|
Trong kiến trúc Phật giáo thời Lý, phong phú
cả về số lượng và kiểu thức phải là Chùa. Loại hình kiến trúc
này ở một số nơi còn để lại nền móng ít bị xáo trộn như các Chùa
Phật Tích, Chùa Vĩnh Phú, Chùa Giạm ở Hà Bắc, Chùa Hương Lãng ở
Hải Hưng, Chùa Hà Tấm ở Hà Nội...hoặc sửa chữa thu nhỏ như Chùa
một cột ở Hà Nội; có nơi dấu vết ban đầu chỉ còn lại bệ Tượng
Phật ở trong những kiến trúc làm mới hoàn toàn như các Chùa Chò
(Hà Bắc), Chùa Thầy, Chùa Hoàng Xá (Hà Sơn Bình ), Chùa Sùng
Nghiêm Diêu Thánh (Thanh Hóa)...Một số Chùa được văn bia đương
thời tả lại khá đầy đủ. Dựa vào tài liệu thực địa và thư lịch,
có thể chia Chùa thời Lý thành bốn loại trên cơ sở có sự khác
nhau về bố cục.
Trước hết là kiểu Chùa được dựng trên một cây
cột trụ, phát triển về chiều cao theo kiểu kiến trúc Tháp. Từ
trước thời Lý, ở Kinh đô Hoa Lư có Chùa Nhất Trụ còn để lại một
cột đá cao, to trong vườn trước cửa Chùa có lẽ là cột Kinh Phật
truyền thuyết địa phương muốn coi đó là cây cột đỡ toà Chùa ở
trên, khi Kinh đô chuyển ra Thăng Long, nhà Lý đã cho dựng Kinh
đô mới một ngôi Chùa Một Cột phỏng theo Chùa Nhất Trụ.
Trong số những kiến trúc thời Lý, sử cũ và
văn bia có nhắc đến một vài kiến trúc chỉ có một cột. Đó là “lầu
chuông một cột, sáu cạnh hình hao sen” trong cụm kiển trúc các
điện Linh Quang và Sùng Nghiêm; Là Chùa Linh Xứng có bộ phận “trang
nghiêm chính giữa thì thờ tượng ngũ trí Như Lai sắc vàng rực rỡ,
ngồi trên toà sen trồi trên mặt nước”; Là Chùa Diên Hựu với tên
nôm là Chùa Một Cột đã dựng lại thu nhỏ ở Hà Nội được nhiều sử
cũ, đặc biệt là bia Chùa Đọi khắc năm 1121 tả lại khá kỹ. Theo
sử cũ ghi lại, năm 1049 vua Lý Thái Tông chiêm bao thấy Phật
Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên toà. Các bầy tôi cho đó
là điềm chẳng lành, nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua dựng Chùa như
trong giấc mơ. Vua bèn cho xây Chùa, dựng cột đá ở giữa ao, trên
đầu cột làm tòa sen của Phật, các nhà Sư sẽ niệm chung quanh
tụng Kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là Chùa Diên Hựu
với ý kéo dài sự sống.
Chùa Diên Hựu năm 1100 được sửa chữa lần đầu,
việc tu sửa quy mô làm “đẹp hơn cũ” là vào năm 1105: vét hồ Liên
Hoa Đài, gọi là hồ Linh Chiểu, ngoài hồ có hành lang chạm vẽ
chạy vòng quanh, ngoài hành lang lại đào hồ Bích Trì, đều bắc
cầu để đi qua, trước sân Chùa xây hai bảo Tháp sứ trắng.
Bia Chùa Đọi tả Chùa Diên Hựu không tách bóc
ra từng đợt tu sửa, nhưng lại cho biết thêm một số chi tiết:
Chùa Diên Hựu thuộc vườn Tây cấm, được “dựng theo dấu vết của
chế dộ cũ, lại y theo mưu mới của nhà vua”, quanh đỉnh cột chạm
bông sen nghìn cánh, trên hoa sen toà điện màu xanh trong điện
có pho tượng vàng...
Riêng cây cột đá có tài liệu nói cao 10
trượng, phù hợp với độ to đủ chạm bông sen nghìn cánh ở đầu cột,
và như vậy thì tòa điện Phật ở trên đầu cột phải to lớn tương
xứng tất cả cứ vươn cao lên vài chục mét như một cây Tháp. Có ý
kiến lấy bình đồ Chùa Diên Hựu so với Tháp Phật giáo Mật Tông,
nhận ra nhiều điểm tương đồng và coi Chùa Diên Hựu là kiến trúc
Tháp Phật giáo.
