Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghệ thuật Phật giáo
là sự
phản ánh
các
khái niệm
trong
đạo Phật
dưới các h́nh thức
nghệ thuật
khác nhau – nhất là các
lĩnh vực
kiến trúc,
điêu khắc
và
hội họa
có liên quan đến
Phật,
Pháp
và
Tăng
– bắt đầu từ thời ban sơ trước đây 2.500 năm đă
phát triển một hệ thống đồ tượng biểu trưng đa
dạng và phức tạp. Nghệ thuật
Phật giáo
bắt nguồn từ tiểu lục địa
Ấn Độ,
ngay sau khi Phật
Thích-ca Mâu-ni
(≈563–483
TCN) viên tịch.
Trong thời ḱ tối sơ,
nghệ thuật Phật giáo thuộc loại
phi thánh tượng
(tiếng
Anh:
aniconic),
như vậy là chưa thể hiện
h́nh tượng Phật dưới h́nh
người[cần dẫn nguồn].
Thời ḱ hưng thịnh của nghệ thuật Phật giáo đầu
tiên có lẽ là thời vua
A-dục
trị v́ (≈268–232
TCN), ông đă
đóng góp rất nhiều cho việc truyền bá
Phật giáo tại Ấn Độ
cũng như phổ biến đến các khu vực khác như
Trung Á,
Tích Lan,
và ngay cả khu vực
Đông Nam Á
như các ghi nhận trong lịch sử[cần dẫn nguồn].
Những h́nh tượng đầu
tiên, đặc biệt là các tượng tạc h́nh Phật, xuất
hiện vào khoảng
thế kỉ thứ 1
CN ở các vùng
Càn-đà-la
(Gandhāra)
và Ma-thâu-la (Mathurā)[cần dẫn nguồn].
Với việc phổ biến Phật giáo đến những vùng
Trung,
Đông,
và Đông Nam Á th́ nghệ thuật Phật giáo lại trải
qua nhiều ảnh hưởng của các nền văn hóa khác,
thu nhận chúng và phát triển một hệ thống đồ
tượng tinh tế và phức tạp.
[sửa]
Thời ḱ phi thánh tượng – thế kỉ thứ 5 TCN đến
thế kỉ thứ 1 CN
Đại tháp tại
Kiến-chí (Ấn
Độ, tk. 3 TCN)
Người ta không thể xác
định rơ ràng nguồn gốc của nghệ thuật Phật giáo.
Những tác phẩm nghệ thuật đầu tiên được xem là
thuộc về Phật giáo xuất phát từ lĩnh vực kiến
trúc. Đó là những
Tháp-bà
(zh. 塔婆, sa. stūpa,
pi. thūpa),
thường được gọi tắt là "tháp", ban đầu có cấu
trúc ṿm và là nơi chứa
Xá-lợi
(sa. śarīra)
của Phật. Ở các tháp này, người ta cũng t́m thấy
những minh họa nghệ thuật cổ nhất dưới dạng chạm
trổ (relief
sculpture). Tuy
nhiên, các tác phẩm này không có những nội dung
đặc thù Phật giáo – có nhiều cảnh được miêu tả
rất có thể có nguồn trước Phật giáo, ví dụ như
h́nh của một
phụ nữ
đang sầu muộn, lơa thể với búi tóc xơa, hoặc các
loại
La-sát,
những thần linh đă có trong truyền thống
Ấn Độ giáo.
Nhiều h́nh chạm trổ mang những nét đặc thù Phật
giáo xuất hiện trong thế kỉ thứ 2 TCN.
Mặc dù nghệ thuật Ấn Độ đă có
truyền thống điêu khắc h́nh người trước đó rất
lâu, nhưng Phật ban đầu không được tŕnh bày
dưới h́nh người, mà thông qua các h́nh ảnh ẩn dụ
như hoa sen, cây bồ đề, bánh xe pháp thuật.
Thường th́ Phật và giáo lí của Phật được thể
hiện bằng những biểu trưng khác nhau và chúng đă
trở thành những thành phần chính trong nghệ
thuật Phật giáo đến ngày nay.
-
Hoa Sen
(liên hoa 蓮華, sa.
padma,
kamala,
puṇḍarīka):
v́ không để nước và chất bẩn bám vào lá, là
biểu tượng của sự trong sạch và Phật tính
trong mỗi chúng sinh. Hoa sen dưới dạng măn
khai hoặc dạng bán khai cũng là biểu tượng
của sự hạ sinh của thái tử
Tất-đạt-đa Cồ-đàm.
-
Bồ-đề thụ
(zh. 菩提樹, sa.
aśvattha,
bodhiruma,
bodhitaru,
lat. ficus
religiosa).
Tương truyền Phật đắc đạo dưới cây này và v́
vậy nó mang tên "bồ-đề",
là cách phiên âm của từ "giác
ngộ". Nhưng
biểu tượng này cũng đă có nguồn từ những
phong tục tín ngưỡng lực phồn thực vốn sẵn
có trong xă hội Ấn Độ trước Phật giáo, được
xem là "cây của sự sống". Thỉnh thoảng người
ta cũng thấy cách tŕnh bày một toà ngồi
trống dưới cây bồ-đề, nhắc đến sự thành đạo
của Phật.
-
Pháp luân
(zh. 法輪, sa.
dharmacakra) -
bánh xe (cakra)
pháp
(dharma),
tượng trưng cho
Tứ thánh đế
và
Bát chính đạo.
Nhưng Pháp luân cũng nhắc đến lần Phật
thuyết pháp đầu tiên tại Lộc Dă uyển, được
gọi là lần đầu tiên "quay bánh xe pháp" (zh.
轉法輪, sa.
dharmacakrapravartana)
và qua đó, phổ biến Phật pháp khắp nơi trên
thế gian. Pháp luân vừa được thể hiện qua
những h́nh điêu khắc nổi, vừa được chạm trổ
trên đỉnh các cột trụ mà vua
A-dục
đă dựng trên khắp vương quốc của ông (xem
thêm
A-dục vương thạch khắc
văn).
-
Sư tử
(zh. 獅子, sa.
siṃha), biểu
tượng của sự cai trị và hoàng gia của vị
Phật lịch sử
Thích-ca Mâu-ni
("Trí giả trầm lặng của ḍng Thích-ca").
Thời vua A-dục, người ta cũng gọi Phật là
Thích-ca Sư tử (sa.
śākyasiṃha),
"Sư tử xuất thân từ ḍng Thích-ca". Tương tự
Pháp luân, sư tử cũng là một biểu tượng của
Phật giáo được vua A-dục đặt trên những cột
trụ của ông. Quốc huy Ấn Độ hiện nay là một
cột trụ có h́nh sư tử xuất phát từ
Sarnath.
Gần bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn
|
Sư tử (Ấn Độ,
thế kỉ 3 TCN)
|
Bàn chân Phật
trên đá (Phật túc thạch 佛足石, sa.
buddhapada, thế kỉ 1
Càn-đà-la)
|
-
Phật túc thạch
(zh. 佛足石, sa.
buddhapada)-
bàn chân Phật trên đá, được xem là một biểu
trưng cho sự "khắc Phật pháp" vào thế giới
của Phật Thích-ca. Thông thường, biểu tượng
này thường đi cùng với hàng loạt biểu tượng
khác, ví như pháp luân, bát cát tường (zh.
八吉祥, sa.
aṣṭamaṅgala),
v.v.
-
Tháp-bà
(zh. 塔婆, sa.
stūpa, pi.
thūpa),
tượng trưng cho vũ trụ, đặc biệt là
Niết-bàn.
Trong thế kỉ thứ 2 và
đầu thế kỉ 1 TCN, các tác phẩm h́nh tượng, điêu
khắc, và hội họa dưới nhiều dạng như đai viền
trang trí (en.
frieze), bài vị thờ
cúng (en. votive
tablet) miêu tả các
giai đoạn trong cuộc đời đức Phật, ngày càng
quan trọng và phổ biến v́ chúng được xem là
những tác phẩm nghệ thuật minh họa Phật pháp cho
người không biết đọc. Mặc dù h́nh người được
tŕnh bày trong các tác phẩm này nhưng Phật vẫn
được miêu tả bằng những biểu tượng nêu trên.
Nguyên nhân ở đây có thể là một lời nói của Phật
trong
Trường bộ kinh
và theo đó, Phật không tán thành việc tŕnh bày
ngài trong tranh tượng sau khi ngài nhập
Niết-bàn. Theo các nhà sử học tôn giáo[cần dẫn nguồn]
th́ có lẽ các nghệ nhân, tăng sĩ thời đó thấy
việc miêu tả một nhân vật đă vượt ra khỏi ṿng
sống
chết,
đă ĺa xa tất cả những việc đời thường cũng như
vật chất, tâm thức,... bằng h́nh tượng là một
việc không thể thực hiện.
