THẤY LẠI NGUỒN TÂM

Bài giảng : TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên soạn : Cư sĩ Phật tử: Như Thánh

Lời Tâm Sự

 Kính thưa Quí vị !

Trong cuộc sống ta thường đối diện với hoàn cảnh sinh hoạt hằng ngày, mọi người đều đối duyên xúc cảm, do thức biến chuyển qua nhiều trạng thái vui, buồn, thương, giận, phiền năo, khổ đau mà không thể nào giải quyết được, măi măi quẩn quanh, làm cho ta cứ trầm luân. Phật nói là chúng sanh thường sống trong biển nghiệp ( Ái hà thiên xích lảng, Khổ hải vạn trùng ba ). Trong quá tŕnh nhân quả, nơi tâm lượng chúng sanh tùy thuộc căn cơ, nên có người sống trong vật chất thế gian, măi rượt đuổi theo đau khổ không lối thoát. Tuy vậy, cũng có nhiều người có duyên rất gần với Phật nên phát tâm t́m Phật, tin Phật và muốn t́m cách tu hành cho hết khổ. Muốn tu nhưng do sự huân tập của những cuộc đời luân chuyển sâu dày, thành thói quen, nên không biết rơ con đường Phật dạy để tu theo cho đúng. Cũng nương theo kinh Phật nhưng kinh không nhập vào trí huệ được, nên không thông ư chỉ của Phật. Theo luật tụng kinh, khi xong thời kinh, sau cùng phải tụng thêm bài Bát Nhă Bổ Khuyết Tâm Kinh, ư này muốn dạy chúng ta thấy được khuyết điểm quan trọng của người tu học Phật, phải dùng kinh nghiệm chính ḿnh trở lại tại tâm, bồi bổ lại những khuyết điểm sai lầm, thường chạy ra ngoài với ư hướng ngoại, hoàn toàn sai đường Phật Tổ chỉ dạy. Tu tâm là phải sửa tâm, dùng kinh nghiệm của Phật dạy tự tu sửa lại cái sai lầm tự tâm. Do lục căn nơi con người ( mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư ) thường tiếp xúc với lục trần là ( sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp ) hai căn trần tiếp nhận vào gặp nơi biển thức (nhăn thức, nhỉ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ư thức) gọi là lục thức nên sanh ra niệm trần, do duyên khởi, đó là vọng niệm trần lao.

Đây là lời chia sẽ của người biên soạn lại những lời dạy của Sư Phụ sau khi chi Thiền, quán không của các pháp, biết rằng các pháp luôn sanh diệt không thật. Sư Phụ đă đem năng lực tu hành truyền đạt lại cho đại chúng để cùng tu. Bài viết này thành tâm gởi đến ai có duyên lành học Phật được thông suốt qua tư duy từng tâm lượng chính nơi ḿnh, hầu mở khai những ǵ c̣n ẩn tàng nơi biển thức. Người tu khi đọc tụng nên sáng suốt nhận định để trở lại nguồn tâm trong sạch, không c̣n vướng mắc những ưu tư phiền năo.

Tâm trí huệ thênh thang rộng lớn

Sáng trong ngần chẳng bợn mảy trần

Làu làu một tánh viên chân

Bao trùm vạn loại chẳng phân Thánh Phàm”.

Đó là lời trong Kinh Bát Nhă.

Ta phải quyết ḷng tu sửa, tạm mượn thân tứ đại, dùng trí huệ sáng suốt, chuyển hóa bản tâm cho thật sự thanh tịnh trong sáng, không c̣n ô nhiễm bởi những niệm trần vô thường giả tạm.

NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

 BÀI GIẢNG

Kính thưa đại chúng !

Hôm nay sau khi chi Thiền, quán sát nhân duyên nên nhận biết rơ rằng các pháp vốn không, đến con người của ta cũng chỉ là không ( ngũ uẩn giai không ), nhớ lại Kinh Bát Nhă :

Khi hành Bát Nhă Ba-La

Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng

Xét ra năm uẩn đều không

Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua.

Này Xá Lợi Tử xét ra

Không là sắc đó, sắc là không đây

Sắc cùng không chẳng khác sai

Không cùng sắc cũng sánh tày như nhau.

Thọ Tưởng Hành Thức uẩn nào

Cũng như sắc uẩn một màu không không

Này Xá Lợi Tử ghi ḷng

Không, không tướng ấy đều không tướng h́nh.

Không tăng giảm không trược thanh

Cũng không diệt không sanh pháp đồng

Vậy nên trong cái chơn không

Vốn không năm uẩn cũng không sáu trần

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ư, thân

Vị hương xúc pháp cùng phần sắc thinh

Từ trong giới hạn mắt nh́n

Đến không ư thức vô minh cũng đồng.

 

Với bài Bát Nhă trên, chư Tổ muốn nương thần lực của Phật, để chỉ bày đến Tự Tánh thanh tịnh sẵn có nơi mọi con người. Nói đến nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư đều không v́ ta thường hay chấp trụ, dính mắc vào hoàn cảnh mà sanh tâm niệm. Tâm niệm sanh diệt là nhân của sự luân hồi. Ta có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, nhưng ở đây lại nói là không. Tại sao vậy ? V́ cái thấy bằng mắt, nghe bằng tai, ngửi bằng mũi, nếm bằng lưỡi, sự tiếp xúc sắc trần do thân cảm thọ có xúc chạm đó là duyên hợp. Ư nghĩ duyên theo sáu trần nhận là của ta, đó là sự chấp trước của phàm phu, nhận cái có này là ta, không nhận biết đó là vô thường, luôn sanh phiền năo, đau khổ, cái có này không thường c̣n. Nên Phật dạy nó vốn là không v́ nó sanh diệt, không thật thể ở trạng thái nào cố định cả.

Thấy bằng mắt nên vừa thấy cảnh vật, nào là vàng bạc, xe cộ, vợ con, ruộng vườn, đất đai, danh lợi tưởng là thật, sanh tâm yêu mến, thích ưa, mê đắm nhưng đó chỉ là bóng dáng của trần không thật. Khi được th́ mừng rỡ, yêu thương. Khi hết duyên không c̣n, th́ đau khổ, phiền năo đó là cái thấy bằng mắt của phàm phu mê muội. Cho nên Phật dạy cái thấy này là không, nghĩa là không thật đó là Nhăn Thức. 

Nghe bằng lỗ tai th́ tham, sân, si nổi lên. Khi tiếp nhận những âm thanh, giọng điệu, thăng trầm do nhân duyên gá hợp, chợt đến, chợt đi, khi th́ yêu thương, lúc th́ hận thù. Nó luôn thay đổi tùy theo hoàn cảnh, khi có, khi không, không thật nên nói là không ( Nhĩ Thức ).

Mũi tiếp xúc mùi vị sanh tâm ưa thích nhưng mùi vị cũng không bền, mà ta lại có tâm luyến thích, nó sẽ tan mất khi hết duyên. V́ không thật nên khi mất rồi mà ta vẫn c̣n luyến tiếc cái không thật, nên Phật dạy đó cũng là không ( Tỷ Thức ).

Lưỡi th́ thích món ngon vật lạ, t́m kiếm ăn uống cho được với cái tham cho thỏa măn. Nếu c̣n ngoài miệng cho là ngon, nhưng vừa qua khỏi cổ ăn nhiều th́ sanh ngán, nôn mửa. Do đó, sự tiếp xúc này cũng không thật, có đó chỉ tạm bợ. Phật dạy nó cũng không đó là do thức biến hiện trong chốc lát v́ lầm chấp nên ta cho là thật ( Thiệt Thức ).

Thân thường yêu thích được sang trọng, hưởng thụ sung sướng, được vợ đẹp, được đời sống êm ấm cho đó là thật, nhưng đó là phương tiện tùy duyên mà có. Nếu cứ cho là c̣n măi, đến vô thường thay đổi th́ sanh tâm đau khổ, phiền năo đó là cái nh́n mê muội của phàm phu.

Ư thường tung tăng chạy nhảy sanh hết niệm này đến niệm khác, tương tục không ngừng đó là ư niệm không thật. Là nghiệp lực của thói quen mà con người đă nhiều đời huân tập. Không thật, không bền, nên nói ư cũng không thật v́ đó chỉ là ư của niệm điên đảo. Nếu tất cả sự thấy phàm phu điên đảo chỉ là không, hoàn toàn đo thức biến hiện ( tâm viên ư mă ) người giác ngộ sáng suốt phải chuyển thức thành trí.