Chùa Diên Hựu từ tên Chùa cho đến các nghi lễ
tiến hành ở đây đều gắn với vua nhà Lý, lại ở trong vườn cấm
phía Tây, trở thành Chùa riêng của Hoàng gia. Buổi khởi dựng,
Chùa còn đơn giản nhưng đã là hình ảnh bông sen kiến trúc khổng
lồ nở trên mặt nước. Đấy là sáng tạo của các nhà kiến trúc giữa
thế kỷ XI; đi lên từ truyền thống “theo dấu tích xưa”, nhưng đã
“đổi mới” theo tinh thần giấc mơ của vua Lý Thái Tông về một
bông hoa sen.
Đi lên từ truyền thống, Chùa Diên Hựu là sự
phát triển kiến trúc cổ truyền mà gần đây còn lưu lại ở những
cây hương thờ đặt trên đầu một cái cọc chôn trên mặt đất hoặc
xây trên cột gạch. Tài liệu dân tộc học và khảo cổ học cũng xác
nhận truyền thống ấy: người nguyên thủy gác cành lên cây làm nhà
ở, sau tiến tới “kiến trúc Đông Sơn” với loại nhà sàn mái tròn
dựng trên một cột có gá vào tường ỏ hai bên được khắc trên trống
đồng Ngọc Lũ và trống đồng Hoàng Hạ, lại còn được ghi trong dân
gian bằng chuyện nữ thần nghề mộ dạy Lỗ Ban dựng nhà. Lối kiến
trúc trên một cột trụ như thế, cả ở Trung Quốc cũng có, nhà bác
học Lê Quý Đôn dẫn sách nói về cái Đài Lớn ở Giang Lăng chỉ có
một trụ, tất cả các xà đều cắm vào trụ ấy, và cái quán ở La Công
Châu thật to mà chỉ có một cột. Nhưng Chùa Diên Hựu không chỉ là
lối kiến trúc một cột bình thường, mà các nghệ sĩ kiến trúc thời
Lý đã sáng tạo thành bông sen nghệ thuật khổng lồ, đảm bảo độ
kết cấu chính xác vững vàng mà lại thanh tao duyên dáng, có cả
nội dung triết lý Phật giáo và nội dung thẩm mỹ thanh khiết.
Loại Chùa thứ hai cũng rất gắn bó với các vua
thời Lý ở rải rác các địa phương xa, vừa là nơi thờ Phật để cầu
chúc cho Hoàng gia, vừa là hành cung để vua nghỉ lại mỗi khi du
ngoạn quanh vùng ấy. Loại Chùa này ngoài những công trình kiến
trúc mà ở đó nổi trội lên là cây Tháp như ở Tường Long (Hải
Phòng), Chương Sơn và Chùa Đọi (Hà Nam Ninh), còn phải nhắc đến
một số Chùa nữa tiêu biểu là Chùa Phật Tích và Chùa Giạm đã từng
được các vua nhà Lý ghe thăm viết đại tự để lại hoặc ban cho tên
Chùa. Hai ngôi Chùa này đều thuộc vùng quê hương nhà Lý, ở phía
Bắc sông Đuống, không xa sông là bao, có thể đến Chùa bằng cả
đường bộ, và càng thuận tiện đối với các cuộc du hành của vua
bằng đường thủy. Cả hai Chùa đều ở sườn núi, dựa vào thế núi mà
trườn lên theo các cấp bậc nền, có 3 (Chùa Phật Tích) hoặc 4
(Chùa Giạm) tầng nền, với chiều rộng của bề mặt cao hơn 60m và
chạy sâu vào hơn 100m. Các tầng trên nền được kè giữ khỏi xô đất
xuống bằng những dãy tường đá 2 hoặc 3 lớp xây bậc cấp và hơi
ngả vào rất vững chắc. Trên bề mặt rộng mênh mông ấy, ngoài
những cây Tháp, còn có rất nhiều kiến trúc vật khác bề thế và
nguy nga.