[sửa]
Thời ḱ thánh tượng - thế kỉ thứ 1 đến nay
Bồ Tát
Di-lặc,
Ma-thâu-la, thế kỉ 2.
Tại Nam Ấn Độ, truyền
thống biểu hiện Phật bằng biểu tượng vẫn c̣n
được ǵn giữ đến thế kỉ thứ 2 (xem trường phái
A-ma-la-bà-đề,
sa. amāravatī).
Nhưng trong thế kỉ 1, h́nh tượng tŕnh bày đức
Phật đầu tiên đă xuất hiện ở hai khu vực miền
Bắc Ấn. Một số nhà nghiên cứu[cần dẫn nguồn]
cho rằng, h́nh tượng Phật có thể đă xuất hiện
trước đó nữa, nhưng v́ được khắc hoặc vẽ trên
những vật liệu nhanh mục như
gỗ,
vải
hoặc lá
cọ
nên chúng không thể lưu dấu tích để chứng minh.
Tuy nhiên, cho đến bây giờ người ta vẫn chưa t́m
được một bằng chứng cho giả thuyết này từ phía
khảo cổ học.
[sửa]
Càn-đà-la và Ma-thâu-la
Tại khu vực
Càn-đà-la
(vị trí hiện nay là miền Đông
Afghanistan,
miền Tây Bắc
Pakistan
và có thời ḱ lấn sâu vào
Punjab)
và
Ma-thâu-la
(phía nam thủ đô
Delhi
của Ấn Độ ngày nay), các trào lưu nghệ thuật
tŕnh bày Phật dưới h́nh người xuất hiện gần như
cùng lúc và ảnh hưởng lẫn nhau. Nhưng người ta
vẫn chưa xác định được việc tŕnh bày Phật dưới
h́nh người thực sự có trước ở miền nào. Trong
mọi trường hợp, phong cách của các nghệ nhân Ma-thâu-la
chịu ảnh hưởng Ấn Độ giáo truyền thống trong khi
nghệ thuật Càn-đà-la lại phản ánh ảnh hưởng của
nghệ thuật
Hi Lạp
vốn đă có mặt ở đó hơn vài thế kỉ[cần dẫn nguồn].
Trong cuộc viễn chinh cuối
Alexander Đại đế
(356 – 323 TCN) đă chiếm đóng được
Taxila
(gần
Peshawar),
là thủ đô kể từ thời vua người Achaemenid là
Darius I
(549 - 486 TCN). Càn-đà-la trở thành một phần
của khu vực cai trị rộng lớn của Alexander Đại
đế và tiếp tục là khu vực cai trị của Hi Lạp sau
khi ông qua đời. Do vậy, ở nơi này, tín ngưỡng
Phật giáo và truyền thống nghệ thuật cũng như mĩ
học Cổ Hi Lạp và sau đó mĩ học địa phương La Mă
đă ḥa hợp nhau. Trong thế kỉ 1, cả Càn-đà-la và
Ma-thâu-la đều bị vương triều Quư Sương (zh.
貴霜王朝, Kuṣāṇa)
chiếm đóng và chịu ảnh hưởng của nó nhiều thế kỉ
(tk. thứ 5 vương triều mới rơi vào tay quân Bạch
Hung - Hephthalite).
Trong thời gian này, vua Ca-nị-sắc-ca (zh. 迦膩色迦,
sa. Kaniṣka)
giữ một vai tṛ quan trọng với việc ủng hộ Phật
giáo nói chung và nghệ thuật Phật giáo nói riêng.
Sự ḥa hợp và ảnh hưởng
lẫn nhau của nghệ thuật mang đậm sắc thái Ấn Độ
tại Ma-thâu-la và của nghệ thuật mang dấu ấn Hi
Lạp tại Càn-đà-la đă tạo ra một dạng nghệ thuật
căn bản cho tất cả các trường phái nghệ thuật
Phật giáo sau này, đó là
Phật giáo Hy Lạp.
Mặc dù không xác định
được những đồ tượng miêu tả Phật dưới nhân dạng
xuất phát từ nơi nào, nhưng trong các tượng được
tạc, người ta vẫn thấy được những dấu tích của
hai truyền thống nguyên thuỷ: tóc xoắn, pháp y
che hai vai, giầy hoặc những nét trang trí với
những chiếc lá Acanthus được xếp theo trật tự
Ca-lâm-đa (Corinthian
order) được xem là
bắt nguồn từ Càn-đà-la. Ngược lại, pháp y với
những nét tinh tế hơn và chỉ che bên vai trái,
đài hoa sen làm chỗ ngồi của Phật cũng như
Pháp luân
trong bàn tay của ngài được xem có nguồn từ Ma-thâu-la.
Tại Ấn Độ, nghệ thuật
Phật giáo tiếp tục phát triển trong các thế kỉ
tiếp theo trên cơ sở này. Đáng kể là nghệ thuật
của các nhà tạc tượng tại Ma-thâu-la, đặc biệt
là việc sử dụng sa thạch đỏ làm chất liệu trong
thời ḱ vương triều Cấp-đa (Gupta,
tk 4-6). Nơi đây, các sắc thái nghệ thuật chính
được kết tụ trong thế kỉ thứ 7-8, được xem là
tiêu chuẩn cho hầu hết tất cả những nước ở châu
Á có truyền thống Phật giáo sau này: thân và tứ
chi của Phật thanh nhă và cân xứng, lỗ tai dài
có lỗ bấm nhắc đến thời ḱ ngài c̣n là thái tử
Tất-đạt-đa,
búi tóc trên đầu gợi nhớ lại thời Phật tu khổ
hạnh như một
Du-già sư
(sa. yogin)
và cuối cùng, cặp mắt chỉ hé mở, không nh́n
người đối diện mà chỉ hướng nội thiền định. Từ
đó về sau, cách tŕnh bày Phật đều mang những
nét hiện thực được lí tưởng hóa.
Tại
Ấn Độ, từ thế kỉ thứ 10 trở đi, Phật giáo và nền
nghệ thuật hệ thuộc dần dần bị
Ấn Độ giáo
trong lúc đang phục hưng lấn át. Sau đó, Ấn Độ
bị
Hồi giáo
từ phương Tây xâm chiếm, Phật giáo gần như hoàn
toàn bị mai một ở xứ Ấn.
Cùng với sự phổ biến
Phật giáo, nhiều trường phái nghệ thuật Phật
giáo xuất hiện song song với các trường phái
giáo lí Phật giáo lớn như là
Tiểu thừa,
Đại thừa
và
Kim cương thừa.
Các trường phái này có nhiều điểm giống nhau,
nhưng mặt khác cũng phát triển những nét rất đặc
thù. Thông thường, người ta phân biệt giữa hai
nhánh chính, đó là Nghệ thuật Phật giáo Bắc
truyền (Đại thừa) và Nghệ thuật Phật giáo Nam
truyền (Tiểu thừa). Trong khi các thành phần đối
xứng và tư thế ngày càng được nghệ thuật Bắc
truyền lí tưởng hóa nhằm ứng đáp quan điểm Phật
là "xuất thế nhân", mang những đặc tướng siêu
việt th́ các trường phái Nam truyền có vẻ vẫn
biểu hiện Phật với những nét của "thế nhân", xem
Phật vẫn là một người, mang thân thể của con
người[cần dẫn nguồn].
[sửa]
Phật giáo Bắc truyền
Phật
A-di-đà
tại Long Môn (Trung Quốc, nhà Đường,
tk 7-9)
Nhà Minh (Trung
Quốc, tk. 16)
Phật giáo Bắc truyền
dưới dạng
Đại thừa
được truyền bá có gốc xuất phát là Càn-đà-la,
trước hết xuyên
Con đường tơ lụa
đến
Trung Á
và
Trung Quốc,
sau đó tiếp tục đến
Hàn Quốc,
Nhật Bản
và
Việt Nam.
Một cung cách riêng với hệ thống đồ tượng rất đa
dạng và đặc thù được t́m thấy trong
Kim cương thừa
tại
Tây Tạng.
Phật giáo Bắc truyền, như trường hợp Đại thừa
nói chung, được đánh dấu bằng một hệ thống đồ
tượng phức tạp với rất nhiều vị
Phật
và
Bồ Tát
khác nhau.
[sửa]
Trung Á
Khu vực ảnh hưởng Phật
giáo Càn-đà-la tồn tại đến thế kỉ thứ 7, khi Hồi
giáo bắt đầu chiếm lĩnh phần lớn khu vực
Trung Á.
Song song với những tác phẩm xác lập phong cách
của các nhà điêu khắc, các tượng Phật tại
Ba-mễ-dương (Bāmiyān)
cũng thuộc vào những di sản của nền văn hóa Phật
giáo đầu mùa này.