Nếu sử dụng sự thấy biết bằng trí th́ tất cả danh lợi, tiền bạc, sắc t́nh đều không, đều là giả tạm. Thời Đức Phật có ông Da-Xá là đệ tử của Phật, dùng mắt trí huệ thấy cô gái đẹp biết rơ cái không thật nên cho đó là tử thi, nhưng nếu là phàm phu th́ cho đó là đẹp. Đức Phật nói rằng đời trước ông Da-Xá làm ở nhà thiêu tử thi, lúc đó ông thiêu người đàn bà có mang, khi cháy, ông thấy đứa trẻ nhỏ rớt ra, ông gớm vô cùng. Nếu ta nh́n bằng mắt phàm phu th́ thấy họ đẹp, nếu nh́n bằng trí th́ thấy đó là tử thi. Biết được như vậy nên không đắm nhiễm.

Trong Hội Linh Sơn, Đức Phật đưa cành hoa sen lên, lúc đó trong đạo tràng mọi người đều thấy nhưng cái thấy đều khác nhau. Ngài Ca Diếp th́ thấy bằng trí nên mỉm miệng cười (niêm hoa vi tiếu). Đức Phật không chấp nhận cái thấy của những người khác v́ Ngài biết đó là cái thấy c̣n phân biệt của phàm phu. Ngài Ca Diếp sống bằng trí tức là sáng suốt, là giác, là Phật trí. Nếu nh́n bằng mắt, nghe bằng tai, sanh tâm niệm này nọ kia, tốt, xấu, khen, chê, hơn, thua, phải quấy là cái thấy nghe mê muội của phàm phu. Trong kinh Ngài Bồ Tát Thường Bất Khinh nói : “Tại sao ḿnh lại bỏ ḿnh, cô phụ ḿnh, thậm chí có trí mà không dám xài cái trí của chính ḿnh đó là Phật trí, mà chỉ biết xài cái tầm thường củu thế gian?”. Trong đêm tối Phật dùng trí huệ làm đuốc để soi rọi các pháp.

Khi vừa thấy nghe ta phải nhanh lẹ bật đèn trí huệ lên ( nhờ đèn trí huệ quang minh soi đường ) th́ thấy được, tham, sân, si, phiền năo, giận hờn, ghen, ghét. Sáng suốt thấy được th́ nó liền biến mất v́ lúc đó ta đang sống với trí tuệ. Các việc phiền năo, sân si v.v… là do thức biến nhưng ta dùng trí hóa giải, chuyển biến nó được, lúc đó gọi là b́nh đẳng tánh trí. Tức là đang sống hiện tại với tánh b́nh thường an ổn. Không c̣n nóng giận, phiền năo, đấu tranh, đẳng cấp nào cũng như nhau, không c̣n cao thấp tính toán hơn thua nữa. Đó là thường sống với trí Phật, trong kinh nói : Nơi thức thường biến của ta có cái tàng thức là kho chứa tất cả pháp, nên khi vừa mắt thấy, tai nghe, khi đđđụng chạm, sờ, mó, cầm nắm, người giác ngộ khi đụng vào sắc đẹp như đụng vào tử thi, c̣n mê muội sanh ưa thích nghĩ đó là đẹp đó là  mê sắc. Người trí huệ khi ôm giữ tiền bạc, vật chất cũng không sanh ḷng tham nhiễm, v́ biết rằng nó sẽ làm cho ta phiền năo, đây là nguyên nhân sự tranh chấp khổ đau. Người trí thấy tất cả việc này đều là phương tiện dùng để cứu giúp chúng sanh, nếu hết duyên có mất đi cũng không sanh tâm phiền năo, đau khổ, tiếc nuối. Chúng ta có trí mà bỏ quên không sử dụng. Tàng thức này có tên là thức thứ tám là A-lại-da. V́ sao gọi là A-lại-da ? V́ từ xưa nay mỗi khi ta nghe, thấy, đụng chạm, ngửi, nếm, tất cả mọi cảm nhận đều đem chứa ở a-lại-da, toàn là khổ đau đó là sống với sanh diệt. Phàm phu nơi chứa này ta thấy nhà cửa, xe cộ, đất đai, tài sản, vợ con v.v… hoặc sự đụng chạm, sờ mó, cũng đều chứa trong đó. Nhưng ngày nay v́ giác ngộ thấy đó đều là phương tiện, dùng nó làm phương tiện để có kinh nghiệm, đem trí tuệ sáng suốt biến hóa làm bài học giác ngộ, đó là thức đă biến thành trí.

 

 

Khi việc đến không như ư th́ ta buồn khóc, giận hờn, nhưng nay biết đạo rồi, biết tu nhờ sử dụng trí huệ. Biết rằng dùng thức th́ đau khổ, nên thường sống với trí trong sáng được an ổn, bằng ḷng không phiền trách v́ tất cả đều là nhân quả không thay đổi được.

Ngày xưa ta tham sắc, tham của, tranh giành của cải tài sản. Bây giờ với sự thấy nghe, đă khác, không c̣n tâm niệm đó nữa. Trong kinh nhà Phật có nói rằng các Bồ Tát có thể biến thức ăn thô xấu thành thức ăn cao quư. Phật muốn dạy rằng, từ xưa nay ta đă ăn vào tâm thức, tức đem vào tâm chất chứa nuôi dưỡng những việc thô xấu, nó đă ngấm ngầm ngủ trong tâm thức, nào là giận hờn, ghen ghét, ích kỷ, hẹp ḥi, tham lam, tư lợi, ngă mạn v.v… dẫy đầy chứa trong tàng thức. Nhưng bây giờ ta dùng trí, biến những thứ này trở nên thanh tịnh, cũng giống như người biết nấu ăn đem những thực phẩm vụn vặt, tỉa gọt sạch sẽ, biết dùng kinh nghiệm của ḿnh biến nó thành thức ăn mới thơm ngon do được tẩm ướp hương vị ngọt ngon, đó là do thợ giỏi chế biến ra, đến lúc dọn lên đều là thức ăn thơm ngọt, đậm đà như cao lương mỹ vị. Nếu người không kinh nghiệm, không biết chuyển đổi th́ cho dù thực phẩm có tươi ngon, họ cứ chặt, bằm không làm đúng cách, không biết chế biến bằng kinh nghiệm nấu ăn th́ cũng thành thô xấu. Ta phải thấy rằng từ xưa đến giờ măi nghe biết, thu thập những hoàn cảnh bất an, phiền năo, đau khổ chất chứa vô tâm, đó là cất giữ thế gian pháp. Bây giờ có duyên tu học, xem kinh, nghe giảng pháp, ta nhớ lại đem ra mà nghiền ngẫm bằng trí tuệ, quyết ḷng không xài nó nữa đó là biết sống với Phật pháp. Cho nên “Phật pháp bất ly thế gian giác”, nhờ pháp thế gian mà ta giác ngộ. Vậy từ đây ta đă chuyển thức thành trí, chuyển cái nghe phàm phu, không c̣n nghe bằng lỗ tai nữa. Chẳng hạn có ai chửi mà dùng lỗ tai để nghe th́ sân si nóng giận sẽ nổi lên, c̣n dùng trí th́ từ, bi, hỷ, xả bác ái sẽ sanh ra để ta t́m cách cứu độ chúng sanh, an ủi họ, có thể giúp họ ra khỏi nạn khổ. Như vậy cả người lẫn ta không ai c̣n khổ nữa. Nhưng muốn tu và hiểu biết đến chỗ này th́ phải học phải tu, hiểu nơi tự tánh. Không tu theo kiểu ôm chấp một ḿnh mà thực hành được, v́ ta đă luân hồi chịu nhiều khổ đau trong lục đạo, đến nay vẫn chưa thoát được. Trong Kinh Tổ Minh Đăng Quang dạy rằng :

Dễ ǵ tháo gỡ một lần cho ra

Nghiệp duyên chẳng chịu buông tha

Sức con yếu kém khó qua phép đời.

