Chúng ta thường bị những tình cảm
tiêu cực phiền nhiễu và gây ảnh hưởng không tốt đến
sức khỏe lẫn tinh thần. Nếu chúng ta dung dưỡng
những loại tình cảm tiêu cực ấy thì cuộc sống của
chúng ta ngày thêm đau khổ và thậm chí bị phát sinh
bệnh tật.
Khái niệm về sự thù ghét
Chúng ta thường bị những tình cảm
tiêu cực phiền nhiễu và gây ảnh hưởng không tốt đến
sức khỏe lẫn tinh thần. Nếu chúng ta dung dưỡng
những loại tình cảm tiêu cực ấy thì cuộc sống của
chúng ta ngày thêm đau khổ và thậm chí bị phát sinh
bệnh tật. Một trong những loại tình cảm tiêu cực
nhất, có khả năng gây tổn hại nhiều nhất đến tâm
sinh lý của chúng ta là sự thù ghét.
Thù ghét là một từ dùng để diễn tả
những cảm giác không thích với cường độ mạnh. Đối
tượng của sự thù ghét có thể là những vật vô tri vô
giác, có thể là các con vật, cũng có thể là chính
bản thân mình, hay là người khác, thậm chí là cả một
tập thể, một cộng đồng.
Đứng về góc
độ tâm lý học, Sigmund Freud (1856 - 1939), một nhà
tâm lý học người Áo, đã định nghĩa: Sự thù ghét là
một trạng thái ý thức mà ở đấy người ta muốn thủ
tiêu nguyên nhân khiến cho họ khổ đau(1).
Và
gần đây hơn, trong cuốn
Từ điển tâm lý học
của
Penguin, Arthur S. Reber và Emily S. Reber đã định
nghĩa: Sự thù ghét là một loại cảm xúc mạnh, kéo dài
và sâu kín, biểu thị sự thù oán, tức giận và phản
đối nhắm đến một người, một nhóm người, hay một đối
tượng nào đó(2).
Như vậy chúng ta có thể hiểu thù
ghét là một loại tình cảm tiêu cực mà ở đấy người ta
tỏ ra rất căm tức và ghét bỏ những người hay vật nào
đó trong một thời gian dài và nó được biểu hiện qua
ý nghĩ, lời nói và hành vi của cá nhân.
Những biểu hiện của sự thù
ghét
Một khi chúng ta cảm thấy thù ghét
một người, hay một nhóm người nào đó thì chúng ta
thường nuôi dưỡng tâm sân hận và chống đối những
người đó. Làm ngơ và tránh né, xem những người đó
như là không hề tồn tại trong tâm trí mình cũng là
sự biểu hiện của lòng thù ghét.
Không những thế, mỗi khi thù ghét
ai, chúng ta thường hay xét nét người mà chúng ta
thù ghét, luôn phóng đại về những hành vi, thái độ
và những biểu hiện tiêu cực của họ, luôn nghĩ xấu về
những người đó, phê bình họ, có những ý nghĩ thâm
hiểm, ác độc về họ, thậm chí là chúng ta cảm thấy
căm tức, phẫn nộ khi nghe ai đó nói tốt về họ. Với
những tâm ý như thế, chúng ta đối xử với họ một cách
thô lỗ, cộc cằn, chúng ta tỏ ra lạnh lùng, hằn học,
tàn nhẫn khi nói chuyện với họ. Và khi bàn luận về
họ, chúng ta tỏ ra xa lạ, không hề có chút lòng trắc
ẩn, nói xấu họ một cách thậm tệ, xuyên tạc sự thật,
cố tình hiểu sai về họ. Như vậy, sự thù ghét được
biểu hiện cả trong ý nghĩ, lời nói và hành vi của
chúng ta.
Nguyên nhân của sự thù
ghét
Nguyên nhân khiến chúng ta thù
ghét người khác có thể có thực mà cũng có thể do
chúng ta suy diễn, tưởng tượng ra chứ sự thật không
phải như những gì chúng ta nghĩ tưởng. Và đôi khi
chúng ta thù ghét người khác chỉ vì những nguyên
nhân ngớ ngẩn, không đáng.