V́ địa thế đặc biệt nên
Trung Á luôn là một địa điểm hội tụ của các nền
văn minh cổ -
văn minh Trung Hoa
bên phía Đông,
văn minh Ấn Độ
và
Ba Tư
ở miền Nam, sau đó là các nước dưới quyền
Alexander Đại đế,
vương triều Tắc-lưu-tây (en.
seleucid),
và cuối cùng là
văn minh La Mă
từ miền Tây.
Người Hán
đă tiếp xúc với
văn minh Hy Lạp
trong thế kỉ thứ 2 TCN trong thời ḱ bành trướng
sang hướng Tây. Những mối quan hệ ngoại giao
được thành lập và cuối cùng, các tuyến lộ thương
mại xuất hiện, được biết đến ngày nay dưới tên "Con
đường tơ lụa".
Phật giáo được phổ biến dọc theo con đường này.
Tháp, tự viện, và một số vương quốc Phật giáo
nhỏ được kiến lập trong những
ốc đảo
bên cạnh Con đường tơ lụa. Rất nhiều công tŕnh
kiến trúc và đồ tượng của thời ḱ này c̣n được
t́m thấy tại nhiều vùng phía đông của Trung Á,
miền Tây Bắc Trung Quốc hiện nay (Thổ Nhĩ Ḱ Tư
Thản -
Turkestan
- Bồn địa Tháp-lí-mộc -
Tarim Basin
- và
Tân Cương),
chẳng hạn như những bức hoạ và chạm trổ trên
tường trong một loạt tự viện được xây trong hang
đá, những bức tranh được vẽ trên vải, tượng đá
và những khí cụ được dùng trong nghi lễ. Đặc
biệt là những tác phẩm cổ nhất ở đây cho thấy rơ
ảnh hưởng của nghệ thuật Càn-đà-la. Ngay cả văn
bản được viết bằng chữ Kharoṣṭhī của vùng
Càn-đà-la cũng được t́m thấy ở những ốc đảo. Với
sự phát triển quan hệ thương mại, ảnh hưởng của
Trung Quốc tăng trưởng rất nhanh, văn hóa và
nghệ thuật của những dân tộc sống dọc theo Con
đường tơ lụa sau cũng biến đổi theo.
[sửa]
Trung Quốc
Truyền thuyết cho rằng,
thời vua A-dục trị v́ (thế kỉ thứ 3 TCN) đă cử
nhiều vị tăng đến
Trung Quốc
truyền đạo. Việc truyền bá Phật giáo đến Trung
Quốc được ghi nhận rơ ràng bắt đầu vào thế kỉ
thứ 1 CN. Từ thế kỉ thứ 4 trở đi, người ta có
thể t́m thấy một nghệ thuật Phật giáo tự lập và
đa dạng, đặc biệt trong lĩnh vực tạc tượng, vẽ
tranh trên tường và sau đó, dưới dạng tranh cuốn
(Thangka).
Ngoài vị Phật lịch sử
Thích-ca Mâu-ni,
tranh tượng c̣n tŕnh bày Phật
A-di-đà,
Đại Nhật
và các vị
Bồ Tát
khác (Quán
Thế Âm,...).
Các vương triều miền
Bắc - Bao gồm khu
vực cai trị của các vương triều (Bắc
Ngụy 北魏,
Đông Ngụy
東魏,
Tây Ngụy
西魏,
Bắc Tề
北齊,
Bắc Chu
北周) về mặt địa lí đều rất xa nguồn gốc Phật giáo
tại Ấn Độ. Trong thế kỉ thứ 5-6, một phong cách
nghệ thuật rất đặc thù được h́nh thành, bao gồm
những thành phần biểu đạt trừu tượng có tính
chất sơ đồ. Ban đầu, cách tŕnh bày c̣n mang
những đặc điểm được t́m thấy trong các h́nh
tượng thần linh truyền thống bản địa: trán rộng,
sống mũi thon, sắc nét và miệng nhỏ cười mỉm.
Hào quang không tṛn với mũi nhọn đưa lên tương
tự một chiếc lá. Chỗ thờ cúng và tưởng niệm
thường được tŕnh bày trong hang động theo
truyền thống Ấn Độ (xem
A-chiên-đà).
Các h́nh tượng thường được biểu hiện dưới dạng
chạm trổ, đục từ vách đá ra. Những di tích quan
trọng và nổi tiếng nhất được t́m thấy trong
những hang đá tại Long Môn (Long
Môn thạch quật,
bắt đầu từ thế kỉ thứ 5 nhà Bắc Nguỵ, nhà Đường;
gần Lạc Dương, tỉnh
Hà Nam).
Đến thế kỉ thứ 6 người ta c̣n t́m thấy nhiều
h́nh tượng được làm bằng đất nung, sau đó tượng
đồng
ngày càng xuất hiện nhiều hơn và cũng được
truyền đến Hàn Quốc.
Nhà Đường
- Hai vương triều kế đến là nhà Tùy và nhà Đường
lại chú tâm đến các tài liệu gốc Ấn Độ hơn.
Nhiều cao tăng Trung Quốc đă sang Ấn Độ trong
thời gian giữa thế kỉ thứ 4 và 11. Một trong
những cao tăng du học trong thế kỉ thứ 7 được
nhắc đến là
Huyền Trang
và nhờ vị này mà người ta có được một bài tường
thuật về các tượng Phật tại Ba-mễ-dương. Cuộc
giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Ấn Độ dưới
vương triều Cấp-đa đă dẫn đến sự một kiện quan
trọng là: từ lúc này, nghệ thuật Phật giáo Trung
Quốc ngày càng có xu hướng đi sát với nghệ thuật
Ấn Độ; Nếu tranh tượng của các vị Phật và Bồ Tát
trước đây thon gầy và theo truyền thống
Càn-đà-la, mang pháp y có nhiều nếp pli phủ từ
cổ xuống chân, th́ giờ đây, thân thể của chư vị
có vẻ "mập" hơn và cũng có một phần thân không
được che phủ (vai bên phải, bán thân phía trên).
Cổ của chư vị có ba "ngấn thẩm mĩ", mô típ hoa
sen ngày càng được dùng như một thành phần trang
trí, hào quang giờ đây có h́nh tṛn. Mặc dù tư
thế được tŕnh bày vẫn c̣n cứng và không tự
nhiên, nhưng gương mặt lại mang những nét dễ gần
và tự nhiên hơn. Kể từ thế kỉ thứ 7 người ta lại
thấy một phong cách nghệ thuật mới: gương mặt
tṛn trịa, bộ tóc được trang điểm phức tạp hơn
với nhiều trang vật khác nhau. Song song với
nghệ thuật tạc tượng, ban đầu hội hoạ trên vách
của các tự viện và thạch động là chủ yếu. Nhưng
đến cuối đời nhà Đường th́ một phong cách hội
hoạ đặc thù được phát triển trên những bức tranh
cuốn. Các nghệ nhân thời đó thường lấy h́nh
tượng các vị Bồ Tát hoặc chư thiên, hộ thần đă
được thuyết phục ủng hộ Phật pháp - vốn được
trang trí rực rỡ hơn - làm mô típ thay v́ lấy
h́nh tượng giản dị của Phật Thích-ca Mâu-ni. Nhà
Đường rất rộng mở cho những ảnh hưởng bên ngoài.
Trong thế kỉ thứ 9, vào khoảng cuối nhà Đường,
sự phóng khoáng nghệ thuật này cuối cùng đă
chuyển biến thành cực biên khác. Vào năm 845,
Đường Vũ Tông
(武宗 814–846, tức Lí Viêm 李炎) ra lệnh đàn áp tất
cả những "tôn giáo ngoại lai" như Cảnh giáo (景教,
Nestorianism),
Toả-la-á-tư-đức giáo (瑣羅亞斯德教,
Zoroastrianism)
và Phật giáo. Tự viện Phật giáo bị đóng cửa và
Phật tử giờ đây bị đàn áp, buộc phải ẩn náu tu
hành. Phần lớn những thành tích nghệ thuật đời
Đường chỉ trong vài năm đă bị phá huỷ. Qua Pháp
nạn này, sự phát triển của nghệ thuật Phật giáo
tại Trung Quốc cũng bị đ́nh chỉ gần như hoàn
toàn.
Thiền tông
- Là một trong những tông phái Phật giáo sống
sót sau Pháp nạn 845, Thiền tông đă được chấn
hưng vào đời
nhà Tống
(1126-1279). Các thiền viện lúc này cũng được
xem là trung tâm của văn hóa và giáo dục. Từ thế
kỉ 13 trở đi, Thiền tông chính thức được truyền
sang
Nhật Bản.
