Phục Đán,
năm1996 (bản chữ Hán)