Chùa Phật Tích có quy mô mà năm 1680 bia Chùa
còn xác nhận: “Vua thứ ba nhà Lý, năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4
(1057) dựng cây Tháp quý cao ngàn trượng, tạc pho tượng mình
vàng cao 6 thước, cao hơn trăm thửa ruộng, xây Chùa chẵn một
toà... Trên đỉnh cao mở ra một toà nhà đá, cấp trong điện tự
nhiên sáng như ngọc lưu ly, điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại
lớn. Trên thềm bậc đằng trước có bầy mười con thú, phía sau có
ao rồng, góc cao vẻ chim phượng và sao ngưu, sao đẩu sáng lấp
lánh, lầu rộng tay rồng với tới trời cao, cung quãng vẽ hoa nhị
hồng. Cho đến thế kỷ XVIII, các tác giả sách Tam thương ngẫu lục
còn thấy Chùa Phật Tích “cung sơn điện vẽ san sát trong núi.”
Ngày nay, trên các tầng nền vẫn còn pho tượng cao 6 thước (1m84)
và 10 con thú bày thành hàng ngang ở mép tầng nền thứ hai đúng
như văn bia ghi, là cơ sở để tin những cung sơn, điện vẽ lầu
rộng, gác cao... là có thực, tin cả con số 100 toà nhà nếu không
chính xác toán học thì cũng là một cảnh san sát trên núi, còn
được tô vẽ nhiều hình trang trí đẹp và hòa trong ngàn cây mà
trải rộng không giới hạn.
Còn Chùa Giạm xây trong 8 năm (1086-1094) mới
xong, được triều đình đầu tư đặc biệt, đã có quy mô lớn mà sang
thế kỷ 13 được vua Trần Nhân Tông tả vẻ đẹp đúng là: “Bức tranh
kiến trúc 12 lớp, mắt thấy thiên nhiên rộng vạn lần”, còn dân
gian địa phương ghi nhận bằng mốc thời điểm cả thôn Môn Tự (cửa
Chùa) tham gia đóng cửa từ chiều cho đến khi đóng xong các cửa
thì vừa lúc trăng mọc: “Mười tám đóng xong cửa Chùa Giạm.” Ngày
nay nhà cửa Chùa Giạm không còn, nhưng chỉ riêng hệ thống bậc
cửa lên các tầng nền đã là cả một sự đồ sộ, trong đó các bậc cửa
vào tầng nền thứ nhất đã cao và rộng đều 16m. Và ở tầng nền thứ
hai, phía bên trái có khu đất hình tròn cao chừng một mét với
đường kính chừng 4m50, xung quanh được kè đá chạm “hình sóng” to
sâu, đối lại phía bên phải có khu đất hình vuông cao gần 2m,
cạnh dài 7m, cũng kè đá chạm “hình sóng” sâu to: Hai khu đất
hình tròn vuông ở hai bên cửa chính, tạo sự cân đối mà không lặp
lại là “quy” và “củ” với những yếu tố cấu thành chặt chẽ biểu
hiện những mẫu mực trong cuộc sống và cả trong thẩm mỹ người
xưa, lại là biểu hiện của tư duy Việt cổ và vũ trụ có trời tròn
đất vuông, có sự hoà hợp âm với dương. Ý nghĩa này còn được thấy
ngay trên khu đất hình tròn có một cột đá cao chừng 5m gồm một
khối hình trụ (đường kính 1m30) chồng lên một khối hộp (cạnh
ngang một 1m4 và 1m6). Sự hoà hợp đó biểu hiện của sự ý thức cầu
phúc và cả sự trường tồn.
Cũng như các Tháp Tường Long, Chương Sơn và
Đọi, Chùa Phật Tích và Chùa Giạm còn để lại nhiều hình rồng chạm
rất kỹ trên đá và cả trên mảnh đất nung vỡ nữa. Phải chăng ở đây
những hình rồng này là dấu hiệu khẳng định tính hành cung của
những di tích Phật giáo này.
Chùa Linh Xứng trên Ngưỡng Sơn (Thanh Hóa),
phía trước cây Tháp chín tầng cũng có cả một tòa Chùa lộng lẫy
theo bia dựng ngày khánh thành Chùa tháng 3 năm Bính Ngọ (1126)
thì: “Chùa Phật Tích thênh thang ở giữa, phòng chạy rộng rải hai
bên, trang nghiêm chính giữa thì tượng Ngũ Trí Như Lai sắc vàng
rực rỡ ngồi trên toà sen trồi lên mặt nước. Quanh tường thêu vẽ
dung nghi đẹp đẽ của cực quả mười phương với mọi hình tướng biến
hoá muôn hình vạn trạng không thể kể hết Chùa thờ Phật nhưng
cũng cầu chúc nhà vua. Chính bia Chùa đã đề cao vương quyền:
“Ôi, sinh thành và nuôi nấng ta có ai bằng vua và cha, cho nên
phải kính trọng; dắt dẫn và che chở cho ta, còn gì hơn là phúc
huệ, cho nên phải tin theo. đem phúc to này, chút vật lớn ấy.