Xem thêm
Phật giáo Trung Quốc
[sửa]
Hàn Quốc
Tượng Phật
Thích-ca tại Minh Nhật Hương Thôn
(明日香村, ja.
asuka-mura,
Nhật Bản, 609). Đây là tượng Phật cổ
nhất tại Nhật có ghi chính xác thời
điểm hoàn tất.
Ngũ Trùng tháp
(五重塔) tại Hưng Phúc tự (興福寺), Nại
Lương, Nhật Bản, tk. 8
B́nh đẳng có
yếu tố (平等院, ja.
Byodoin),
Nhật Bản, thế kỉ 11
Nghệ thuật
vườn Nhật (Nhật Bản đ́nh viên 日本庭園)
Phật giáo được truyền
sang
Hàn Quốc
trong thế kỉ thứ 6 từ Trung Quốc qua sự tiếp xúc
với những bộ tộc thảo nguyên tại Trung Á và Bắc
Á. Ban đầu, nghệ thuật Phật giáo Hàn Quốc chịu
ảnh hưởng Trung Quốc cũng như ảnh hưởng của nghệ
thuật truyền thống bản xứ: h́nh dạng trừu tượng
nhưng đồng thời mang nhiều trang vật truyền
thống. Tuy nhiên, khác với những những h́nh
tượng mang nhiều trang vật sặc sỡ của nghệ nhân
Trung Quốc, người Hàn chuộng phong cách đơn giản,
rơ ràng hơn như có thể thấy được ở phong cách
biểu hiện các vị Phật siêu việt như
Đại Nhật Phật.
Truyền thống nghệ thuật này sau cũng có ảnh
hưởng lớn tới nền
Phật giáo Nhật Bản.
[sửa]
Nhật Bản
Phật giáo cũng được
truyền sang
Nhật Bản
vào thế kỉ thứ 6 qua các tăng sĩ Hàn Quốc và
Trung Quốc và đă được phổ biến trong thế kỉ 7.
V́ địa thế ốc đảo đặc biệt, là miền cực Đông của
Con đường tơ lụa
nên nhiều truyền thống Phật giáo cũng như nghệ
thuật Phật giáo vẫn được lưu tồn ở đây trong khi
bị đàn áp và suy tàn ở những khu vực phương Tây
khác như Ấn Độ, Trung Á và Trung Quốc. Trong
lĩnh vực nghệ thuật th́ ban đầu, phong cách Hàn
Quốc được tiếp nối và có phần bị ảnh hưởng bởi
phong cách nghệ thuật truyền thống Nhật Bản thời
Minh Nhật (明日, ja.
asuka, 593-710).
Thời đại Nại Lương
(奈良, ja. nara,
710–794),
nhiều nghệ nhân và tăng sĩ sang Trung Quốc học
hỏi và mang các tranh tượng cũng như văn bản về
bản xứ. Thời kỳ nhà Đường, nghệ thuật Phật giáo
Trung Quốc mang nặng ảnh hưởng của vương triều
Cấp-đa (sa. gupta)
tại Ấn Độ, và v́ vậy, ảnh hưởng này cũng được
truyền sang Nhật Bản: Các bức tranh trên tường
có nhiều nét giống các bức tranh trong những
hang động tại A-chiên-đà (zh. 阿旃陀, sa.
ajantā);
nhiều nét của chủ nghĩa hiện thực - vốn đă có
mặt trong thời Minh Nhật và chịu ảnh hưởng Hàn
Quốc rơ rệt - tiếp tục được nhấn mạnh; các nếp
pli (nếp xếp) của pháp y được đơn giản hóa và
được làm rơ ràng hơn, đồng thời nụ cười mỉm
trong các gương mặt đă nhường chỗ cho nét mặt
yên tĩnh, êm dịu. Từ thế kỉ thứ 8, nghệ thuật
Phật giáo Nhật Bản bắt đầu khác biệt phong cách
của các nước láng giềng phương Tây. Các tượng
Phật giờ đây có thân thể và tư thế hùng vĩ. Các
bức tượng ngày càng được tạo với số lượng lớn
bằng đất nung và gỗ (với kĩ thuật sơn đặc biệt
của người Nhật) thay v́ bằng đồng. Một trong
những tượng Phật lớn và quan trọng nhất c̣n được
đúc bằng đồng là tượng Đại Phật (ja.
daibutsu)
tại
Đông Đại tự
(zh. 東大寺, ja.
tōdai-ji), được
hoàn tất năm 749. Nhưng song song với đó, nhiều
tự viện được kiến lập với những kiến trúc đặc
biệt như Tháp ngũ tầng (Ngũ trùng tháp 五重塔
gojū-tō)
tại Nại Lương, Đại Kim đường (大金堂, ja.
daikondō)
tại
Pháp Long tự
(zh. 法隆寺, ja.
hōryū-ji) hoặc
Hưng Phúc tự
(興福寺, ja. kōfuku-ji).
Hội hoạ và tranh thuỷ mặc (có phần được tô màu)
hay được dùng để minh hoạ các bộ kinh, thường
theo những mô típ và phong cách của nghệ thuật
Trung Quốc và Trung Á.
Thời đại B́nh An
(平安, ja. heian,
794–1185)
được đánh dấu bởi sự chuyên chú vào các nhánh
Mật giáo
với nhiều vị Phật siêu việt (Đại
Nhật Phật,
A-di-đà Phật,
Di-lặc
v.v...) và các vị
Bồ Tát.
Cùng với khuynh hướng này, một phong cách thoát
li ảnh hưởng cũ (Đường, Cấp-đa) xuất hiện. Thời
đại B́nh An được xem là thời vàng son của nghệ
thuật Phật giáo tại Nhật. Vật liệu điêu khắc
được chuộng nhất là gỗ, thường được mạ vàng hoặc
được sơn. Chỉ gỗ có hương mới được để nguyên
không xử lí. Trong lĩnh vực hội hoạ, nhiều
Mạn-đà-la
xuất hiện, được các thế hệ sau xem là tiêu chuẩn
và được sao lại rất nhiều. Kể từ thế kỉ 12, nghệ
thuật tạo h́nh Nhật Bản tập trung vào cách tŕnh
bày này những mô típ thuộc trường phái tôn xưng
Phật A-di-đà, tức là
Tịnh độ tông
hoặc
Tịnh độ chân tông.
Nghệ thuật Phật giáo
Nhật đạt đến đỉnh cao tột độ trong
thời đại Liêm Thương
(鐮倉, ja. kamakura,
1185–1333).
Đặc biệt trong lĩnh vực tạc tượng, các nghệ nhân
đă hoàn tất nhiều bức tượng đặc biệt tả chân
bằng gỗ, thường được tô họa và trang trí với cặp
mắt bằng thủy tinh. Ngoài các vị Phật và Bồ Tát,
người ta cũng bắt đầu tạo tượng của các vị Cao
tăng. Thêm vào đó, tuy không nhiều, một số tượng
Phật vĩ đại được đúc tạo, ví dụ như tượng Đại
Phật cao 11m tại
viện Cao Đức
(高徳院, ja. kōtokuin,
1252).
Trong các bức tranh, khuynh hướng hiện thực được
nhấn mạnh quá mức và nhiều bức tranh giờ đây xem
lại lại giống như biếm hoạ.
Kể từ thế kỉ 12 và 13,
một dạng Phật giáo rất đặc thù phát triển song
song với các trường phái Tịnh độ tại Nhật, đó là
Thiền tông.
Thiền sư
Minh Am Vinh Tây
(明菴栄西, ja. myōan
eisai) đă học Thiền
tại Trung Quốc và sau đó khai sáng
Lâm Tế tông
tại Nhật.
Đạo Nguyên Hi Huyền
(道元希玄, ja. dōgen
kigen) - một thời
cũng là đệ tử của Vinh Tây - trở thành tổ khai
sáng
Tào Động tông
sau đó. Nghệ thuật Thiền phát triển một loạt
phong cách, h́nh thức rất đặc biệt, chẳng hạn
như:
Thư đạo
(書道, ja. shodō),
Nghệ thuật vườn Nhật (Nhật Bản đ́nh viên 日本庭園),
tranh mực tàu (mặc hội 墨絵, ja.
sumi-e)
hoặc thơ Bài cú (俳句, ja.
haiku).
Đặc điểm chung của tất cả các nghệ thuật trên là
sự cố gắng thể hiện "bản chất" của các hiện
tượng trên thế gian theo chủ nghĩa ấn tượng,
không màu mè và nguyên lí bất nhị. Quá tŕnh "tạo"
một sản phẩm nghệ thuật ở đây không chỉ là một
hành động sáng tạo đơn thuần, mà hơn nữa, được
xem như một tiến tŕnh tu tập, là biểu thị của
tâm thức nỗ lực tiến đến giác ngộ "lập tức".