Chúng ta có thể thù ghét người
khác vì họ đối xử bất công với mình, lợi dụng mình,
đẩy mình vào tình cảnh nguy kịch, bi đát; những cáo
buộc về lỗi lầm mà mình không làm hoặc mình làm
đúng; can thiệp vào sự phát triển của cá nhân, hạ
nhục và làm mất danh dự, làm cho chúng ta mất đi
lòng tự trọng; những ai bộc lộ những phẩm chất,
những kiểu hành vi hay tính cách có nguy cơ gây hại
cho mình. Chúng ta cũng có thể thù ghét những người
có những thứ tốt hơn chúng ta nhưng lại không muốn
chia sẻ với chúng ta; những người không hiểu chúng
ta, không để ý đến những tâm tư, nguyện vọng của
chúng ta, không thèm quan tâm đến chúng ta. Chúng ta
thù ghét những người không bao giờ động viên, khuyến
khích chúng ta, không lúc nào nhìn nhận những ưu
điểm, thành quả mà chỉ nhắm vào các khuyết điểm hoặc
lúc nào cũng chỉ nói ra những lỗi lầm, những thất
bại của chúng ta. Những người làm cho chúng ta mất
đi niềm tin và hy vọng ở nơi họ cũng khiến chúng ta
thù ghét. Chúng ta thù ghét cả những ai đối xử cộc
cằn, thô lỗ và không thân thiện với mình; và đôi khi
chúng ta thù ghét người khác chỉ vì chúng ta nghe
những điều không tốt về họ, hoặc đơn giản chỉ vì
những người thân của ta thù ghét họ nên chúng ta
cũng thù ghét theo.
Nhìn chung, chúng ta thường thù
ghét người khác vì cảm thấy những người đó không đáp
ứng thỏa đáng những nhu cầu, nguyện vọng của mình,
ngăn cản hay chống đối, không để chúng ta đạt được
những gì mà chúng ta muốn và gây thương tổn đến bản
ngã của chúng ta. Tuy nhiên, những cảm nhận ấy hoàn
toàn mang tính chủ quan, đôi khi không phản ánh đúng
sự thật.
Sự thù ghét thường gây ra nhiều
ảnh hưởng tiêu cực cho đời sống của mỗi người, ảnh
hưởng đến cả phương diện tâm lý lẫn sinh lý, có thể
dẫn đến bệnh tật. Chúng ta có thể bị nhức đầu do
căng thẳng và rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp mỗi
khi sự thù ghét bộc phát mạnh mẽ, và điều đó sẽ rất
nguy hiểm đối với những ai bị các bệnh về tim mạch.
Khi sự thù ghét hiện hữu ở trong tâm, vấn đề ăn uống,
ngủ nghỉ của chúng ta sẽ bị rối loạn, ăn không còn
thấy ngon và bị mất ngủ, rối loạn giấc ngủ.
Quan điểm của Phật giáo về
sự thù ghét
Theo Phật giáo, sự thù ghét là một
trong những tâm bất thiện của con người, được hình
thành do sự kết hợp của các nhân tố bên ngoài lẫn
nhân tố bên trong. Trong đó, nhân tố bên trong (nội
tâm của chúng ta) đóng vai trò quyết định. Có khi
cùng tiếp xúc với một tình huống, một nhân vật với
những cách hành xử cộc cằn, thô lỗ và xem thường
người khác, có người thì cảm thấy thù ghét nhân vật
đó, có người thì không thù ghét cũng không quý mến,
và có người thì thấy cảm thương cho họ. Qua đây,
chúng ta thấy được vai trò quyết định của nội tâm
con người đối với những xúc cảm, tình cảm của cá
nhân.