Nghiệp trời dằng dặc dài lâu, vận nước đời đời thịnh vượng.”
Loại Chùa thứ ba cả trên thực địa và thư tịch
đều không tìm thấy dấu tích của Tháp, quy mô có nhỏ hơn các Chùa
Tháp đồng thời là hành cung ở Phật Tích và Giạm, nhưng vẫn còn
khá lớn và được nhà nước chú ý, có khi xây trên lưng chừng núi
chỉ có một lớp nền như Chùa Vĩnh Phúc dựng năm 1100 và Chùa Tĩnh
Lự khánh thành năm 1119 đều thuộc Hà Bắc, có khi xây giữa vùng
đồng ruộng như Chùa Bà Tấm (còn có tên chữ là Sùng Phúc Tự hay
Linh Nhân Tư Phúc Tự) dựng năm 1115 thuộc Hà Nội, và Chùa Hương
Lãng (có tên tắt là Chùa Lạng, tên chữ là Viên Giác hay Thạch
Quang Tự) dựng cùng khoảng thời gian với Chùa Bà Tấm thuộc Hải
Hưng...
Nếu như Chùa Vĩnh Phúc và Chùa Tĩnh Lự chỉ có
một tầng nền ở sườn núi với những mảnh vụn của gạch đá, thì Chùa
Bà Tấm và Chùa Hương Lãng, trên lớp nền còn thấy rõ quy mô và vị
trí một số kiến trúc. Chùa Bà Tấm có bậc cửa vào Chùa rộng chừng
12m đánh dấu bởi hố đào lan can thành bậc, từ đó đến giữa thượng
điện nơi còn đôi sư tử đội tòa sen là 60m. Sư tử đội tòa sen và
lan can thành bậc cửa Chùa Bà Tấm lại được thấy ở Chùa Hương
Lãng, đầy đủ và rõ ràng hơn. Về Chùa Hương Lãng, khu vực nội tự
rộng gần 40.000m vuông theo chiều dọc hướng Bắc Nam là 345m và
chiều ngang hướng Đông Tây là 115m. “Nội tự” bao gồm cả ruộng,
gò bãi, hồ ao và trung tâm khu vực Chùa: Phía trước có sông lạch
chảy sát tam quan, rất thuận tiện cho du khách thăm Chùa lễ
Phật; khu đất tam quan này còn rộng ngang 15m và sâu vào 7m5,
sau đó đi sâu vào 84m nữa sẽ tới sát nền thượng điện có tượng đá
to sư tử đội toà sen. Qua khu tam quan có thành bậc đi xuống ao
Chùa với hai gò đất xưa là nền của kiến trúc, cao từ 5m đến 7m
và rộng chừng 400m vuông phía sau sân là khu vực điện thờ với
nền thượng điện cao trên 2m được đánh dấu bởi tượng sư tử đội
tòa sen khổng lồ. Cả khu Chùa phát triển theo chiều dài, càng đi
vào sâu càng gần nơi thờ Phật, hai bên đường đi có vật đăng đối.
Cuối đường là khu điện thờ gần vuông phía trước hơn cao 23m và
dọc bên hơn 20m, trong đó lại thu vào các khu đất lồng nhau cũng
gần vuông chừng 18m*8m và 10*8m, khu trong nhỏ hơn nhưng cao hơn
khu ngoài, bốn mặt đều có cửa mở về bốn hướng. Chỉ xét riêng khu
vực điện thờ Chùa Hương Lãng, phần nào có quan hệ mặt bằng của
kiến trúc Tháp; nền gần vuông, bốn mặt trổ cửa cao dần theo ba
lớp nền thu vào. Như vậy cả Chùa Hương Lãng trải ra như một tu
viện, trong đó phần điện thờ Phật lại chịu ảnh hưởng bố cục của
Tháp thờ để các Phật tử đi xung quanh làm lễ Phật ngự ở trên toà
sen do Sư tử đội ở giữa thượng điện.