Chính từ cơ sở này mà xuất phát nhiều nhánh nghệ
thuật khác như Nghệ thuật cắm hoa (生け花,
ikebana),
Trà đạo
(茶道, ja. sadō)
hoặc nghệ thuật bắn cung,
Cung đạo
(弓道, ja. kyūdō).
Cuối cùng th́, theo quan điểm nhà Thiền, mỗi
hành động đều có thể được xem là một nghệ thuật
hàm dung ư nghĩa thẩm mĩ và ư nghĩa tâm linh.
Ngày nay, tính về mặt dân số
th́ Nhật Bản là một trong những quốc gia Phật
giáo lớn nhất. Người ta liệt kê được ở Nhật
khoảng 80.000 ngôi chùa, trong đó có nhiều tự
viện rất cổ, được kiến tạo bằng gỗ và được trùng
tu đều đặn.
Tượng Kim
Cương Tát-đoá (sa.
vajrasattva)
mạ vàng, Tây Tạng
Dạ-ma (Tây
Tạng, tk. 17-18)
Phật giáo
Kim cương thừa
- thường được các nhà Phật học châu Âu cho là
một dạng Phật giáo "bí mật", dùng "huyền thuật"
- là sự phối hợp giữa truyền thống
Bà-la-môn/Ấn
Độ giáo (dùng
Chân ngôn,
các phép
Du-già,
tế lễ), cũng được gọi là
Đát-đặc-la giáo
(sa. tantrayāna),
và giáo lí truyền thống của đức Phật. Trong thế
kỉ thứ 8-9, Kim cương thừa được Đại sư
Liên Hoa Sinh
(sa. padmasambhava),
vốn xuất thân từ khu vực Càn-đà-la, truyền sang
Tây Tạng.
Ban đầu, nghệ thuật Phật giáo Kim vương thừa Tây
Tạng chịu ảnh hưởng của nghệ thuật
Phật giáo Hy Lạp
cũng như ảnh hưởng của
Bengal
và Trung Quốc[cần dẫn nguồn].
Một trong những phát
triển nghệ thuật quan trọng nhất của Phật giáo
Tây Tạng là các
Mạn-đà-la
(sa. maṇḍala).
Mạn-đà-la là việc miêu tả một cách rất chính xác
và rơ ràng các "cung điện của thiên giới" với
trung tâm là một h́nh vuông được bao bọc bằng
một h́nh tṛn tŕnh bày một vị Phật hoặc Bồ Tát.
Khu vực vây quanh - thường là một h́nh tṛn -
được một số h́nh tượng chiếm giữ tùy theo mô típ
(các vị Phật, Bồ Tát, chư thiên, Hộ Pháp, La-sát...
hoặc Cao tăng) hoặc các biểu tượng khác (khí cụ
được dùng trong lúc thực hiện nghi lễ, ṭa kiến
trúc, các mẫu h́nh trừu tượng). Phong cách của
các Mạn-đà-la thường được bắt chước nghệ thuật
Ấn Độ thời Cấp-đa và nghệ thuật Ấn Độ giáo.
Mạn-đà-la xưa nay được dùng làm đối tượng thiền
quán, giúp thiền giả tập trung vào mô típ nhất
định và qua đó, tập trung vào nội dung giáo lí
gắn liền với nó.
Tăng sĩ Tây
Tạng đang tạo một Mạn-đà-la bằng cát
Song song với các Mạn-đà-la
dưới dạng h́nh cuốn (xem thêm Thăng-ca) và tranh
treo tường, một dạng đặc biệt khác cũng được
phát triển, đó là Mạn-đà-la cát. Một Mạn-đà-la
cát được nhiều tăng sĩ cùng nhau tạo trong phạm
vi của một nghi lễ lớn nhất định nào đó. Thông
thường, họ cần nhiều ngày liên tục để tạo
Mạn-đà-la và sau khi hoàn tất th́ nó bị phá hủy
ngay - cát được gom lại và rắc xuống sông hay
được chia nhỏ ra cho các Phật tử chiêm bái.
Mạn-đà-la cũng được dùng như
một sơ đồ mặt bằng cho các cấu trúc trong một tự
viện. Các cổng vào, chỗ ở, chỗ thắp hương niệm
Phật và chính điện được sắp xếp như trong một
Mạn-đà-la và người ta quả thực đă tạo nhiều sản
phẩm nghệ thuật, đền thờ, tự viện không gian ba
chiều theo những Mạn-đà-la mặt phẳng hai chiều.
H́nh tượng tại Tây Tạng
thường được tạo bằng gỗ hoặc kim loại, ít khi
bằng đá. Sau thế kỉ 16, ảnh hưởng nghệ thuật
Phật giáo Trung Quốc tăng dần.
[sửa]
Việt
Nam
Tượng Phật tại
chùa Long Sơn, Nha Trang, thế kỉ 20
Tuy nằm trong khu vực
Đông Nam Á cũng như thuộc về những nước Phật
giáo Nam truyền về mặt địa lí, nhưng
Việt Nam
được xếp vào những nước theo Phật giáo
Đại thừa,
nghĩa là Phật giáo Bắc truyền. Từ thế kỉ thứ
nhất đến thế kỉ thứ 9, Bắc Việt trực thuộc
Trung Quốc
và đă thừa kế truyền thống
Nho giáo
và
Phật giáo
Đại thừa từ xứ này - và cùng với Phật giáo, nghệ
thuật Phật giáo cũng được truyền bá tại Việt
Nam.
Tại miền Nam Việt Nam
hiện nay - thời xưa một phần thuộc về vương quốc
Phù Nam,
một phần thuộc về vương quốc
Champa
- chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ du nhập trực tiếp
bằng đường biển. V́ vậy, Phật giáo Đại thừa đă
được biết đến rất sớm[cần dẫn nguồn],
nhưng tôn giáo chính ở đây vẫn là
Ấn Độ giáo.
Phong cách nghệ thuật "Ấn
Độ hóa" tại miền Nam - vốn có nhiều điểm giống
với nghệ thuật
Khmer
thời ḱ Angkor. Cả hai đều chịu ảnh hưởng của
nghệ thuật Java (Indonesia) - tồn tại đến thế kỉ
15, khi Champa bị Việt Nam xâm chiếm (1471), và
cuối cùng, bị tiêu diệt hoàn toàn vào khoảng
1720. Nhiều di tích nghệ thuật của vương quốc
Champa c̣n tồn tại, ví dụ như một số đền thờ (tháp
Chàm) và h́nh tượng bằng đá cát. Ngoài ra, gỗ
cũng sớm được dùng cho những tác phẩm nghệ thuật.
Di tích cổ nhất là một bức tượng Phật bằng gỗ,
được tạc trong thế kỉ thứ 6 và hiện đang được
lưu giữ trong viện Bảo tàng Lịch sử tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
Đời
nhà Mạc
(1527-1592) và
nhà Hậu Lê
(1533-1788) được xem là thời ḱ vàng son của
nghệ thuật Phật giáo. Tượng
Quán Thế Âm
ngh́n tay ngh́n mắt tại chùa Bút Tháp được nghệ
nhân Trương Thọ Nam đúc vào năm 1656 là một
trong những tác phẩm nghệ thuật Phật giáo quan
trọng nhất của Việt Nam. Tuy có khác chút ít về
chi tiết, nhưng tượng Quán Thế Âm tại chùa Bút
Tháp có thể được xem là được đúc theo một mô
h́nh Ấn Độ. Đây là bức tượng được triều đ́nh
cung tiến cho chùa, nên có sự đầu tư lớn và là
bức tượng duy nhất trong hệ thống tượng cổ Việt
Nam có ghi niên đại năm tạc, danh tính người tạc.
Trên tượng có ghi: "Tuế thứ Bính Thân niên, thu
nguyệt, cốc nhật doanh tạo. Nam Đông Giao Thọ
nam tiên sinh phụng khắc". Tượng phối hợp cả hai
dạng xuất hiện của Quán Thế Âm, đó là Quán Thế
Âm
Thập nhất diện đại bi thế
tự tại (zh.
十一面大悲世自在, sa.
ekādaśamahākāruṇika-lokeśvara)
với 8 tay và
Thiên thủ thiên nhăn thế
tự tại (zh.