Trong các nhân tố bên trong ấy,
chấp ngã là nhân tố đóng vai trò rất quan trọng
trong việc hình thành nên lòng thù ghét của mình đối
với người khác. Thường thì tâm chấp ngã và tham ái
hay đi đôi với nhau. Vì chấp thân là ta nên khi thân
khỏe mạnh, chúng ta hạnh phúc, hồ hởi; khi thân bệnh
hoạn, ốm đau, chúng ta sầu muộn lo âu, than thân
trách phận. Khi thân đẹp đẽ, trẻ trung thì chúng ta
hãnh diện; khi thân xấu xí, bệnh hoạn, và già nua
thì chúng ta mặc cảm, tự ti. Khi chấp thủ vào thân
năm uẩn này thì mọi thay đổi, biến động từ chúng đều
làm chúng ta bất an và lo lắng.Vì chấp ngã nên chúng
ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, nghĩ đến lợi ích cá
nhân mà không để ý đến lợi ích của người khác. Cũng
do chấp ngã nên chúng ta tìm mọi cách để thỏa mãn
những ước vọng, những mong cầu của cá nhân. Trong
quá trình mưu cầu sự thỏa mãn đó, nếu có ai cản trở,
gây khó khăn hay xúc phạm đến danh dự, làm tổn hại
đến lợi ích cá nhân hoặc đụng chạm đến cái "ngã" của
chúng ta thì lòng thù ghét họ bắt đầu nảy sinh. Tâm
chấp ngã ở đây có thể hiểu rộng ra là chấp ngã và
ngã sở, có nghĩa là chấp thủ những gì thuộc về bản
thân ta và những thứ bên ngoài, thuộc sở hữu của ta.
Chẳng hạn như chấp về gia đình ta, người thân yêu
của ta, tài sản của ta, địa vị của ta,… đều thuộc về
chấp thủ ngã sở. Tương tự như đối với bản thân ta,
những ai làm thương tổn đến những thứ sở hữu của ta
cũng đều khiến cho chúng ta thù ghét. Những sự sở
hữu nào càng quan trọng, thiết yếu đối với chúng ta,
một khi chúng bị người khác xâm hại, làm tổn thương
thì sự thù ghét càng sâu sắc.
Sự thiếu chánh niệm, đánh giá sự
vật, hiện tượng thiếu khách quan, luôn bị các định
kiến, thiên kiến của cá nhân che lấp tâm trí cũng
góp phần không nhỏ đối với sự nảy sinh và lớn mạnh
của lòng căm ghét, thù hận. Một khi chúng ta mang
trong mình đầy những định kiến về sự vật hay hiện
tượng nào đó thì chúng ta không thể nào nhìn nhận,
đánh giá chúng một cách đúng như chúng đang là được.
Đối với người khác cũng vậy. Những định kiến của
chúng ta sẽ bóp méo sự thật, khiến cho chúng ta
không nhận thấy rõ được bản chất đích thực của các
hiện tượng, những hành vi, thái độ của người khác,
không thấy được những chủ ý, những mục đích ẩn tàng
bên trong thái độ, ngôn ngữ, hành vi của người khác.
Bởi vì hiện tượng không phải lúc nào cũng phản ánh
đúng bản chất, hiện tượng bên ngoài có thể trái
ngược với bản chất bên trong.
Tâm trạng của chúng ta cũng dự
phần vào việc làm phát sinh sự thù ghét. Khi tiếp
xúc với một thái độ lạnh lùng, thờ ơ và khinh thị
của người khác, nếu đang trong tâm trạng vui vẻ,
phấn khởi, chúng ta dễ dàng bỏ qua những thái độ đó,
và thậm chí chính tâm trạng phấn khởi, vui vẻ của
chúng ta có thể ảnh hưởng đến người kia, làm cho họ
thay đổi thái độ, hành vi giao tiếp với mình. Ngược
lại, nếu chúng ta đang trong tâm trạng buồn bực,
chán nản thì trước những thái độ như thế, trong lòng
chúng ta dễ dàng nảy sinh sự thù ghét người đó.
Sự thù ghét gây ra nhiều nguy hại
cho chúng ta cả về sức khỏe lẫn tinh thần. Nó là
chất xúc tác để cho những tâm bất thiện khác dễ dàng
phát sinh. Khi lòng ta đầy thù ghét với một ai đó
thì chúng ta rất dễ nổi giận với họ, khinh miệt họ,
và thậm chí là tìm cách để hãm hại họ. Dung dưỡng
lòng thù ghét khiến mở ra nhiều cửa ngõ bất thiện,
gây ra nhiều khổ quả. Không những thế, mỗi khi lòng
ta đầy thù ghét thì sắc mặt không còn nét hiền từ và
dễ thương nữa, tâm trí không còn được sáng suốt nữa.