Trong loại Chùa thứ ba này có kể thêm Chùa
Sùng Nghiêm Diên Khánh ở Thanh Hoá, trong sự tu sửa thu hẹp ở
thời sau, rải rác còn vài vết tích cũ, đặc biệt là ba bệ tượng
Phật và tấm bia dựng năm 1118. Theo văn bia dựng ngay sau khi
làm xong Chùa, thì công trình này làm khoảng 1116 đến 1118,
chẳng những có quy mô to lớn mà còn tráng lệ: “Rường nhà cong
cong như cầu vồng sau mưa quạnh quẽ nhô ra, ngói uyên ương phơi
dưới gió như sập sè mái lượn, ngói nhà uốn như trĩ đang xoè
cánh, đầu chạm trổ như phượng múa lại chầu. Mái cong lấp ánh
dưới mặt trời, hiên lượn quanh co trước gió, tường vách xung
quanh một cõi bụi không lầm, hành lang bao bọc. Bên hữu có vườn
thơm, khóm lan mềm mại điểm nóc. Bên tả có ao mát, mặt nước hoa
sen tốt tươi... lại sắm đủ chiếu giường để cho khách trọ nghỉ
chân, lại xây đủ bếp núc để cung cấp cho người thiền định, Chùa
chiền ngăn nắp tượng Phật trang nghiêm.
Năm 1088, nhà Lý phân chia các Chùa trong
nước làm 3 hạng là đại, trung và tiểu danh lam, căn cứ điền nô
và khố vật của nhà Chùa. Chúng tôi chưa có đủ tài liệu về hai cơ
sở trên, song xét về quy mô kiến trúc, những Chùa thuộc loại ba
trên, có thể xếp vào hạng đại danh lam.
Trong số hàng ngàn Chùa dựng dưới thời Lý,
ngoài một số Chùa lớn được sử sách nhắc đến, chắc hẳn còn nhiều
Chùa nhỏ ở lẫn trong các thôn xóm hoặc núi rừng ít được người
đời lui tới. Những Chùa nhỏ và khuất nẻo ấy, có thể thuộc hạng
tiểu danh lam, do nhỏ mà văn bia ít hoặc không nói tới, dấu vết
còn lại rất hãn hữu. Những Chùa loại này lúc đầu có nhiều Chùa
chỉ là cái am nhỏ làm nơi tu dưỡng của một nhà sư. Chùa Linh
Xứng trên núi Ngưỡng Sơn trước khi được Thái uý Lý Thường Kiệt
mở mang khang trang, như bia Chùa xác nhận: “trước đây có một ẩn
sĩ riêng xây Am trong ấy và đi duyên hoá mọi phương, tuy đã mở
mang nhưng tịnh giới chưa được nghiêm ngặt”. Ngay cả Chùa Sùng
Nghiêm Diêu Thánh, trước khi được Chu Công mở mang lớn, theo bia
Chùa thì nơi đây vốn: “có di tích ngôi Chùa cổ, nền cũ mà gạch
ngói vẫn còn, nhà cửa thì cỏ gai đã mọc.”
Chùa Thầy ở Hà Sơn Bình gắn với núi đá Sài
Sơn có nhiều hang động, trong đó có hang Thánh Hoá là nơi tu
luyện của Từ Đạo Hạnh, song những khi xuống nuí, nhà sư lại lập
am Hương Hải để tiếp tục tu luyện.
Gần Chùa Thầy có động Hoàng xá mà ở phía sau
cửa động, trong một ngách đá cũng là chỗ tu luyện cửa một nhà
sư, ở trước chân núi ngay trước cửa hang vẫn còn một bệ tượng
Phật ghi rõ dựng năm Hội Phong thứ 8 tức 1099. Đấy là một bệ
nhỏ, tương tự bệ Chùa Thầy.
Cũng loại tiểu danh lam này, ở xã Thái Sơn
huyện Hiệp Hoà (Hà Bắc) còn có dấu vết của một ngôi Chùa thời
Lý, ngoài một ít chân tảng, ở thượng điện còn cả bệ đá dành
riêng cho tượng Phật, cả kích thước và hình khối như bệ tượng
Chùa Hoàng Xá và Chùa Thầy.