千手千眼世自在, sa.
sahasrabhuja-lokeśvara)
với gần 1000 cánh tay, đồng thời, trong ḷng mỗi
bàn tay đều có chạm một con mắt, làm cho bức
tượng mang ư nghĩa kép. Những cánh tay ở đây vừa
là ánh hào quang độ lượng của Phật, vừa tượng
trưng cho những bàn tay dang ra cứu vớt đời, vừa
là những con mắt thấu suốt coi sóc đến chúng
sinh. (Riêng tượng Quan Âm ở
chùa Mễ Sở,
Hưng Yên
th́ có hơn 1000 cánh tay và mắt). Truyền thuyết
kể lại rằng, khi nh́n nỗi khổ của chúng sinh
trong
địa ngục,
ngài kinh hoảng đến mức đầu vỡ tung thành 10
mảnh.
A-di-đà,
vị Phật đỡ đầu của ngài, biến mỗi mảnh đầu vỡ đó
thành một đầu (hoặc gương mặt) nguyên vẹn. 9
gương mặt hiền hậu, gương mặt thứ 10 là hung tợn
v́ người ta cho rằng, với một gương mặt hung tợn
Bồ Tát dễ xua đuổi các loại tà ma. Gương mặt thứ
11 (hoặc nguyên h́nh tượng) là Phật A-di-đà.
Trong tượng "ngh́n tay ngh́n mắt" (một con số lí
tưởng không thể thực hiện được) th́ mỗi tay của
Quán Thế Âm cầm một con mắt, tượng trưng cho
ḷng đại bi của ngài, vốn không loại chúng sinh
nào ra; cho biết là ḷng quan tâm của ngài đi
đến mọi nơi và ngài có đủ phương tiện để cứu độ
tất cả chúng sinh đúng theo lời nguyện của một
vị
Bồ Tát.
(Xem chi tiết
bài
Tượng Quan Âm chùa Bút
Tháp).
Nhà điêu khắc Lê Đ́nh
Quỳ viết như sau về pho tượng này
[1]:
- Tác giả Trương Thọ Nam
đă tiếp thu và nâng nghệ thuật của pho tượng
này lên đỉnh cao bởi giao lưu với nền nghệ
thuật điêu khắc Ấn Độ, và điêu khắc Chăm,
nhất là những cánh tay của Phật như những
cánh tay vũ nữ thanh khiết của người Chăm.
Trang phục của Quan Âm được tác giả chuyển
sang h́nh khối, bố cục đường nét rất lăng
mạn theo phong cách Việt Nam mà ông đă tiếp
thu được từ nền nghệ thuật Lư-Trần qua cách
miêu tả sen. Sen thời Lư được chạm rồng trên
các cánh hoa, sen thời Lê được chạm khắc
theo những nét lửa Lê - ngọn lửa của truyền
thống chống ngoại xâm.
- Châu Á là nơi đạo Phật
khởi nguồn nên chủ đề "Quan Âm ngh́n mắt
ngh́n tay" được tạc ở nhiều nước, nhưng tác
phẩm do nhà điêu khắc thiên tài Trương Thọ
Nam sáng tác có nội dung hoàn chỉnh bậc nhất
về thế giới quan và nhân sinh quan theo quan
điểm Phật giáo truyền thống, có h́nh thức
nghệ thuật đạt được sự hoàn mỹ tuyệt vời.
Pho tượng này đă đạt giải đặc biệt khi tham
gia triển lăm nghệ thuật Phật giáo Quốc tế
tại Ấn Độ năm 1958.
[sửa]
Phật giáo Nam truyền
Phật giáo được truyền
sang
Tích Lan
vào thế kỉ thứ 3 TCN, và trong thiên niên kỉ đầu
đă được truyền từ
Ấn Độ
đến các nước Đông Nam Á khác dọc theo đường biển
từ Ấn Độ đến Trung Quốc. Đại thừa - ban đầu là
tông phái chủ yếu ở đó - cũng như
Thượng toạ bộ
và Ấn Độ giáo đều có tín đồ ở
Pagan
(Miến
Điện),
Thái Lan
hiện nay,
Campuchia
trước đây (Vương quốc
Phù Nam),
Việt Nam
(Champa)
và Indonesia. Trong khi
Hồi giáo
chiếm chỗ Phật giáo tại Indonesia và bán đảo Mă
Lai th́ khoảng giữa thiên niên kỉ thứ hai,
Thượng toạ bộ
có gốc từ Tích Lan trở thành tông phái chính tại
Đông Nam Á. Cùng với những hệ thống tôn giáo Ấn
Độ, ngôn ngữ và chữ viết (tiếng
Phạn,
tiếng Pali,
chữ
Thiên thành,...)
cũng như các sắc thái nghệ thuật của tiểu lục
địa Ấn Độ đă được phổ biến tại Đông Nam Á. Mối
quan hệ trực tiếp với các thương gia và học giả
từ các khu vực Ấn Độ sau hơn 1.000 năm đă gây
ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển văn hóa
tại Đông Nam Á, nhưng mặt khác, các nền văn hóa
tại đây cũng đă phát triển những phong cách,
những truyền thống rất đặc thù để lưu lại đời
sau.
Thế kỉ 1 đến thế kỉ 8:
Trong thời gian này, các vương quốc lớn đầu tiên
xuất hiện tại Đông Nam Á. Vương quốc Phù Nam
được thành lập trên khu vực miền Nam Việt Nam và
miền Đông Nam Campuchia. Về hướng Tây, khu vực
Miến Điện bây giờ và vùng đất phía sau là
vương quốc Môn.
Các vương quốc này chịu ảnh hưởng của vương
triều Cấp-đa. Ngoài những đồ tượng được t́m thấy
(tượng Phật, bài vị thờ cúng) và những bia văn
được viết bằng tiếng Phạn, người ta c̣n t́m thấy
nhiều tranh tượng của các
thần thể
Ấn Độ giáo trong khu vực này.
Thế kỉ 9 đến thế kỉ 13:
Vào khoảng thế kỉ thứ 9, trên các đảo miền Tây
của Indonesia hiện nay xuất hiện hai vương quốc
Sri Vijaya
và
Sailendra.
Hai vương triều này đă sản sinh nhiều tác phẩm
nghệ thuật và kiến trúc Phật giáo (xem
Borobudur).
Ở miền Bắc, vùng đại lục, th́ vương quốc Khmer
tại
Angkor
trở thành một vương quốc hùng mạnh, đứng ngang
hàng với vương quốc Champa nằm phía Đông. Vương
quốc Angkor và Champa ban đầu mang đậm sắc thái
Ấn Độ giáo,
nhưng lại có tính dung ḥa, t́m cách kết hợp
những thành phần Ấn giáo, Phật giáo và các
truyền thống bản xứ. Cả hai đều phát triển những
phong cách nghệ thuật giống nhau, có thể được
kiểm nhận qua những công tŕnh kiến trúc c̣n tồn
tại. Vào cuối thời ḱ này, tất cả những vương
quốc nêu trên đều chuyển sang Đại thừa Phật
giáo, nhưng cuối cùng, kể từ thế kỉ 13 th́
Thượng toạ bộ lại trở thành tông phái chủ yếu.
Ngay những vương quốc mới phát sinh của dân tộc
Thái là (Sukhothai
và sau đó là
Ayutthaya)
phía Tây Angkor cũng lấy Thượng toạ bộ làm tông
chỉ.
Từ thế kỉ 14:
Trong khi
Hồi giáo
chiếm chỗ Phật giáo và Ấn Độ giáo gần như toàn
vẹn ở những miền phía Nam của
Malaysia,
ở
Indonesia
và
Philippines
th́ Phật giáo Thượng toạ bộ trên châu lục vẫn là
tôn giáo chủ yếu, ngày càng được phát triển và
phổ biến (Campuchia,
Lào,
Thái Lan,
Miến Điện).
[sửa]
Tích
Lan
Dagoba
tại Colombo, Tích Lan
Bên trong
"Chùa Răng Phật" (Dalada
Maligava)
tại Kandy, Tích Lan
Khi ảnh hưởng Phật giáo
tại Ấn Độ giảm dần, vào khoảng cuối vương triều
Cấp-đa, th́ Thượng toạ bộ đă đạt vị trí vững
chắc tại
Tích Lan
từ nhiều thế kỉ và cũng đă ảnh hưởng lớn đến nền
văn hóa và nghệ thuật xứ này. Nơi đây,
Xá-lợi
đóng một vai tṛ đặc biệt trong truyền thống tín
ngưỡng, ví dụ như một chiếc răng của Phật được
bảo tồn trong tại Dalada Maligava, "Chùa Răng
Phật", hoặc
cây Bồ-đề
trong một tự viện ở cố đô
Anuradhapura,
được xem là phát sinh từ một nhánh của cây bồ-đề
mẹ tại
Bồ-đề đạo trường
(bodhgayā),
nơi Phật Thích-ca thành đạo. Một thành phần mới
xuất hiện trong lĩnh vực kiến trúc Phật giáo
Tích Lan:
Bodhighara, "đền
thờ cây bồ-đề" và
Āsanaghara, "đền
thờ chỗ ngồi của Phật". Thay v́ tôn xưng cây
bồ-đề một cách trừu tượng như tại Ấn Độ th́ giờ
đây, một cây bồ-đề sống được tôn thờ ngay giữa
Bodhi-Ghara.