Và sự thù ghét còn khiến cho cơ thể mệt mỏi, căng
thẳng và nhức đầu, làm việc kém hiệu quả. Đấy là
chưa nói đến khả năng sự thù ghét làm cho cơ thể
tiết ra những độc tố ảnh hưởng đến một số bộ phận,
cơ quan nội tạng của chúng ta, nếu sự thù ghét kéo
dài thì những độc tố ấy có thể tích tụ lại bên trong
cơ thể và sự tích tụ ấy là một trong những nguyên
nhân gây ra bệnh ung thư. Chính vì vậy, sự thù ghét
di hại cho ta không chỉ trong hiện tại mà cả tương
lai, gây ra nhiều khổ quả cho đời này và cả đời sau.
Nó khiến cho chúng ta phải sống trong tâm trạng bất
an, đau khổ.
Vận dụng Phật pháp vào
việc hóa giải lòng thù ghét
Phật giáo luôn nhìn vào những tác
nhân bên trong, những nguyên nhân căn bản trong mọi
vấn đề tâm lý của con người. Vì thế, để hóa giải
lòng thù ghét, chúng ta cũng phải bắt đầu từ việc
giải quyết những tác nhân bên trong ấy.
Như đã trình bày ở trên, tâm chấp
ngã là một trong những nguyên nhân chính khiến cho
ta thù ghét người khác. Để đối trị tâm chấp ngã này,
Đức Phật dạy chúng ta quán chiếu và tu tập theo tinh
thần vô ngã. Vì chúng ta chấp cái thân này là bền
chắc nên mới nâng niu, chiều chuộng và thỏa mãn mọi
đòi hỏi của nó. Khi tâm chấp ngã lớn mạnh thì chúng
ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, đến những lợi ích cho
chính mình mà không lưu tâm đến lợi ích của người
khác. Cũng vì chấp ngã nên chúng ta thường sinh lòng
chấp trước với những thứ thuộc về sở hữu của chúng
ta. Điều này khiến cho chúng ta khổ đau, khiến chúng
ta thù ghét người khác khi họ ngăn cản hay gây tổn
hại cho chúng ta.
Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy
rằng, ngay cả tấm thân này không có gì thật sự là ta
hay là của ta, mà chỉ là một sự giả hợp của năm uẩn,
huống gì những thứ bên ngoài thân, hoặc là những thứ
nương vào thân này mà có, như là cảm thọ, ý thức,…
Để thân này hiện hữu và duy trì sự sống thì phải vay
mượn từ nhiều thứ khác nhau, phải cần đến sự giúp đỡ
trực tiếp lẫn gián tiếp của nhiều người khác. Thân
này tồn tại được là nhờ vào người khác và lệ thuộc
vào người khác. Cá nhân chúng ta không thể nào sống
mà không cần vào sự trợ giúp của người khác. Khi ý
thức được rằng cuộc sống của mình cần có người khác
thì hẳn nhiên chúng ta phải nghĩ tới người khác;
không biết ơn thì cũng phải tôn trọng hoặc kính
trọng họ như là những ân nhân của mình, bất kể họ là
người thế nào. Tất cả mọi người trong xã hội đều phụ
thuộc lẫn nhau, nương tựa vào nhau để sống. Mọi
người là ân nhân của nhau. Đã là ân nhân của nhau
thì không có lý gì lại thù ghét nhau, lại muốn hãm
hại nhau.
Tinh thần vô ngã trong đạo Phật là
kim chỉ nam trong cuộc sống hàng ngày, giúp ta cư xử
hài hòa với mọi người, biết tôn trọng người khác cho
dù mình đang đứng ở vị thế nào trong xã hội. Tinh
thần này phải được thể hiện qua hành động, lời nói
và cả trong ý nghĩ của chúng ta. Một khi chúng ta
biết quán chiếu và thực hành theo tinh thần vô ngã
thì chúng ta biết cảm thông, chia sẻ với mọi người
hơn, biết tha thứ cho người và biết nhìn lại chính
mình. Nhờ vậy mà lòng thù ghét những người làm chúng
ta đau khổ, những người cản đường tiến thân của
chúng ta, làm tổn hại đến quyền lợi, thanh danh của
chúng ta,… sẽ suy yếu dần.