Chùa Bảo Ninh Sùng Phước ở Tuyên Quang theo
văn bia còn lại ở Chùa, do thái thú Hà Hưng Tông cho dựng vào
năm 1107, ở mãi miền rừng núi hẻo lánh, tuy được văn bia ca ngợi
nhưng đẹp trong khuôn khổ gọn nhỏ: “Xà uốn cong ngỡ cầu vồng bắt
nhịp, mái hiên xèo cánh như chim chóc tung bay. Nhà trắng bao
quanh... Tượng vàng đặt giữa... Trầm hương nghi ngút bốc tới
trời mây, chim khách nhịp nhàng vang lừng hang động.”
Bằng cứ vào thư tịch cũ, nhất là những dấu
tích kiến trúc hiện còn, kiến trúc thời Lý có giá trị nghệ thuật
gồm cả những kiến trúc dành riêng cho triều đình và kiến trúc
Tôn giáo, trong đó nổi trội lên là kiến trúc Chùa Tháp.
Nhà Lý trong hoài bão xây dựng một quốc gia
độc lập quy mô không kém các nước xung quanh; và trong xu hướng
đi lên, rất chú ý xây dựng một nền văn hoá nghệ thuật dân tộc.
Bộ mặt trước hết của nó là kinh thành Thăng Long mà sử cũ nhắc
đến nhiều cung điện, hành lang, sân rồng, vườn thượng uyển, phủ
đệ và cả văn miếu... nhưng không cho biết cụ thể kích thước, quy
mô, thường là nhà một tầng, đôi khi có lầu gác. Tài liệu nước
ngoài có nói tới cung điện bốn tầng. Trong khi đó, văn bia đương
thời, nhất là giả sử, lại cho biết khá tường tận quy mô to lớn,
bề thế, nguy nga của Chùa Tháp được xây nhan nhản khắp nơi. Sử
gia Lê Văn Hưu phê phán nhà Lý “làm Chùa thờ Phật lộng lẫy hơn
cung điện của vua.”
Lăng mộ các vua nhà Lý được táng ở quê hương
Cổ Pháp (nay là xã Đình Bảng, Hà Bắc), thuộc khu đất có tên là “Rừng
Báng” nhưng do không được quy hoạch và định vị rõ ràng, nên ngày
nay không còn thấy dấu vết gì. Đọc lại di chúc của vua Lý Nhân
Tông (mất năm 1127), ta thấy đầy tính khiêm nhường: “Trẫm nghe
phàm giống sinh vật không giống nào là không chết. Chết là số
lớn của trời đất, lẽ vật đều thế. Thế mà người đời không ai
không thích sống mà ghét chết. Chôn cất cho hậu để mất sinh
nghiệp, trọng để tang đến tổn hại tính mệnh, trẫm không cho là
phải. Ta đã ít đức, không lấy gì làm cho trăm họ được yên, đến
khi chết để cho nhân dân mình mặc sơ gai, sớm tối khóc lóc, giảm
ăn uống, tuyệt cúng tế, làm cho lỗi lại nặng thêm, thiên hạ sẽ
bảo ta là người thế nào?... Việc tang ma chỉ sau ba ngày bỏ áo
trở nên thôi thương khóc, việc chôn cất chỉ kiệm ước, không xây
lăng mộ riêng, nên chôn ngay cạnh tiên đế.” Ý nghĩa chiếu cố đến
nhân dân như vậy của một ông vua trong lúc giai cấp thống trị
đang hưng khởi, chẳng những đã tạo nên sức mạnh cho nhà nước,
còn giải thích tinh thần xả thân của nhà Phật đã thấm sâu vào
người ở ngôi vị tối cao. Các vua Lý đều sùng đạo Phật, khi sống
ở những cung điện không cao to quá mức, thì lúc sắp chết chẳng
nghĩ tới việc xây dựng lăng mộ tốn kém làm gì!
Không xây lăng mộ và cung điện nguy nga,
nhưng lại xây Chùa Tháp cao to bề thế, còn là biểu hiện tâm lý
cộng đồng, tập thể đang còn rất mạnh ở người Việt đương thời. Ý
thức ấy đã chỉ đạo việc xây dựng. Cung điện và lăng mộ dành
riêng cho vua. Chùa Tháp có cầu chúc cho vua và dòng họ bền
thịnh, nhưng cơ bản là thuộc tập thể, ở đấy cá nhân vua hòa
trong ý muốn quần chúng, tất cả cùng hướng theo tinh thần từ bi,
nhân ái của Phật giáo.