Một trong những phát
triển quan trọng nhất của nghệ thuật tôn giáo Ấn
Độ là việc tiếp tục phát triển kiến trúc
tháp-bà.
Nguyên có dạng ṿm cung bán nguyệt, giờ đây các
bảo tháp được kéo dài lên trên, có h́nh chuông
và được gọi là
Dāgäba
(thường được phát âm như
Dagoba;
nguyên là từ gốc Tích Lan, xuất phát bởi hai từ
tiếng Phạn
là dhātu,
garbha).
Các nghệ nhân không chạm trổ bên ngoài và trang
trí các cổng đi vào như người Ấn, qua đó họ đề
cao cao vẻ đẹp tổng thể giản dị của bảo tháp.
Cùng với
Thượng toạ bộ,
kiến trúc bảo tháp của Tích Lan được phổ biến
khắp Đông Nam Á và được xem là mô h́nh kiến trúc
cho các
Chedi
tại Thái Lan và
That
tại
Lào.
Người ta có thể t́m
thấy những nét điêu khắc rất tinh tế trên những
"nguyệt thạch", là các viên đá mỏng h́nh bán
nguyệt được xếp đặt theo h́nh ṿng cung trước
ngưỡng cửa ra vào của các tự viện. Chúng cho
thấy nhiều mô típ được chạm trổ rất đẹp và công
phu như hoa, thực vật (sen,
chùm
nho,
hoa, lá...) và thú vật (ḅ,
voi,
sư tử,
ngan...).
Ư nghĩa của chúng là cho người bước lên cảm nhận
được sự biến chuyển trọng đại khi họ bước qua
ngưỡng cửa vào chùa, đi vào một cơi nội tâm
thanh tịnh sau khi gác qua thế giới hiện hữu với
tất cả những ǵ hệ thuộc.
Tượng Phật tại Tích Lan
chịu ảnh hưởng của nghệ thuật
A-ma-la-bà-đề
và
Cấp-đa;
Phật thường được tŕnh bày dưới dạng ngồi thiền
(thế ngồi
Kết già phu toạ,
hai tai xếp lại dưới rốn), nhưng cũng có lúc
ngài nằm bên phải, miêu tả thời điểm ngài nhập
Niết-bàn
[sửa]
Miến Điện
Là láng giềng của Ấn Độ
nên các khu vực của
Miến Điện
hiện nay đă sớm chịu ảnh hưởng của xứ này. Theo
truyền thuyết th́
người Môn,
vốn cư trú từ khu vực biển Andaman phía Nam cho
đến miền Bắc lấn tới vùng núi thuộc Thái Lan
hiện nay, đă tiếp xúc với Phật giáo trong thế kỉ
thứ 3 TCN qua sứ giả truyền giáo của vua
A-dục.
Các ngôi chùa cổ nhất ở đây được kiến lập từ thế
kỉ 1-5. Nghệ thuật Phật giáo của người Môn chịu
ảnh hưởng của phong cách Cấp-đa và những thời
đại kế thừa. Cùng với việc di cư khắp vùng Đông
Nam Á của người Môn th́ phong cách nghệ thuật
Môn cũng đă ảnh hưởng trực tiếp đến truyền thống
của những nơi họ đến. Có hàng ngh́n bảo tháp và
tự viện đă được kiến tạo tại vương quốc
Pagan
từ thế kỉ 11 đến 13 và trong đó, trên 2000 di
tích vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay. Các viện bảo
tàng tại
Yangoon
và
Mandalay
vẫn c̣n bảo tồn nhiều bức tượng được trang trí
và mạ vàng rất tinh vi được kiến tạo trong thời
ḱ này hoặc thậm chí trễ hơn nữa, sau khi Pagan
bị quân
Mông Cổ
xâm chiếm (1287).
[sửa]
Indonesia
Từ thế kỉ 1, các nền
văn minh
Indonesia
đă chịu ảnh hưởng của văn hóa
Phật giáo Ấn Độ
(đặc biệt là hai đảo lớn
Java
và
Bali)
và chúng sau này cũng ảnh hưởng đến nghệ thuật
tạo h́nh của Đông Nam Á đại lục (kiến trúc, điêu
khắc)[cần dẫn nguồn].
Trong khi các vương
quốc tại Đông Nam Á lục địa như như Phù Nam và
Angkor theo
Ấn Độ giáo
th́ tại Indonesia, trung tâm Bali, vương quốc
Phật giáo
Sri Vijaya
(~tk. 8 đến tk. 13) được h́nh thành. Vương quốc
biển với khu vực cai trị lan rộng đến bán đảo Mă
Lai này đă tiếp thụ truyền thống
Đại thừa
và
Kim cương thừa
dưới triều đại
Sailendra.
Những di tích quan trọng nhất của nghệ thuật
Phật giáo Indonesia là hệ thống tự viện Phật
giáo lớn nhất thế giới, được kiến lập trên một
ḥn núi tại Borobudur, và một bức tượng tŕnh
bày Bồ Tát
Bát-nhă-ba-la-mật-đa
rất đặc sắc.
[sửa]
Campuchia
Gương mặt của
Quán Thế Âm Bồ Tát được tạc trên các
tháp tại đền
Bayon tại
Angkor, thế kỷ 12
Vào khoảng thế kỉ 1,
một trong những vương quốc tồn tại sớm nhất tại
Đông Nam Á đă ra đời trên khu vực Nam Việt Nam
hiện nay và
Campuchia,
đó là Phù Nam. Vào thời hưng thịnh, biên giới
phía Tây vương quốc này là Miến Điện và phía Nam
là Mă Lai. Phù Nam là vương quốc sống bằng
thương mại và nằm trên tuyến đường biển giữa Ấn
Độ và Trung Quốc. Ấn Độ đặc biệt đă gây ảnh
hưởng lớn: chữ viết, tôn giáo và nghệ thuật được
tiếp nhận và cùng với sự ḥa hợp với truyền
thống bản xứ, nhiều phong cách biểu đạt đă phát
sinh. Khác với trường hợp Phật giáo Bắc truyền,
tư tưởng và nghệ thuật Phật giáo du nhập Đông
Nam Á trực tiếp từ Ấn Độ bằng đường biển. Mặc dù
Ấn Độ giáo là tôn giáo chủ yếu trong một thời
gian dài, nhưng Phật giáo Đại thừa từ ban đầu
cũng đă có nhiều tín đồ.
Đền
Bayon tại
Angkor, thế kỷ 12
Trong thế kỉ thứ 9,
vương quốc Khmer xuất hiện trên khu vực Angkor,
thừa kế vương quốc Phù Nam. Nơi đây, thần
Thấp-bà
(sa. śiva)
và
T́-thấp-nô
(sa. viṣṇu,
là vị thần chính được tôn xưng tại di tích nghệ
thuật
Angkor Wat)
là hai vị được tôn thờ nhiều nhất. Từ thế kỉ 12
trở đi, Phật giáo hưng thịnh dưới sự cai trị của
vua Jayavarman VII. Nhiều công tŕnh kiến trúc
được thực hiện như đền
Bayon
với nhiều rất nhiều tháp nhỏ hệ thuộc và mỗi
tháp đều được chạm khắc khuôn mặt Bồ Tát
Quán Thế Âm
(sa. avalokiteśvara)
với chiều cao vài thước (ở đây được gọi là
Lokeśvara,
là Thế tự tại chủ, "đấng tự tại trên thế gian"),
hoặc Đại học Phật giáo
Ta Prohm
được phụng hiến cho Bồ Tát
Bát-nhă-ba-la-mật-đa.
Nghệ thuật Khmer được phổ biến qua sự bành
trướng của vương quốc Khmer trên các khu vực
Đông Nam Á, trở thành phong cách tiêu chuẩn cho
nghệ thuật Phật giáo Thái Lan, Lào và Champa (Việt
Nam). Đặc điểm của tranh tượng Phật giáo tại
Angkor là gương mặt thoát li thế gian của các vị
Phật, các vị Bồ Tát cũng như tính rơ ràng của
các nét thẳng không được trang trí như có thể
thấy được tại Trung Quốc. Trong lúc giao thời
của thế kỉ 13 và 14 th́ Śrīndravarman lên trị v́,
và ông cũng là quốc vương Khmer đầu tiên theo
Phật giáo Nam tông là Thượng toạ bộ. Đồng thời,
vương quốc Angkor cũng dần dần mất vai tṛ chủ
yếu trên khu vực này, cũng một phần v́ các vương
quốc Thái phương Tây ngày càng lớn mạnh. Sự biến
đổi này cũng để lại dấu tích trong nghệ thuật.
