|
![]() THÔNG CÁO ĐẶC BIỆT
V/v tổ chức Lễ tang Trưởng
lăo Ḥa thượng Thích Thanh
Tứ Kính gửi: Ban Thường trực Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo Trưởng lăo Ḥa thượng Thích Thanh Tứ - Thành viên Hội đồng Chứng minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Đại biểu Quốc hội nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, XII; Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Tôn giáo thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội người Cao tuổi Việt Nam; Uỷ viên Ban chấp hành Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản; Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Hà Nam, Chứng minh Đạo sư Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ninh, Thái Nguyên; Chủ tịch Ban chấp hành họ Trần Việt Nam; Viện chủ - trụ tŕ Tùng Lâm chùa Quán Sứ, chùa Châu Long, chùa Thọ Cầu thành phố Hà Nội; chùa Bái Đính, tỉnh Ninh B́nh; chùa Nho Lâm và chùa B́nh Kiều tỉnh Hưng Yên.. Trưởng
lăo Ḥa thượng đă được Đảng
và Nhà nước trao tặng: Huân
chương Hồ Chí Minh; Huân
chương Kháng chiến hạng Nhất,
hạng Nh́; Huân chương Độc
lập hạng hai; Huân chương
Đại đoàn kết dân tộc; Kỷ
niệm chương chiến sỹ Cách
mạng bị địch bắt và tù đầy
tại Hỏa Ḷ của Thủ Tướng
Chính Phủ; nhiều kỷ niệm
chương, huy chương của các
bộ ngành; Bằng tuyên dương
Công đức của GHPGVN và nhiều
phần thưởng cao quư khác.
TM. BAN THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG
TRỊ SỰ goài nước
đă tận t́nh chăm sóc cứu
chữa, nhưng v́ tuổi cao sức
yếu, Trưởng lăo Ḥa thượng
đă thu thần thị tịch vào lúc
08h15’ ngày 26 tháng 11 năm
2011 (nhằm ngày 02 tháng 11
năm Tân Măo). GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM TỔNG THƯ KƯ (đă kư) Ḥa thượng THÍCH THIỆN NHƠN CÁO PHÓ - Hội
đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự
Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
CHƯƠNG TR̀NH
LỄ TANG TRƯỞNG LĂO HOÀ THƯỢNG THÍCH
THANH TỨ
Tiểu
sử Trưởng lăo HT. Thích Thanh Tứ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TIỂU SỬ TRƯỞNG LĂO H̉A THƯỢNG THÍCH THANH TỨ Ḥa thượng Thích Thanh Tứ, thế danh Trần Văn Long, sinh năm 1927 tại thôn Miêu Nha, xă Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đ́nh nông dân nghèo. Ngài là con thứ ba của cụ ông Trần Văn Đáo và cụ bà Nguyễn Thị Trỏ, trên Ngài c̣n có 2 người anh trai.