Phản quang tự kỷ, nghiêm túc đánh
giá bản thân mình, nhìn thấy lỗi của mình trong các
vấn đề rắc rối của cuộc sống cũng là một cách giúp
ngăn ngừa sự sinh khởi của tâm thù ghét. Thường thì
chúng ta chỉ nhìn thấy lỗi của người khác, đổ lỗi
cho người khác mà không nhìn lại mình, không thấy
lỗi của mình, lúc nào cũng cho mình là đúng, cho
mình là hay nên mới thù ghét người khác. Nếu như
chúng ta thấy được lỗi của mình, thấy được những tác
nhân do mình gây ra trong những vấn đề rắc rối của
các mối quan hệ xã hội thì chúng ta sẽ ít thù ghét
người khác hơn. Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là thấy lỗi lầm, khuyết điểm của mình để rồi
thù ghét, căm hận bản thân mình. Đây không phải là
điều mà Đức Phật chỉ dạy. Đức Phật dạy chúng ta
không thù ghét người khác và cũng không căm hận
chính mình, vì cả hai xu hướng đều khiến cho chúng
ta khổ đau. Chúng ta nhìn thấy khuyết điểm, thấy lỗi
lầm của mình để bớt đi lòng cao ngạo, để dẹp bớt tâm
chấp ngã, để cảm thông với những lỗi lầm của người
khác, và quan trọng hơn là để sửa chữa những sai lầm,
khắc phục các khuyết điểm để không ngừng hoàn thiện
bản thân.
Nếu như việc phản quang tự kỷ,
quán xét lỗi lầm của mình mà không hiệu quả thì
chúng ta có thể thực hành hạnh nhẫn nhục. Tu tập
hạnh nhẫn nhục giúp chúng ta giữ được tâm bình lặng
trước mọi sự trái ý, nghịch lòng mà người khác gây
ra cho mình. Do thực tập đức nhẫn nên chúng ta biết
tôn trọng tất cả mọi người, ngay cả những người đối
xử không tốt với ta, khoan dung và rộng lượng tha
thứ cho người khác. Vì thế mà ý niệm căm tức, thù
ghét người khác không còn cơ hội để phát sinh, để
lớn mạnh.
Quán tưởng
đến những tác hại, những hậu quả tiêu cực do lòng
thù ghét gây ra cũng là một biện pháp khá hiệu quả
để ngăn ngừa và hóa giải lòng thù ghét. Đức Phật dạy
rằng: "Bồ tát sợ
nhân, chúng sanh sợ quả".
Vì thế, nếu chúng ta thường
nghĩ đến những hậu quả tiêu cực do sự thù ghét gây
ra cho mình và người mỗi khi ý niệm thù ghét mới dấy
khởi trong tâm thì sẽ giúp cho chúng ta có thêm sức
mạnh, có đủ sáng suốt để gạt bỏ ý niệm ấy ra khỏi
tâm trí mình. Tại vì, từ trong bản chất của con
người, không ai muốn mình đau khổ, không ai tự rước
khổ vào thân. Dung dưỡng lòng thù ghét thì chỉ làm
khổ mình thêm mà thôi, không hề có ích lợi gì cả.
Cho nên, khi chúng ta thấy rõ tác hại của lòng thù
ghét rồi thì sẽ không dễ dàng để cho sự thù ghét nó
đốt cháy thân tâm mình nữa.