Các công tŕnh tự viện lớn đều bị đ́nh chỉ và
h́nh tượng Bồ Tát Quán Thế Âm được ưa chuộng
trước đây giờ bị rơi vào lăng quên. Tượng Phật
c̣n được tạo, nhưng chỉ được đúc bằng
đồng
hoặc
vàng,
không c̣n được tạc bằng đá. Về mặt phong cách
th́ các tượng Phật này giống các tượng tại Lào
và Thái vốn có truyền thống theo Thượng toạ bộ:
tượng thon, thanh nhă với những nét rơ ràng mạch
lạc. Phong cách nghệ thuật này được xem là dấu
ấn của nghệ thuật tôn giáo Campuchia cho đến
ngày nay.
[sửa]
Thái Lan và Lào
Tháp Vàng,
Bangkok, Thái Lan
Trong những vương quốc
cổ trên địa phận
Thái Lan
hiện nay, đặc biệt là các
vương quốc được dân tộc Môn sáng lập, đă có sự
giao lưu văn hóa với Ấn Độ trên cơ sở thương
mại. Tương tự trường hợp Miến Điện, nghệ thuật
nơi đây chịu ảnh hưởng của thời đại Cấp-đa tại
Ấn Độ[cần dẫn nguồn].
Một số h́nh tượng và kiến trúc đặc sắc được kiến
tạo, ví dụ như bảo tháp (Chedi)
của
Nakhon Pathom,
cao 127m, được xem là kiến trúc Phật giáo cao
nhất thế giới.
Từ thế kỉ thứ 9 trở đi
th́ các truyền thống nghệ thuật Thái chịu ảnh
hưởng của các vương quốc láng giềng như Angkor
miền Đông và
Sri Vijaya
ở miền Nam. Trong thời gian này, Phật giáo Đại
thừa là giáo lí chính, được thể hiện qua nhiều
h́nh tượng của các vị Bồ Tát khác nhau.
Đầu thế kỉ 13,
Thượng toạ bộ
gốc Tích Lan lại được phổ
biến và dần dần nắm ưu thế, tương tự như ở một
số quốc gia khác thuộc khu vực Đông Nam Á. Đồng
thời, vương quốc
Sukhothai
được kiến lập. Về mặt nghệ thuật th́ người ta
thấy được một sự chuyển biến từ phong cách giống
nghệ thuật Khmer đến một phong cách biểu đạt rơ
ràng, ít rườm rà, thậm chí có tính chất h́nh học
trừu tượng. Các tượng Phật được biểu hiện với
những sắc thái thanh nhă, trôi chảy, với pháp y
trông như trong suốt và đầu h́nh oval với đỉnh
đầu là một ngọn lửa (sa.
ketumālā).
Trong triều đại kế đến là
Ayutthaya
(tk. 14-18) th́ mô típ này càng được trau chuốt
tinh tế hơn, nhiều h́nh tượng thường được mạ
vàng và được chạm gắn với đá quư. Thời ḱ này
được xem là thời ḱ kiến lập phong cách và gây
ảnh hưởng đến ngày nay. Một điểm đặc biệt của
nghệ thuật Phật giáo Thái Lan là miêu tả Phật
đang đi trong tranh tượng.
Sự xuất hiện và phát
triển của nghệ thuật Phật giáo tại
Lào
có mối tương quan mật
thiết với các vương quốc Thái láng giềng. Vật
liệu được dùng cho các công tŕnh kiến trúc và
điêu khắc là gỗ, thường được sơn và vẽ. Đến thế
kỉ thứ 15 th́ các tác phẩm nghệ thuật ở đây rất
giống các tác phẩm của Sukhothai. Nhưng kể từ
thế kỉ 16 trở đi th́ một phong cách đặc thù được
xác lập: tượng Phật ngày càng thon dần với tay
chân rất dài[cần dẫn nguồn].
[sửa]
Nghệ thuật Phật giáo đương đại
Nh́n chung việc sáng
tạo chân dung, tranh, đồ tế lễ hoặc công tŕnh
kiến trúc ở các nước châu Á, nơi phần lớn có hơn
ngàn năm văn hóa phật giáo, thường mang đậm dấu
ấn truyền thống. Những đặc điểm chân dung của
Đức Phật như tư thế cơ thể và các
thủ ấn
(sa. mudrā),
một số chi tiết nhỏ như đôi tai và kiểu tóc cũng
như các biểu tượng (bồ-đề
thụ,
liên hoa,
pháp luân…)
đều mang ư nghĩa tôn giáo thiêng liêng và h́nh
thức biểu đạt không thay đổi. Các tác phẩm tranh
tượng mới đều tuân theo những khuôn mẫu truyền
thống, trong đó những yếu tố mang tính tượng
trưng vốn đă có sẵn đóng vai tṛ chủ đạo chứ
không phải là sự biểu đạt nghệ thuật mang dấu ấn
cá nhân của người nghệ sĩ.
Bên cạnh nền nghệ thuật
truyền thống này, nhiều phương thức biểu đạt
hiện đại cũng đă phát sinh thông qua sự tiếp xúc
với nền văn hóa Tây phương. Đặc biệt ở các nước
như Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc hay Indonesia
(Bali), nơi có sự giao lưu mạnh mẽ với các nền
văn hóa Tây phương, các nghệ nhân lấy những mô
típ có gốc từ hệ thống đồ giải Phật giáo, kết
hợp nó một phần với các phương thức biểu đạt
nghệ thuật Tây phương, một phần với sự phát
triển kế thừa của phong cách nghệ thuật của địa
phương. Qua đó, h́nh thái nghệ thuật này đă tạo
nên được những tác phẩm nghệ thuật Phật giáo mới
mẻ và hiện đại. Tuy nhiên, những tác phẩm mới
này gần như luôn luôn chỉ là "nghệ thuật thuần
túy", dĩ nhiên có nền tảng tôn giáo nhưng thường
là để "trang trí" chứ không phải được tạo ra để
phục vụ thực hành tín ngưỡng. Trong các tác phẩm
nghệ thuật này, ở cả mảng điêu khắc lẫn hội họa,
chân dung của Đức Phật, các biểu trưng Phật giáo
hoặc các bức tượng được vẽ lại nhưng khuynh
hướng sáng tác vị nghệ thuật cao hơn mục đích
tôn giáo[cần dẫn nguồn].
Phật giáo từ thế kỷ thứ
12 đă biến mất khỏi Ấn Độ, ngoại trừ một số khu
vực trong
dăy Himalaya.
Măi cho đến khi chính quyền thực dân
Anh
quan tâm đến các ngôi chùa
phần lớn đă đổ nát hoang tàn này, người ta đă
phát hiện và bắt đầu công việc trùng tu các chùa
(tại
Kiến-chí
(kāñcī),
A-chiên-đà
(ajantā),
chùa
Đại Bồ-đề
tại
Bồ-đề đạo trường
(bodhgayā)).
Giữa thế kỷ 20 những người ủng hộ nhà cải cách
Bhimrao Ramji Ambedkar (Bộ trưởng Tư pháp đầu
tiên của đất nước Ấn Độ độc lập - người đă tuyên
truyền rằng việc cải đạo sang Phật giáo là con
đường giải thoát cho tầng lớp khốn cùng -
Dalit
- hay c̣n gọi là những người không được xếp vào
tầng lớp nào trong xă hội) đă làm hồi sinh lại
truyền thống đă và đang tiếp tục bị lăng quên.
Cùng với phong trào này là sự bắt đầu các phương
thức nhân bản và ghi lại các chân dung cổ của
Đức Phật phục vụ cho mục đích thực hành tín
ngưỡng. Tương tự, tại một số nước Phật giáo
khác, đặc biệt là
Nhật,
Tây Tạng,
Tích Lan
(śrīlaṅkā)
và
Thái Lan,
các phật tử dùng tranh tượng cúng dường để trang
trí các chùa chiền mới được dựng theo mô h́nh
kiến trúc cũ. Bên cạnh đó, ngay chính ở Ấn Độ
việc vẽ các chân dung Phật cũng được bắt đầu
khôi phục trở lại[cần dẫn nguồn].
V́ nền văn hóa Phật giáo mới của Ấn Độ c̣n tương
đối non trẻ nên chưa có chuẩn tắc đồ giải (Ikonographie)
đậm nét nào h́nh thành. Do đó, phong cách và các
đặc trưng truyền thống được pha lẫn với phương
thức biểu đạt đầy màu sắc của nghệ thuật thường
nhật của
Ấn Độ giáo
tại đất nước này./.
Nguồn tin lấy từ trang
Wikipedia