Kiến trúc Chùa Tháp thời Lý to lớn, lại được
xây ở những vị trí ngoạn mục, gắn với thiên nhiên tạo thành cả
một phong cảnh kiến trúc hoàn chỉnh có núi, có sông, có cây cối,
có nhà cửa... Những nơi núi cao thì Chùa chỉ xây ở lưng chừng
(như các Chùa Phật Tích, Vĩnh Phú, Giạm...); những nơi núi thấp
thì có thể xây ở trên đỉnh (như các Chùa Tháp Chương Sơn, Đồ
Sơn, Đọi...); những nơi không có núi thì xây trên gò bãi (như
các Chùa Bà Tấm, Hương Lãng...) tuy không ở sát nhà dân nhưng
vẫn gắn với làng mạc và làm chỗ sinh hoạt của cả cộng đồng thuộc
một vùng rộng. Nó thanh tịnh và ấm cúng. Lợi dụng địa thế cao
của núi đồi hay gò bãi, Chùa Tháp lại thường gần sông, nếu xa
sông thì đào ngòi từ sông dẫn đến cửa Chùa, tiện cho giao thông,
nhất là cuộc trẩy hội của triều đình. Cảnh đẹp sơn thủy hữu tình
đã được các nghệ sĩ xây dựng thời Lý khám phá triệt để lợi dụng
để tôn cái đẹp của kiến trúc lên vị trí xứng đáng, đáp ứng yêu
cầu của Phật giáo về tư tưởng từ bi nhân ái và khuyến thiện,
trừng ác.
Trong rất nhiều Chùa thời Lý, kiến trúc trung
tâm là Tháp cao vòi vọi như cây Thánh giá nối đất với trời, vừa
hoà hợp âm dương, vừa dâng truyền ý nguyện của Phật tử với đức
Phật ngự trị ở không trung. Tháp thời Lý chưa phải là mộ sư, mà
là đền thờ Phật thường dựng ở giữa hoặc trước Chùa, được phủ hoa
văn khắp mặt ngoài để như từ đất mọc lên. Cửa lên Tháp có những
bậc cấp với thành bậc ở hai bên, như Tháp Chương Sơn có thành
bậc chạm nhiều lớp sóng và trên đó là hành vũ nữ múa dâng hoa.
Hai bên cửa Tháp thường có tượng Kim Cương canh. Từ thế giới
trần tục, Phật tử bước qua cửa Tháp là đến với thế giới của Phật,
gột rửa những dơ bẩn để đạt đến độ thanh khiết và trường tồn.
Chùa thời Lý qua dấu tích để lại là chân tảng
đá kẻ cột gỗ và các ngôi ống chạm hoa lá, ngói bò chạm rồng và
phượng đã bày ra một thiên nhiên nghệ thuật được chọn lọc, vui
và lạc quan trong tình nhân ái: mỗi cây cột dựng trên một bông
sen đá, quanh bông sen lại có tới 4 dàn nhạc lớn đang biểu diễn,
toàn thể như một vũ hội. Cả bộ mái đỏ tươi từ diềm đến nóc cũng
lại đầy hoa và rồng, phượng là những hình trang trí quen thuộc
và độc đáo.
Những hình dáng kiến trúc đẹp còn để lại bằng
chứng ở tư liệu khảo cổ ấy, còn được khẳng định và bổ sung thêm
phong phú ở thư tịch. Bên cạnh kiểu kiến trúc bông sen của Chùa
Một Cột, còn có các cung tứ giác và điện bát giác mà bộ mái thì
đều vênh cong như trĩ xoè cánh, và được lợp ngói thành nhiều lớp
tựa vẫy rồng. Một số kiến trúc nhiều tầng như ở Chùa Phật Tích
và ở cung vua còn được sơn vẽ các hình tiên nữ, rồng, phượng và
tinh tú; để thích nghi với khí hậu nhiệt đới nóng gắt các kiến
trúc ấy luôn có không gian đệm mang tính chuyển tiếp là hàng
hiên bao quanh.
Ngoài cái đẹp của hình khối kiến trúc và các
trang trí phù hợp chạm hoặc vẽ, còn được gia tăng bởi các mảng
màu, như mái đài chúng Tiên lợp ngói vàng và ngói bạc luôn rực
rỡ và sáng chói dưới ánh mặt trời; mái của nhiều kiến trúc khác
chỉ với màu đất nung đỏ tươi cũng thật ấm cúng và tương quan với
màu xanh của lá cây như còn gợi cả chiều sâu của thời gian.