Ta phải nghiền ngẫm, tư duy quán xét thật kỹ v́ huân tập cuộc đời quá sâu dày, cần phải có niềm tin nơi Phật và phải tự lực tinh tấn, vượt qua mọi khổ ách của thế gian. Nếu tu mà không nghiền ngẫm giáo lư của Phật th́ làm sao hiểu biết thông suốt các pháp đều tùy duyên biến hiện. Có học giáo lư nhà Phật, mới biết tham, sân, si, phiền năo là ǵ, mới đủ khả năng chuyển đổi nó được.

Bây giờ có tu th́ tham, sân, si, phiền năo, ta dùng trí sáng suốt mới có thể có đủ khả năng biến nó thành lương dược Bồ-đề. Cũng giống như người có kinh nghiệm học nấu ăn, biết biến mọi thứ thành thức ăn ngon. C̣n người không đủ kinh nghiệm nấu ăn dù có thực phẩm ngon họ cũng không chế biến cho ngon được. Như vậy ta phải học phải nghiên cứu giáo lư, phải tư duy tu để phát huy trí tuệ. Khi ai nói ǵ ta phải nghe bằng trí, không nghe bằng lỗ tai, v́ lỗ tai thường là nơi tiếp duyên, tiếp vật. Chỉ có trí tuệ mới nhận được thật giả mà thôi. V́ trí là hào quang giác, là tự tánh thanh tịnh, b́nh đẳng không có sự hơn thua, phải quấy, khen chê, tốt xấu. Ai cũng có trí mà không xài, chỉ nghe, thấy bằng phàm phu, nên trong kinh nói rằng :

Mũi thường phải ngửi mùi thanh

Nghe bằng tâm trí đặng hay sửa ḿnh.

Nếu mê đắm th́ toàn ngửi mùi thịt cá, cho đó là thơm ngon. Nhưng người trí tuệ th́ khác, v́ sáng suốt biết được, khi ăn nó vào th́ ra sao ? Chắc chắn là ta nuốt sự đau khổ của chúng sanh vào ḷng. Vậy ra thế nào ? Người trí biết chọn món ăn, không ăn giành, ăn giựt, ăn gian, ăn lận, ăn mạng chúng sanh v́ chúng sanh chịu nghiệp mà mang thân súc sanh theo quả báo, nhưng đó có thể là thân bằng quyến thuộc của ta, có thể là cha mẹ ta nhiều đời, luân hồi trong lục đạo. Trong Kinh Báo Hiếu dạy rằng :

Lục thân quyến thuộc thi hài c̣n đây

Ta lễ bái kính người tiền bối

V́ ngậm ngùi nhớ lại kiếp xưa”.

Sự sáng suốt trí huệ biết được điều này mà phát tâm từ bi, không nỡ sát hại muôn loài.

Muôn loài nào khác chi ta.

Cũng cần sự sống lánh xa tai nàn.

Đức trí huệ biết v́ tham thân mà ăn uống sai lầm, biết rơ tác dụng của hậu quả như thế nào, đó là ăn bằng trí. Phàm phu th́ luôn t́m cái ăn trong giành giựt, sát hại làm đau khổ vạn loại.

Ngửi cũng vậy, rờ đụng cũng vậy, phải sống bằng trí, không cảm thọ, xúc cảm đảo điên, được vậy mới không c̣n luân hồi sanh tử. Nên người tu phải ngồi thiền tư duy, quán xét để thấy được bổn tâm, gọi là Bổn Lai Diện Mục. Tâm của ta từ xưa đến giờ vốn nó là không, nhưng khi tiếp xúc với các pháp thế gian, hoặc các cơi, nếu không có trí huệ nhận biết th́ đem chất chứa vào tạng thức ( phương pháp này là buông xả ) làm cho ta đau khổ vô cùng.

Khi nghe giảng pháp, xem kinh ta phải biết đang sử dụng ǵ ? Bằng thức hay trí ?

Lúc Phật giảng pháp ở Hội Linh Sơn, có số người nghe bằng lỗ tai nên không chứng ngộ được lời Phật dạy v́ vậy chán nản đi ra khỏi pháp hội đến 500 người. V́ họ đều nghe bằng lỗ tai phàm phu nên không được ích lợi. Phải nghe bằng tâm trí, mới tự sửa ḿnh được. Nghe đọc bằng trí tuệ, mới soi rọi, hóa giải nghiệp lực mê muội được.

Từ đạo tràng hay bất cứ ở đâu nếu không sử dụng trí tuệ th́ tranh giành, sân hận, oán ghét, độc tài, cô lập, phe phái, lợi danh c̣n trí huệ th́ không có những tâm này. Nghe, thấy, biết bằng trí th́ không có chuyện ǵ xảy ra cả. Vậy khi tỏ ngộ rồi phải nghe bằng trí, nếu sử dụng bằng lỗ tai chấp vào việc thế gian, khi nghe  người ta chửi th́ bừng bừng sân hận, thù oán, khổ sở. Chuyển cái nghe thanh tịnh sẽ có tâm từ ái, yêu thương, tha thứ, nhẫn nhục. Người không trí sẽ đánh mất Phật pháp v́ chỉ chứa toàn là phàm phu, như người có đủ tiền của, tài sản mà không biết đem ra sử dụng nên mang kiếp cùng tử, từ đời này sang đời khác. Giáo lư nhà Phật, dạy ta không chấp vào việc tu là phải cạo tóc, đắp y v́ Người cạo tóc, đắp y phải tâm Như Lai mới xứng. Vậy tu là biết chuyển Phật pháp, dùng Phật pháp chuyển đổi các pháp phàm phu, chuyển tất cả các pháp đau khổ thành an vui, hạnh phúc. Vậy người chuyển được các pháp này hiện ở đâu ? Đang sống ở đâu ? Đó là người đang sống vớí trí tuệ Niết Bàn, Cực Lạc. Người biết dùng phương pháp an ổn, được tất cả chúng sanh yêu thương. C̣n người thấy bằng tai, nghe bằng mắt, không làm ǵ được cả, đời này qua đời khác vẫn là phàm phu. Chúng sinh vẫn là chúng sinh, măi măi ta đừng nên cô phụ ta, ta phải thấy rằng cuộc đời có khi trầm khi bổng, có thạnh, có suy, có tốt, có xấu đó mới gọi là cuộc đời ( vô thường ). Đối với người trí huệ phải biết chấp nhận uyển chuyển, có sống được bằng trí mới vững tâm, vững bước cứu độ chúng sanh. C̣n nếu như ta cũng thấy bằng mắt, nghe bằng tai c̣n suy nghĩ phàm phu, cũng sân si như họ, chỉ đấu tranh hơn thua, giành giựt với họ th́ không xứng đáng là đệ tử của Như Lai. Ta không cứu được chúng sanh, không làm họ an ổn, như vậy cả ta và họ đều luân hồi sanh tử. Với trí tuệ ta phải thấy tiền tài vật chất danh lợi, vợ chồng, con cái chỉ là duyên tan hợp đó cũng chỉ là không.

Miệng thanh tịnh không hề buông lời nặng nhẹ, nhục mạ làm cho người đau khổ, không xảo trá, không lừa đảo. Trong kinh dạy :

Mở lời trước cạn xét suy

Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là

Bằng như lời nói thốt ra

Làm buồn kẻ khác th́ ta xin dừng.

( CLKS )

Lời nói bằng trí tuệ bằng đức độ, bằng sáng suốt đây mới là miệng của Như Lai.

Miệng ta là cánh hoa sen

Một khi hé nở một phen thơm lừng.

( CLKS )  

Đó là kim khẩu Như Lai thốt ra, lời vàng tiếng ngọc, tất cả đều đem lại lợi ích cho chúng sanh muôn loài.

Ai cũng cho là ta v́ ai cũng có đủ sáu căn, mà sao kinh lại nói, vô nhăn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ư ? Rơ ràng ai cũng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, sao lại nói là không ? Tất cả ai cũng cho là có. Nhưng Phật có hàm ư rằng : nếu ai dùng cái phàm phu của ḿnh để nhận xét là không thể thành Phật, đời đời phải chịu luân hồi đau khổ nên ta không dùng lỗ tai, dùng mắt mà chỉ dùng trí để thấy, để biết để hành động chân chính th́ tất cả những trí này đều là giác, nên nói Phật là chánh đẳng chánh giác, người đó là Phật vậy. Phật trước, Phật sau đều dùng trí huệ mà tại sao ta có trí huệ lại bỏ để chạy theo cái hư vọng thế gian ?