Tu tập tâm từ bi cũng là một trong
những biện pháp góp phần tích cực trong việc ngăn
ngừa sự sinh khởi của tâm thù ghét và có công năng
hóa giải lòng thù ghét nếu như nó đã tích tập lâu
ngày. Như chúng ta đã biết, tu tập tâm từ bi có
nghĩa là chúng ta thực tập thương yêu tất cả mọi
người, muốn đem lại niềm an vui, hạnh phúc và làm
vơi bớt khổ đau cho người khác với tất cả tấm chân
tình, không vụ lợi, không điều kiện. Để có thể làm
cho tâm từ bi dễ dàng phát khởi, trước hết chúng ta
nên trải rộng tình thương yêu đến những người thân,
đến các vị ân nhân, những người đối xử tốt với chúng
ta,… Và khi tình thương yêu đối với họ đã đủ mạnh,
đã bền chặt thì chúng ta nới rộng dần đối tượng
thương yêu của chúng ta, trải lòng thương yêu đến
những người xa lạ, đến những người nghèo khổ,… và cả
đến những người có thù oán với mình. Tâm từ bi phải
được nuôi dưỡng thường xuyên. Một khi chúng ta có
thể phát khởi lòng thương yêu đối với những người có
thù oán với chúng ta thì tâm thù ghét họ sẽ được hóa
giải dần dần. Khi ánh sáng từ bi đã chiếu soi khắp
cả thì bóng tối của thù ghét sẽ bị xua tan, bị đẩy
lùi.
Còn một pháp tu khá quan trọng,
góp phần điều chỉnh và định hướng cho mọi hành vi,
lời nói và ý nghĩ của chúng ta, góp phần làm cho các
thiện hạnh khác được trưởng dưỡng, đấy là sự thực
hành chánh niệm. Chánh niệm là năng lượng giúp nhận
diện được những gì đang xảy ra trong ta và chung
quanh ta. Khi năng lượng ấy có mặt thì thân và tâm
chúng ta hợp nhất và chúng ta thực sự có mặt trong
giây phút hiện tại để sống sâu sắc mỗi giây phút của
đời sống hằng ngày. Tâm chúng ta không bị những tiếc
nuối về quá khứ hoặc những lo lắng về tương lai lôi
kéo. Chúng ta có thể tiếp xúc được với các sự vật,
hiện tượng như chúng đang là, không bóp méo chúng
với những định kiến, biên kiến. Chánh niệm có công
năng giúp chúng ta khôi phục trọn vẹn con người của
ta, giúp ta trở nên cởi mở, định tĩnh, an lạc và
chuyên chú, để có thể nhìn sâu, thấy được thực tại
của bản thân và hoàn cảnh. Khi năng lượng chánh niệm
đã đủ lớn mạnh ở trong tâm thì chúng ta dễ dàng làm
chủ được tâm ý, làm chủ được hành vi của mình, chúng
ta luôn nuôi dưỡng tâm từ bi, thực hành hạnh nhẫn
nhục, và không để cho những ý niệm về sự thù ghét
sinh khởi.
Giáo pháp mà Đức Thế Tôn dạy rất
gần gũi với đời sống của chúng ta! Nếu chúng ta biết
vận dụng thì những lời vàng ngọc ấy có thể giúp
chúng ta hóa giải mọi vấn đề khổ đau, bất an trong
cuộc sống và sống với nhau trong sự hòa hợp, thương
yêu, đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau tạo dựng thanh bình,
hạnh phúc cho cuộc sống.
Quảng Trí (Nguyệt
san Giác Ngộ số 172)
(1) Freud, S. (1915). The
instincts and their vicissitudes. Standard edition.
(2) Arthur S. Reber and Emily S. Reber (2002).
Dictionary of psychology. Penguin reference, 3rd
edition, New Delhi, p.315. Tài liệu tham khảo -
Alice Miller. What is hatred. www.nospank.ne, 2005.
- Arthur S. Reber and Emily S. Reber (2002).
Dictionary of psychology. Penguin reference, 3rd
edition, New Delhi. - Dalai Lama. Healing hatred.
www.purifymind.com. - Freud, S. (1915). The
instincts and their vicissitudes. Standard edition.
- Katherine Harmon. The origin of hatred.
www.scientificamerican.com, 2009. - Royzman, E. B.,
Drake , C. & Michael Jackson, P. (2005). From Plato
to Putnam: Four ways to think about hate. In The
Psychology of hate by Sternberg, R.
Nguồn tin lấy từ trang
daitangkinh.com