Trên bình diện của kiến trúc, cả dấu vết khảo
cổ và sự tả lại của văn bia, chúng ta thấy kiến trúc thời Lý
trong cả tổng thể cũng như mỗi Chùa Tháp cụ thể đều có bố cục
cân đối theo nhiều kiểu phong phú với những quy tắc nhất định.
Trong Chùa điện thờ Phật là kiến trúc chính,
ở một số Chùa, Tháp đồng thời là đền thờ Phật thì Tháp là kiến
trúc chính. Ở giữa một cột, tất cả đều quy tụ quanh toà Chùa
mang hình bông sen nở trên trụ đá. Ở Chùa Linh Xứng thì: “Chùa
Phật thênh thang ở giữa, phòng chạy rộng rãi hai bên.” Ở Chùa
Đọi thì cây Tháp quý Sùng thiện Diệu Linh là điểm tụ hội những
kiến trúc phụ khác. Các Tháp Đồ Sơn, Tháp Phật Tích, Tháp Chương
Sơn cũng đều thế cả. Trong các Tháp này đều có một pho tượng và
các hoạt động lễ hội Tôn giáo đều tiến hành ở trong hoặc xung
quanh Tháp. Trong lối bố cục mặt bằng lấy Phật điện làm điểm quy
tụ, Phật điện là điện thờ hay Tháp thờ đều có bình diện vuông.
Đó là sự gặp gỡ của yêu cầu thẩm mỹ truyền thống Việt Nam với
kiến trúc Phật giáo ở Ấn Độ đã được quy định rõ ràng. Đã trên cơ
sở mặt bằng hình vuông, mỗi mặt thuộc về một hướng và có cửa mở,
phù hợp với vũ trụ quan đương thời.
Một số Chùa xây trên gò bãi hay lưng chừng
núi, có địa thế rộng, như các Chùa Bà Tấm, Hương Lãng, Phật
Tích, Giạm...lại sắp xếp mặt bằng thành các nếp nền từ ngoài vào
trong, càng đi sâu vào càng lên lớp nền cao hơn và càng gần Phật
điện. Phật tử vào đến Phật điện, tiếp xúc với tượng Phật có cảm
tưởng như mình được tiếp cận với đấng giác ngộ.
Trong cả hai lối mặt bằng trên, phía cửa đón
các Phật tử vào Chùa đều thuộc hướng Nam. Đó là hướng lý tưởng
của xứ sở nhiệt đới gió mùa, tránh rét mùa Đông và tránh nóng
mùa Hè, lại phù hợp với quan niệm cho nước ta là “Nam Giao thuộc
cõi ly minh”, nó có màu đỏ của cửa, của cuộc sống độc lập. Và từ
cửa đi vào điện Phật cũng tức là phía Nam lên phía Bắc trong cả
cụm kiến trúc hình thành một đường trục dọc để từng kiến trúc cụ
thể ở hai nửa phải và trái luôn đăng đối nhau, tạo sự trang
nghiêm và tập trung tình cảm nghĩ về phía trước có điện thờ Phật
mà mọi người còn được nhích gần. Lối kết cấu kiến trúc Chùa Tháp
như thế đã làm rõ chủ đề của kiến trúc Tôn giáo, nâng chủ đề
lên.
Chùa thời Lý và kiến trúc Phật giáo sớm nhất
còn dấu vết trên mặt đất và trong thư tịch. Nó khẳng định một
giá trị nghệ thuật dân tộc đặc sắc của Việt Nam và cũng là của
thời đại, xứng đáng mở đầu cho nền văn minh Đại Việt, là bằng cứ
lao động sáng tạo của dân tộc có trình độ thẩm mỹ cao.
(Trích Tập văn Thành đạo, PL. 2532 - 1989)
Chu Quang Trứ
Nguồn tin lấy từ trang:
daophatngaynay
Các tin đã đăng:
-
Nghệ thuật Phật giáo
-
Lâu đài Potala "Kỳ Quang Mới của Thế giới)
-
Bức
thư của diễn viên điện ảnh Trương thi May
-
Ngôi chùa trong kiến trúc thời Lý
-
Màu sắc Phật giáo trong
nhạc Trịnh
-
Thập mục ngưu đồ
-Khám
phá hình tượng rồng và lá bồ đề trong điêu khắc thời Lý
|