Có người cứ ngồi thiền gọi là thoại đầu và hỏi “Ai ? Ai ?” nhưng Phật nói ta không là ai cả. Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư th́ chẳng là ai cả, không có ai cả. Biết ḿnh có tự tánh, có trí tuệ, tất cả pháp hiển bày đều do dụng ư của Như Lai v́ không thể chỉ được.

Nếu trong suốt thời gian tu học, không có Phật Pháp, không có giáo lư th́ không ai biết được việc này.

Người học Phật pháp uyên thâm, phải biết thế gian là vô thường. Vô thường là nh́n bằng mắt trí huệ thấy các sự vật không phải của ta. Tài sản, của cải không là của ta, tất cả đều do duyên kết thành. Nhà cũng không có, thân cũng không có, chỉ là duyên tạm mà thôi, có hợp có tan đó là thấy bằng mắt trí huệ. Mắt phàm phu không biết được, thường bị lầm v́ nghe lời ngon tiếng ngọt dụ dỗ. C̣n nghe bằng trí th́ không ai dụ được cả. Phật không nô lệ ai cả, chẳng cầu xin được ǵ, nếu ta sử dụng được trí th́ Niết Bàn sẵn có, Cực Lạc sẵn có, chỉ tại ta không ứng dụng.

Đạo Phật là ǵ ?

Là biết sử dụng khéo léo mọi t́nh huống, mọi hoàn cảnh, đó là người biết sử dụng trí Phật của ḿnh. C̣n như gặp chuyện không như ư th́ buồn khóc, gặp chửi mắng th́ giận hờn, gặp sắc th́ mê đắm là người đó có tâm Phật mà không biết sử dụng. Giống như người bị bệnh có sẵn thuốc mà không chịu uống, phải sử dụng thang thuốc mà ḿnh sẵn có để trị ngay bệnh của chính ḿnh. Nếu ai thường bị bệnh nổi sân si th́ nên coi lại, biết ḿnh đă có thuốc mà không đem ra tự trị, cứ để con bệnh tự do phá hoại cuộc đời, nó măi phá hoại cuộc đời ḿnh không ngưng nghỉ.

Trong kinh Phật nói, nghiệp của chúng sanh vốn không thật có, v́ tham, sân si nên gọi là nghiệp theo duyên mà biến hiện. Nghiệp sân si này chỉ biến hiện khi gặp duyên, khi b́nh thường ta không thấy nó, nên nó không thật, tự đến rồi đi mà ta cứ tưởng có thật nên măi ôm giữ. C̣n mắt trí huệ, tai trí huệ, người ta không biết đến, khi nghe một người chửi mắng, một người trù rủa, một người sân hận, nếu sử dụng trí huệ ta phải làm sao ? Nghe như thế nào ? Ta phải biết ngay rằng chúng đến với ta là chúng dạ xoa, chúng địa ngục.

Khi họ vừa nổi sân là thấy ngay, tâm họ là địa ngục, vừa giành giựt là thấy tâm họ là ngạ quỷ. Vậy nên ta phải thương yêu, thông cảm t́m cách cứu chúng địa ngục, ngạ quỷ. Nếu ta sân lên nữa th́ cũng là chúng địa ngục, c̣n sáng suốt nhận định rơ ràng th́ Cực Lạc cũng là nơi ta đang ở, đang đứng hiện tiền. Vừa nghe thấy là trí tuệ bừng sáng, đó là cái nghe trí tuệ ( chuyển thức thành trí ), c̣n như nghe bằng lỗ tai phải tự cắt bỏ. Trong kinh nói : nếu để lỗ tai sanh tham, sân, si, phiền năo phải đi địa ngục, thà cắt bỏ nó đi Nếu c̣n để xài nó sẽ đọa luôn cả cuộc đời ta, nên bỏ nó là tốt hơn. Con mắt này v́ thấy mê muội nên tham, sân, si, phiền năo th́ phải bỏ ngay con mắt này, thà đui mắt phàm phu để c̣n mắt trí tuệ, thà mất hai mắt sẽ không đọa địa ngục, như vậy có cần nên bỏ hai mắt này không ? Phật nói nên bỏ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, vậy không có lục căn vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư. Con người có thói quen là tiếc, không bỏ được cứ xài từ vô thủy đến bây giờ không xa rời được vô minh.

Có nghe được lời pháp này bằng trí tuệ thông suốt th́ đâu c̣n ǵ vướng mắc nơi thế gian, đời đời kiếp kiếp có đâu luân hồi, hết già hết chết, trí tuệ sáng suốt trùm khắp không có ǵ che được cả. Mà lầm lẩn ta lại bỏ trí này, nên nói rằng “Ta có Phật mà lại bỏ Phật”, ta không dám công nhận rằng trí là Phật sẵn có mà lại theo ma, sử dụng mời thỉnh ma làm quyến thuộc, măi măi đời này đến kiếp khác. Người tu hay chấp vào sự tướng, ngồi ngay thẳng, dáng điệu trang nghiêm, sửa soạn quần áo tươm tất, áo măo đàng hoàng, lễ bái uy nghi ai cũng nghĩ đó là tu nhưng Phật nói tu không phải tu như vậy v́ vô nhăn, tỷ, thiệt, thân, ư là không. Đến thân cũng không phải là thân, tất cả đều không, mới là thân Như Lai, th́ đâu có tướng ǵ ( tướng ngă, tướng nhân, tướng chúng sanh, thọ giả ) đều không trụ. Tổ thứ 17 Tăng Già Nan Đề Tôn Giả nói :

Tâm địa vốn không sanh

Nhơn địa theo duyên khởi

Duyên giống chẳng ngại nhau

Bông trái cũng như vậy.

V́ người hay chấp vào âm thanh, sắc tướng nên có câu :

 

Dĩ kiến sắc cầu ngă

Dĩ âm thanh cầu ngă

Thị nhân hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai.

Như kiến sắc phi sắc

Như kiến thinh phi thinh

Th́ tất kiến Như Lai.

Nghĩa là thấy mà không thấy ( không chấp trụ cảnh là thật ) là thấy Phật hiện tiền.

Nhược kiến chư tướng, phi tướng tức kiến Như Lai.

Bỏ tướng mắt, tai, mũi, lưỡi cho là của ḿnh đi là tướng Như Lai. Vậy ta phải chuyển thức thành trí, chuyển những cái tốt đẹp yêu thương mà từ lâu nay ta đă chứa nó ở a-lại-da, nhưng đối với trí tuệ không c̣n công nhận cái tên a-lại-da nữa, nó cũng chuyển hóa là Như Lai Tạng do những pháp tham, sân, si, phiền năo chứa ở a-lại-da đă được chuyển hóa biến đổi thành Bồ-đề.

Với tánh giác của Như Lai Tạng, khi vừa phát hiện tham, sân, si ta phải dùng trí dùng lửa tam muội trí tuệ thiêu đốt, biến đổi không c̣n mê muội như trước đây nữa. Không c̣n so sánh phân biệt nơi mắt phàm phu bằng lỗ tai phàm phu. Trong kinh Phật dạy rằng : “Dù cho có kẻ nắm đuôi áo Như Lai mà không hiểu pháp Như Lai, không trí huệ Như Lai th́ kẻ ấy ở xa ta ngàn dặm”. vào thời Đức Phật có người chỉ nghe qua một thời pháp liền chứng đắc ngay, người nghe pháp bằng trí liền chuyển nghiệp mê muội thành tĩnh giác, nên nói rằng chuyển Phàm thành Thánh.

Thánh với phàm chỉ một bổn lai

Khác nhau kẻ tỉnh người say

Chớ th́ cũng như ai đủ h́nh

Nghe bằng trí th́ hỷ lạc

Nghe bằng trí là Niết Bàn

Nghe bằng trí là Cực Lạc.

Vậy phiền năo sân si không c̣n chỗ trụ nữa.

Pháp Kim Cang Bát Nhă này Đức Phật đă từ vô lượng kiếp, Ngài muốn truyền lại cho ta, nhưng rất khó nên phải nói là Bố thí cúng dường đề làm phương tiện dạy chúng sanh.

Bố thí cúng dường để giảm bớt đi ḷng ích kỷ, bỏn xẻn, hẹp ḥi, không nghĩ nhớ đến những ǵ huyễn giả, không thật nhận là ta. Chuyển những thói quen xấu xa trở thành yêu thương giúp đỡ, chia sẻ, coi vật chất thế gian là của chung v́ tất cả là ta, ta là tất cả. Không c̣n tâm phân biệt riêng tư, được  như vậy là sử dụng tâm từ bi trùm khắp muôn loài, ai ai cũng sống trong nguồn yêu thương vô hạn ( đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả ) tâm ḥa thế giới đồng ḥa.

Trong pháp bố thí Đức Phật đă từ bi dùng sự tướng, mượn nơi thân mạng ḿnh, để làm phương tiện dạy cho chúng sanh, hiểu biết sự bố thí bằng trí tuệ, bố thí bằng từ tâm thanh tịnh. Ngài dạy bố thí mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, đầu và luôn mạng sống của ḿnh. Có nghĩa là từ lâu nay cái thấy của mắt khi tiếp xúc với sắc trần do thức biến hiện liền sanh tâm huyễn, phan duyên theo cái thích ưa, ham muốn, thương ghét, vui buồn v.v… đó là sử dụng mắt thế gian phàm phu. Nên Phật dạy phải bố thí con mắt đó, phải  bố thí cái thấy mê muội v́ bố thí rồi nên không c̣n là chúng sanh nữa. Khi thức biến hiện chờ đưa vào a-lại-da không c̣n cơ hội v́ đă chuyển thành trí ( thấy Phật ) giác biết mọi sự hư huyễn, không thật, nên lúc này không c̣n cái thấy giả dối, đă bố thí rồi chỉ c̣n lại sự sáng suốt gọi là huệ nhăn.

 

* Bố Thí Ba La Mật :

 

Bố thí tai cũng vậy, khi tiếp xúc âm thanh ngọt ngào, âm điệu trầm bổng du dương hay những lời mắng chửi, thóa mạ mà sanh tâm niệm mê đắm, nếu nghịch tai th́ sanh tâm niệm oán hận, giận hờn phiền năo đó là cái nghe mê lầm của phàm phu. V́ biết đó không thật nên Phật dạy bố thí lỗ tai, c̣n lại cái nghe trí tuệ thanh tịnh, từ bi, bác ái không c̣n mê chấp, nên ta phải sống với cái nghe bằng trí.

Nghe kinh, nghe pháp, nghe bài

Nghe bằng tâm trí đặng hay sửa ḿnh. ( CLKS )

Mũi, lưỡi khi tiếp xúc với hương vị thơm, ngon ngọt th́ hài ḷng, những cái đó Phật dạy nên bố thí, sẵn sàng thí cái hưởng thụ phàm phu không thật này v́ Ngài biết đây là cái khổ của thế gian.

Bố thí đầu có ư muốn chỉ cho chúng ta phải bỏ đi cái đầu thường hay tính toán, gian dối, lợi dụng, mưu sĩ, phân biệt, hơn thua, ganh tị, sân hận, ganh ghét, bỏn xẻn, hẹp ḥi v.v… những thứ đó chứa trong cái đầu mê muội, Ngài muốn dạy chúng ta buông bỏ hoàn toàn, tức là bố thí đầu. Cái đầu thế gian đă làm ta đau khổ chịu luân hồi nhiều đời nhiều kiếp, để chuyển đổi lại cái đầu trí tuệ từ, bi, hỷ, xả trong sáng tinh anh ( vô lượng quang ). Có câu rằng :

Bỏ đầu ma ra đầu Phật, đó là ư nghĩa sự bố thí Ba-la-mật.

Thân th́ hay cảm thọ sự ưa thích sung sướng, hưởng thụ, ăn ngon, mặc đẹp, Ngài cũng dạy rằng những thứ đó là do đắm nhiễm sự tham lam, mê muội cần phải bố thí để sống với trí sáng suốt, nhận biết thường sống với pháp thân Phật là thân Như Lai không nhiễm.

Ư thường sanh niệm này, niệm nọ, niệm kia, nào là niệm vợ,  niệm chồng, niệm con cái, niệm tiền bạc, vật chất, nhà cửa, đất đai v.v… Ư thường sanh thương ghét, vui, buồn, sướng, khổ, phiền năo tất cả có đều là do vọng trần sanh diệt, chợt đến, chợt đi, luôn thay đổi qua từng trạng thái người mê muội thọ nhận cho là thật, măi đeo đuổi nắm bắt, khi mất th́ sanh tâm đau khổ.

Với sự sáng suốt Phật trí, hào quang trùm khắp biết rằng mê đắm là sự lầm lẫn của chúng sanh, nên Ngài dạy bố thí tất cả những vọng niệm sai lầm. Ngài dùng sự tướng nơi thân tứ đại để hiển bày pháp bố thí, đă hằng tập nhiễm nơi tâm chúng sanh nhiều đời, nhiều kiếp. Phương pháp bố thí này là bố thí Ba-la-mật, v́ nó chứa rất sâu dày trong tạng thức của mỗi con người. Ngày  nay phần đông ai cũng v́ sự tu thực hành pháp bố thí, ta phải biết nhận rơ thí tài vật là hữu vi pháp, phước đó vẫn c̣n trong lục đạo v́ nó có giới hạn. Bố thí bằng trí tuệ Ba-la-mật là thí mà không thấy người cho, không thấy người nhận đó là chân thật bố thí. Y như pháp thí, chánh hạnh bố thí, là đại bố thí mà Đức Phật muốn chỉ cho ta biết phước báu này vô lượng vô biên. Vậy ta phải đại hùng, đại lực, đại từ bi dùng gươm trí huệ đoạn dứt mọi sự là nguyên nhân tạo ra dính mắc cái đau khổ, như thực hiện pháp bố thí này th́ luôn được hàng chư Thiên ủng hộ, hằng hà sa số chúng sanh cúng dường, nếu vị đó ở đâu th́ chỗ đó đều an lạc, là nơi chúng sanh nương nhờ, là ruộng phước điền của tất cả chúng sanh.

Có Phật hiện tiền th́ giờ nào cũng là Phật cả, không đợi đến lúc chết để được Phật Di Đà đến rước. Ta phải là Phật hiện tiền, nếu thấy bằng mắt, nghe bằng tai là Phật đă tịch diệt. Nghe thấy bằng trí Phật hiện tiền, ai ai cũng có Phật hiện tiền, nhưng v́ măi sử dụng bằng tính chất phàm phu nên dù có Phật đó mà Phật đă tịch diệt.

Hàng chư Phật, hàng chư Tổ thường đến gần ta để chỉ dạy ta hăy trở về với tánh Phật. Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy rằng : “Ta bà đại sự nhân duyên mà thị hiện nơi thế gian này, để chỉ cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” ( thấy lại tánh Phật ).

Người tu Phật cần phải biết mở mắt Phật, mở tai Phật, mở miệng Phật, thường sống tánh Phật, thường sử dụng pháp thần thanh tịnh ( Hoa Khai Kiến Phật ngộ vô sanh ). Vậy ngày nay nhiệm vụ người tu đủ duyên mang h́nh ảnh Phật đến với thế gian, có bổn phận cao cả trọng đại là chỉ cho mọi người thấy được tánh Phật, phải tự tu nơi chính ḿnh. V́ nơi tánh Phật có đầy đủ công đức ( Tự quy y Phật ) nên được nghe, được hiểu rồi đó là nhân duyên lớn đối với người học Phật. Phải nh́n lại coi chứa những ǵ nơi tâm, những ǵ c̣n ô nhiễm, hăy nên nh́n kỹ lại mà tẩm ướp chuyển đổi, nếu không th́ không ai chịu nổi v́ chất chứa tham, sân, si quá nhiều, khi mở miệng ra chỉ đem đau khổ hay phiền năo cho mọi người.

* Hương Trí Huệ :

Không tự độ cho ḿnh trong sạch th́ gọi là uế độ, đến đâu đều hôi hám mở miệng đều hôi hám, làm mọi người buồn bực, tất cả đều dơ uế.

Nếu tất cả được chuyển hóa bằng trí sẽ phát xuất ra hương thơm. Hương thơm tỏa ra nơi đâu cũng an lành, hạnh phúc, toát ra từ, bi, hỷ, xả, từ tự tánh thanh tịnh sẵn có, đó là giới hương, định hương, giữ huệ hương, giải thoát giải thoát tri kiến hương ( Ngũ phần hương ).

 

Quang minh vân đài biến pháp giới

Cúng dường Tam Bảo khắp mười phương.

Tất cả hương thơm này mọi người sẽ tiếp nhận cùng khắp mười phương, cúng dường chư Phật, tất cả muôn loại vạn vật đều thu sự b́nh an, chan ḥa Cực Lạc khắp cùng vũ trụ.

Gieo lan hạt giống Bồ đề

Xanh tươi cành lá xum xuê cội tàng.

Cũng lời nói người biết chuyển đổi th́ :

Mở lời trước phải xét suy

Rằng khi cất tiếng ích chi chăng là

Bằng như lời nói thốt ra

Làm phiền kẻ khác th́ ta xin dừng.

Nói chi mắng nhiếc tưng bừng

Lưỡi đào hố nghiệp biết chừng nào tan.

Miệng ta là cánh hoa sen

Một khí hé nở một phen thơm lừng.

Tiếng ta là gió mùa xuân

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát ḷng. ( CLKS )

Được như vậy miệng phàm phu đă được đổi lại là miệng Thánh Nhân của Bồ Tát, của Phật v́ lời nói hành động hàm chứa ḷng yêu thương, lợi ích muôn loài. Nếu chỗ này không thấy được, th́ dù có tu bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp vẫn luân hồi trong lục đạo mà thôi.

Thời pháp này mong rằng trong đại chúng ngộ nhận được là ta đă có duyên lành, đă được đọc, nghe nên ghi nhận sáng suốt tự xét lại ḿnh. Cần lưu ư khi tu thiền thấy ḿnh chỉ là không, chẳng là ai là ǵ cả, Kinh Bát Nhă nói rằng : vô nhăn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư nên trong kinh Tổ dạy :

 

Vậy nên trong cái chơn không

Vốn không năm uẩn cũng không sáu trần

Mắt tai mũi lưỡi ư thân

Vị hương xúc pháp cùng phần sắc thinh.

Từ không giới hạn mắt nh́n

Đến không ư thức vô minh cũng đồng

Đó là nhận biết ta có tánh Phật, trắng trẻo, trong suốt thanh tịnh.

Tâm trí huệ thênh thang rộng lớn

Sáng trong ngần chẳng bợn măi trần

Làu làu một tánh viên chân

Bao trùm vạn loại chẳng phân tánh phàm.

V́ phàm phu mê muội, ta đem chứa trách móc, sân hận, khổ đau, phiền năo, đau khổ vào a-lại-da, làm bận bịu nó gọi là tàng thức. Tất cả những thứ đó nếu có chứa mà nay biết dùng trí huệ biến đổi chuyển hóa, th́ khi mở lời nói toàn là Phật pháp, không c̣n là thế gian pháp nữa, tất cả pháp thế gian đều biến thành Phật pháp. Đức Phật đă biến đổi pháp thế gian thành Phật pháp, tất cả hoa lá, cỏ cây, rừng rú, núi non đều là Phật pháp. Nếu ta chưa sửa đổi được mà nói lên câu ấy th́ mang tội vọng ngữ, c̣n đă chuyển được nghiệp mê lầm thành sáng suốt đó là Phật ngữ. ( lời nói của Phật )

Cầm kinh mà nói tất cả đều là Phật pháp khi tâm đă chuyển, nói là Phật chuyển. Tất cả chúng ta nên nói lời chân thật, nên nghe bằng trí tuệ, hành động bằng trí tuệ. Ai nói, nghe bằng trí tuệ th́ người đó là Phật. Phật ở không xa, Phật hiện tiền, Phật ở tại ḷng ta (Tâm tức Phật, Phật tức Tâm). Nếu như đang ngồi đây mà nhớ đến phiền năo tức là tâm đang niệm phiền năo.

Niệm sân si, trách móc, oán thù th́ ngay lúc đó Phật tịch diệt, nghĩa là Phật ở nơi tâm ta đă chết rồi, th́ coi lại ai đang ở nơi tâm ta đây ? Đó chính là ma, v́ Phật ma, ma Phật tại nơi ta, biết quán chuyển th́ ma thành Phật, không quán chuyển th́ Phật thành ma.

Ta đă tiếp thu được nên sống bằng trí tuệ, nghe thấy bằng trí tuệ, đừng đem sự thấy biết của thế gian chứa vào tạng thức. Chẳng hạn như vừa nghe một âm thanh chợt đến hoặc thấy vật ǵ, phải liền dùng trí, không sử dụng thấy nghe bằng phàm phu, mới đền đáp công ơn chư Phật, công ơn Thầy Tổ, công ơn chúng sanh, công ơn của thân bằng quyến thuộc cha mẹ nhiều đời, nhiểu kiếp, nếu không ta phải bị đọa măi măi. Ta không có quyền cho ta là phàm, mà cũng không được cho ta là Thánh, v́ Phật Tánh đă có sẵn sự sáng suốt, tức là trí, trí là đồng với Phật. Nếu c̣n nhận cái mê lầm, đó là do mê muội, mà nhận đó là phàm phu. Ai ai cũng có trí huệ Phật sáng suốt không ai có quyền chối bỏ.

Lịch sử Đức Phật đă bố thí mắt, tai, đầu, thân, nghĩa là buông xă tất cả, nếu biết bằng trí th́ không có pháp ǵ, c̣n nhận thân là nhận ngă, nghĩa là có mắt, có tai, có suy nghĩ cho rằng ta có t́nh yêu, có tài sản có vật chất, đó là ngă. V́ các pháp vốn không thật v́ lầm nhận là thật cho là có đó là không sống được bằng trí.

Ta ngồi nhập định phải bỏ lỗ tai, không c̣n nhận cái nghe thế gian đó là nghe bằng trí. Nếu ngồi nghe ta không có ǵ hết đó là trạng thái trống không. Nhưng trống không ở đây, không phải là không ngơ, có nghĩa là trống hết mọi vọng niệm, lăng xăng xen tạp, không c̣n đau khổ vui đùa cùng tính toán, ham thích sắc trần nữa đây là trạng thái vắng lặng tham, sân, si. V́ đó là trí tuệ, đă nhận biết nó không thật, đó là những chủng tử mê lầm là nguyên nhân tạo nghiệp để dẫn ta đến luân hồi sanh tử. Cái biết trống không này là định, hiểu biết các vọng niệm không thật, đó là huệ v́ chỉ có trí huệ sáng suốt mới biết được những thức biến hiện này là giặc phiền năo… Trong kinh dạy rằng :

Chúng sanh thường nhận giặc làm con”.

Với trí huệ này, thấy được pháp thế gian hoàn toàn vắng lặng nhưng vẫn chiếu sáng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, ḷng thương yêu khắp cùng nhân loại.

Từ xưa đến nay mắt đối cảnh, tai nghe gặp thức biến hóa muôn ngàn điều sai biệt thành pháp thế gian là : phải quấy, hơn thua, tốt xấu, ghét thương, đó chính là nghiệp thức triền miên nó luôn gắn bó với người mê muội tạo thành đau khổ, không hề gián đoạn. Tổ thứ 30 là Tăng Xán Đại Sư dạy rằng :

Giống bông tuy nhờ đất

Do đất giống bông sanh

Nếu không người ươm giống

Bông giống hẵn không sanh.

Nhập định rồi biết rằng, nếu sống với thức là sai, biết rơ mọi vật do tâm sanh đều là không, đó là trí huệ. Như ai chửi mắng, nhục mạ ta, biết đó là do nhân quả, v́ ta cũng đă từng làm khổ họ trong lúc c̣n mê muội. Giờ sáng suốt, hiểu biết được phải hết ḷng thông cảm, phải thể hiện hành động nhẫn nhịn để làm gương mẫu hóa giải sự mê muội của họ.

Những sự giả tạm thế gian ta tạo dựng có khi không được hưởng, v́ tưởng lầm là thật của ḿnh đến khi hết duyên, không c̣n nữa, liền sanh tâm đau khổ, phiền năo, đó là phàm phu mê muội, cứ măi chạy theo cảnh, quên sự thanh tịnh sẵn có sáng suốt nơi chính ḿnh. Nếu biết rằng các duyên đến rồi đi là sự biến hiện của các pháp thế gian, Phật nói đó là trạng thái vô thường thành, trụ, hoại, không. Phải biết nếu c̣n duyên th́ sử dụng đối đăi, nếu hết duyên th́ thôi không sanh phiền năo, đó là biết sống với trí huệ, bằng ḷng với sự tùy duyên, được vậy th́ thức không có cơ hội biến hiện nữa. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng :

Pháp vốn pháp không pháp.

Không pháp pháp cũng pháp

Nay nói pháp không pháp

Pháp pháp nào từng pháp.

Như các pháp vốn tùy duyên sanh.

Pháp vốn không thật do duyên sanh nên có, v́ không thật, vô thường nên nói là không Phật pháp không ĺa thế gian.

Nếu chuyển thức không được để sống với trí huệ th́ ta phải tranh đấu giành giựt, oán hận, khổ đau, nên ta cũng là những chúng sanh tham đắm. Họ sống bằng mắt, ta cũng sống bằng mắt, họ nghe bằng tai, ta cũng nghe bằng tai, họ suy nghĩ bằng tính chất phàm phu, ta cũng suy nghĩ phàm phu. Ta phải biết các pháp thế gian là sanh trụ, dị, diệt, không pháp nào đứng vững cả, đều là vô thường, v́ có h́nh tướng nên thường biến đổi. Vậy ta phải sống bằng trí tuệ từ chỗ, ăn mặc, nói năng, hành động, ngồi thiền, phải học Phật pháp để biết các pháp đều chịu luật thay đổi vô thường thành, trụ, hoại, không, đó là tạm thời do duyên gá bợ nhau mà thành.

V́ gồm đủ duyên nên có thân, nhưng nếu ngày nào hết duyên nó sẽ không c̣n. V́ vậy các pháp do duyên sanh, cũng do nơi duyên diệt, nên chúng ta không sống theo sanh diệt mà sống theo trí huệ. Nếu chạy theo sanh diệt, khi giàu th́ vui cười, sung sướng hả hê, nghèo th́ phiền năo đau khổ đó là mê muội, phàm phu luôn sống theo tâm, niệm phan duyên sanh diệt. Phật nói : “Các pháp tùy duyên sanh cũng tùy duyên diệt”. Không trụ chắc ở chỗ nào cả, vậy ta phải coi kinh, học kinh phải nghiền ngẫm kinh sách bằng trí tuệ, nghe kinh chỉ đọc tụng, mà không nghe thấy bằng trí tuệ sáng suốt để nhận định th́ cũng nghe đọc bằng hiểu biết phàm phu, đó là ma thuyết pháp Phật. Tâm ta là phàm phu là phiền năo đó chính là tâm ma thuyết pháp Phật. Tâm ta là phàm phu, là phiền năo đó chính là tâm ma, nên nói rằng ma nói pháp Phật.

Nếu người chưa sáng suốt mà diễn nói tự cho là có trí tuệ là vọng ngữ, giờ giờ, phút phút phải sống bằng trí. Ngài Xá Lợi Phất nói với Phật rằng : “Trong chiêm bao con vẫn sống bằng trí”. Có những người bên ngoài thấy đàng hoàn, mà khi chiêm bao vẫn lung tung, thấy đánh lộn, ăn trộm, tham lam, tà dâm, sát sanh hại mạng. Như vậy người giác ngộ đến chiêm bao cũng phải sáng suốt, biết hiện giờ ḿnh là người tu, phải quán sát bằng trí tuệ, thức không c̣n biến hiện, đó là diệu quan sát trí. Ta phải quan sát, biết thật rơ, để không vướng mắc mê lầm, phải thường thấy rằng từ xưa đến bây giờ trong tâm ta chứa những ǵ ? Phải sáng suốt đến chiêm bao, chỗ này nói rằng thường niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng ta là Tam Bảo. Ta không chạy theo vật ǵ, hoàn cảnh ǵ hay theo ai cả, ta không quên Phật ( Trí Giác ). Người học Phật trí nhớ phải kiên cố, lúc sân si lên phải biết phiền năo đang nổi dậy, lúc nào cũng phải thường sống với trí huệ không để tham sân si nổi lên đă được chuyển hóa hoàn toàn gọi là thuần. Kinh Duy Thức gọi là b́nh đẳng tánh trí, đă trở thành Tam Thân Tứ Trí. Ta cần phải quán xét ai cũng phải học Kinh Phật mới biết cách tu “học kinh, học pháp ngồi thiền tư duy”. Người tu không dành chỗ ở, quyền lợi v́ tất cả đều là vô thường giả tạm, không bền chắc, ta phải sống bằng trí tuệ thanh tịnh.

Ta nên xem lại những người thường sanh giận hờn, phiền năo v.v… đó là chúng của Tam độc, họ không phải là chúng Chư Thiên v́ chúng Chư Thiên thường nói lời lành, lời tốt đẹp, ta phải gần gũi họ, nhắc nhở, khuyên lơn để họ được sáng suốt đó là độ họ. Nếu ta cũng như họ, cũng ở trong tam độc vậy ta cũng cùng nghiệp với họ. Nếu ta ở chung với chúng đau khổ, nơi đó mà ta sáng suốt là ta đă tách ra khỏi nơi đó gọi là biệt nghiệp. Tuy ở chung nhưng không chung nghiệp với họ, đó là Bồ Tát tùy duyên v́ hạnh nguyện hóa hiện vào địa ngục cứu độ chúng sanh (ngũ trược ác thế). Tuy vào đó nhưng không ở đó ( vô trụ ) nếu dính mắc nơi nào th́ cộng nghiệp nơi đó, phải t́m cách cứu giúp họ, khuyên giải họ. Phật nói v́ chúng sanh bệnh nên đem thuốc cho họ uống, những lời ta nói ra mà họ hết khổ, đó là lương dược. Người này đủ đức độ giúp họ hết mê lầm, sáng suốt, hết khổ gọi là Dược Vương Bồ Tát. Chúng chư Thiên thường nói lời bố thí, nói lời lành chơn chất, luôn an ủi giúp đỡ mọi người.

Chúng Bồ Tát, Phật luôn sống với trí huệ sáng suốt, không bao giờ có phiền năo, sân si, hận oán, tự tư tự lợi, độc tài ích kỷ.

Ta phải biết việc này nếu người chuyên nghe pháp, nhưng chưa sống được bằng trí, mà vẫn kiên cố giữ ǵn chắc chắn đó là chúng Thinh Văn, mặc dù họ không phạm điều ǵ, dù c̣n khổ tâm vẫn kiên tŕ lo tu, cố dằn, cố chịu đựng họ c̣n khổ chưa sáng suốt chưa sống được bằng trí tuệ.

Nếu người giữ y pháp luôn sống theo pháp, dùng trí tuệ để làm ngọn đèn rọi khắp mọi nơi đều thấy rơ khắp cả ( nhờ đèn trí huệ quang minh soi đường ).

Trong kinh Phật nói : hào quang rọi khắp mười phương thế giới, từ địa ngục đến Niết Bàn, dùng trí Phật để thấy tất cả. Nếu là chúng ǵ th́ phát xuất theo hành động do nghiệp, duyên chúng đó. Ta phải thật sống như vậy th́ nơi ta đang ở sẽ là Cực Lạc Thế giới, đó là Niết Bàn. C̣n nếu chỉ nghe bằng mắt, bằng tai, nghe biết bằng việc thế gian, th́ nơi đó hiện là địa ngục.

Lời cuối cùng, rằng ai cũng nên sáng suốt, hăy sống bằng trí huệ sẵn có của chính ḿnh, nhận biết các pháp bằng hào quang, đại quang minh vi diệu, đó là pháp giới tạng thân luôn sống với Đại Viên Cảnh Trí v́ đă ĺa được tam tâm ( tâm quá khứ, tâm hiện tại, tâm vị lai ), tứ tướng cũng không c̣n đó là ( tướng ngă, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả ).

NAM MÔ BÁT NHĂ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT

 

    Qua bài giảng của Thầy, người viết xin chia sẻ những ǵ được biết cùng đọc giả. Với cái nh́n đối diện của thế gian, th́ rơ ràng ai cũng có lục căn, nhưng Phật dạy là không. Đó là Phật muốn dạy cho chúng ta biết rằng tuy có đó, nhưng có này cũng do duyên biến hiện, tạm có vô thường, không thật, nó hoàn toàn không ở vị trí nhất định nào cả, luôn luôn thay đổi qua nhiều trạng thái theo hoàn cảnh vô h́nh là khổ, vui, buồn, giận, thương, ghét … hữu t́nh là thân mạng, nhà cửa, xe cộ, đất đai … sẽ theo thời gian mà tan hoại là những sự chấp trước, dính mắc. Thường cho là cái buồn của tôi, tôi vui, tôi giận, tôi thương, tôi khổ, cho những vọng huyễn không thật là tôi. Nó là không thật mà ta cứ nhận là ḿnh, Phật dạy đó là chấp ngă ( ngă, nhân, chúng sanh, thọ giả ). V́ cho ngă là tôi nên măi ôm chấp, sợ mất cái tôi nên cứ ǵn giữ đó là nghiệp, là thói quen do thức biến hiện, sanh ra đủ thứ tâm niệm, mà lầm tưởng đó là tâm nên nhận tâm huyễn này trôi dần trong lục đạo khổ đau. Ta phải quán sát vào bên trong, xoay lại cái nghe thấy cho sáng suốt, để biết rằng tự tánh thanh tịnh của mỗi người không hề vướng bận một mải trần nào, không có cái nào là ta cả. Nói không là không buồn, không giận, không tham, không sân … đó là đă vắng lặng các pháp thế gian, nhưng sự sáng suốt của thanh tịnh nơi đó có từ, bi, hỷ, xả, bố thí lục độ, tứ nhiếp pháp Bát Chánh Đạo … là pháp bảo, nó đầy đủ sáng suốt. Nếu biết sử dụng, ta dùng pháp bảo này làm thân, gọi là pháp thân. Đây là thân của Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, pháp thân Phật, không c̣n xài phàm thân nữa. Người sống với pháp thân th́ không c̣n tranh đua theo thế tục, luôn thương yêu, nhẫn nhịn, vui vẻ, xă bỏ, làm việc bố thí v́ muôn loài. Đức hạnh bao la này là của Bồ Tát, đó là tự tại Bồ Tát Quán Âm nhĩ căn viên thông tầm thinh cứu khổ v́ Bồ Tát đă thông suốt thấy rơ các nạn khổ của chúng sanh. Biết được thế gian là ǵ, dùng trí tuệ sống và hành động xuất thế gian.

Quán sát được pháp thế gian là huyễn, không thật do trí huệ sáng suốt chiếu soi là Diệu quan sát trí.

Dùng trí huệ biết không vướng mắc, an ổn, bằng ḷng nơi các pháp dù thuận hay nghịch không sanh tâm đau khổ, mừng vui, thương ghét, sống với tâm b́nh thường là b́nh đẳng tánh trí.

Sáng suốt với trí huệ biết đầy đủ các pháp dù xấu tốt không khởi tâm phân biệt lúc nào cũng an ổn, hoan hỷ cứu độ, chúng sanh đó là Đại viên cảnh trí.

Ngũ uẩn giai không (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ta phải vượt qua mọi khổ ách, đó là tinh tấn mà người tu học Phật nên cố gắng thực hành.

NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 

TU QUÁN

 

Con những tưởng đời là có thật

Nên mê lầm giành giựt đua tranh.

Sống trong ảo mộng giựt giành

Luân hồi nhiều kiếp cam đành lệ rơi

Sóng trần ch́m nổi chơi vơi

Hụp trồi biển nghiệp tả tơi xác hồn.

Xuân qua Đông lại bao lần

Tử sanh, sanh tử chịu phần đắng cay

Suy tư than vắn thở dài

Làm sao thoát chốn đọa đày trần gian.

Muốn tu khó nỗi t́m đàng

Đâu đâu ôi cũng ngập tràn vô minh

Măi cầu, măi lạy, măi xin

Nhưng sao chẳng thấy bóng h́nh ai cho.

Hữu duyên nay gặp chuyến đ̣

Từ bi Thầy dạy lần ḍ tầm phăng

Gặp rồi sám hối ăn năn

Quán Âm soi xét lục căn nơi ḿnh

Nơi đây có sẵn diệu minh

Từ bi sáng suốt pháp linh nhiệm mầu

Học tu xét nghiệm cho sâu

Tu bằng tánh tục chỉ thêm năo phiền.

Thấy rằng vọng huyễn là duyên

Hợp tan, tan hợp đảo điên sắc trần

Âm thanh sắc tướng xoay dần

Diệt sanh, sanh diệt căn trần trả vay

Thức thường biến chuyển đổi thay

Mê lầm nhận lấy tâm này là ta

Nghiệp trần tính bảy lo ba

Buồn, vui, thương, giận, ái hà càng sâu

Sự vui chẳng có bền lâu

Sự buồn cũng chẳng ở lâu với ḿnh

Mấy ai xét lại sử kinh

Lời lành Phật dạy đẹp xinh tự ḷng

Tâm thanh vi diệu sáng trong

Ḷng không vọng tưởng chẳng mong lợi quyền

Tu thời buông bỏ vọng duyên

Lên thuyền Bát Nhă ngửa nghiêng mặc đời

Cuộc đời danh lợi đua bơi

Quay về tánh Phật dạo chơi Niết Bàn

Trong tánh ấy vô vàn pháp bảo

Sáng trong ngần Phật bảo chánh chơn

Tu thời c̣n có chi hơn

Quy y tánh Phật khải đờn Thích Ca

Nơi tánh ấy hàng sa pháp bảo

Sáng trong ngần rực rỡ tánh linh

Không cầu cũng chẳng van xin

Nơi đây đă sẵn diệu minh thuở nào

Quy y Phật, quay vào tánh Phật

Quy y Tăng, học hạnh như Tăng

Pháp tu Phật dạy in rằng

Tam quy học Phật cho rành chớ sai

Ngộ rồi giáo pháp Như Lai

Biết đời huyễn giả chẳng sai nơi ḷng

Hiểu rồi vạn pháp vốn không

Nhờ Thầy dẫn độ đục trong tỏ tường

Nguyện tu cho khỏi lầm đường

Từ đây nguyện thẳng một đường mà đi

Cuộc đời đâu có bền ǵ

Gặp rồi duyên thiện chờ ǵ bỏ qua

Phục hồi ḍng giống Thích Ca

Di Đà Tự Tánh mỏi ṃn chờ ta

Hăy nên xem xét kỹ ra

Tu thời phải thấy tự tâm là ǵ

Đảo điên vọng tưởng chi chi

Dùng gươm trí huệ đoạn ly năo phiền

Th́ ta gặp Phật tại tiền

Thương người, mến vật dứt liền trái oan

Từ bi rưới khắp trần gian

Không già, không chết, không sanh luân hồi

Ma ha Bát Nhă ngộ rồi

Thần thông Phật Tổ phục hồi bổn lai

Nương theo giáo pháp Đức Ngài

Niết Bàn Cực Lạc thấy rằng tại tâm

Ǵn ḷng thường nhớ Quán Âm

Khêu đèn trí huệ đục trong tỏ tường

Hăy nghe cho rơ mùi hương

Hương ḷng giác ngộ chẳng vương nghiệp đời

Tâm hương thơm ngát chiều mơi

Chơn không diệu hữu khắp nơi an lành

Cúi đầu ơn Phật chỉ rành

Lạy thầy thị hiện dạy rành lư sâu

Ngày nay thấy được đạo mầu

Thành tâm thệ nguyện đê đầu hành y

Lời lành con đă khắc ghi

Từ đây măi măi liễu tri Bồ đề

Hoa khai kiến Phật là quê

Không c̣n sanh tử dứt mê thoát trần./.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 

CƯ SĨ PHẬT TỬ NHƯ THÁNH

Thành Kính Cúng Dường

Ngày 29 tháng 10 năm 2010

 Thực hiện: Ngọc Liên

Các bài đă đăng

-  Kinh Vô Lượng Thọ

- Minh Tánh

- Kinh Địa Tạng Thâm Mật Nghĩa

-Công Đức Niệm Phật-Niệm Phật Thấy Phật

 - Thấy Lại Nguồn tâm

-  Sống b́nh an để thiết lập b́nh an

- Niềm tin của người Phật tử Việt Nam

- Mối tương quan với thế giới siêu h́nh

- Ḷng tin chất liệu trưởng dưỡng tâm Bồ đề

- Ái ngữ lắng nghe phép lạ đích thực