Thành viên Hội đồng Chứng minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Đại biểu Quốc hội nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, XII; Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Tôn giáo; Viện Trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Người Cao tuổi Việt Nam; Uỷ viên Ban chấp hành Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam; Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản; Trưởng Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Hà Nam; Chứng minh Đạo sư Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Ninh, Tỉnh hội Phật giáo Thái Nguyên; Chủ tịch Ban chấp hành họ Trần Việt Nam; Viện Chủ Tùng Lâm chùa Quán Sứ, chùa Châu Long, chùa Thọ Cầu thành phố Hà Nội, Tổ đ́nh chùa Bái Đính tỉnh Ninh B́nh, Tổ đ́nh chùa Nho Lâm, chùa B́nh Kiều tỉnh Hưng Yên. I. XUẤT THÂN: Ḥa thượng Thích Thanh Tứ, thế danh Trần Văn Long, sinh năm 1927 tại thôn Miêu Nha, xă Song Mai, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong một gia đ́nh nông dân nghèo. Ngài là con thứ ba của cụ ông Trần Văn Đáo và cụ bà Nguyễn Thị Trỏ, trên Ngài c̣n có 2 người anh trai. Năm lên 3 tuổi, th́ cụ bà mất, Ngài được cha nuôi dưỡng. Với ḷng thành kính Tam Bảo, hàng ngày cha con lên chùa làng để làm công quả tích phúc tạo duyên, nhờ đó mà Ngài đă sớm có duyên với Phật Pháp. Năm lên 6 tuổi, Ngài được Ni Trưởng Thích Đàm Ân trụ tŕ chùa Nho Lâm, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên nhận về nuôi và cho đi học tại các trường trong vùng. Năm lên 12 tuổi, Ni Trưởng Thích Đàm Ân cho đến thụ giáo Ḥa thượng Thích Thanh Hồ, trụ tŕ chùa Đống Long, xă Hùng An, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Với đạo hạnh và trí tuệ thông minh sẵn có, Ngài đă được thụ giới Sadi năm 1939 và năm 1947 Ngài được thụ Đại giới Tỷ khiêu tại chùa Đống Long do Tổ đ́nh chùa Pháp Quang, thôn Thọ Ngăi, xă Tân Minh, huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây cũ nay là thành phố Hà Nội tổ chức. II. NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC Sống trong cảnh thực dân phong kiến đô hộ, nhân dân lầm than đau khổ, Ngài đă sớm nhận thức rằng: nước mất th́ đạo cũng bị hủy hoại, nhân dân tín đồ Phật tử cũng không có cuộc sống an lạc, Phật Pháp không được xiển dương. Chính v́ vậy, Ngài đă liễu nghĩa được mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Đạo - Đời và đây chính là tiền đề quan trọng đối với con đường tu hành phụng sự đất nước và giác ngộ quần sinh mà Ngài đă lựa chọn. Thấm nhuần tư tưởng: "Phật pháp bất ly thế gian giác" với truyền thống yêu nước "Hộ quốc an dân" của Phật giáo Việt Nam suốt 2000 năm hiện diện và đồng hành với dân tộc, Ngài đă sớm giác ngộ Cách mạng, tích cực tham gia hoạt động bí mật trong ḷng địch, ủng hộ các phong trào Cách mạng dưới sự lănh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt Minh, Ngài đă hóa thân Bồ Tát, lúc làm tu sĩ, lúc làm dân thường, lúc là người chiến sĩ Cách mạng với bầu nhiệt huyết ưu đời mẫn thế. Tháng 03 năm 1945, được sự chỉ đạo của tổ chức Cách mạng, Ngài đă lên kế hoạch để cùng với nhân dân địa phương tổ chức phá kho thóc của chế độ phong kiến và đế quốc Nhật đặt tại chùa Đống Long nơi Ngài đang tu hành, nhằm cứu giúp đồng bào đang lâm vào cảnh đói khổ bi thương, rồi tập hợp quần chúng nhân dân, Phật tử trong vùng đấu tranh và giành chính quyền năm 1945 tại quê hương. Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước lại bước vào thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Ngài lại tiếp tục tham gia các phong trào phụng đạo yêu nước của giới Tăng ni, Phật tử tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1947 đến năm 1949 Ngài được suy cử làm Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Hưng Yên, tổ chức thành viên của Hội Liên Việt (nay là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Từ tháng 01 năm 1950 đến tháng 9 năm 1951, Ngài đă trực tiếp tham gia lực lượng vũ trang bí mật tỉnh Hưng Yên, làm công tác dân vận, thúc đẩy Tăng ni, Phật tử tích cực tham gia các phong trào lao động sản xuất ủng hộ kháng chiến, bảo vệ Cách mạng. Với những hoạt động tích cực đó, thực dân Pháp đă đưa tên Ngài vào danh sách những người "đặc biệt quan tâm". Từ tháng 10 năm 1951 đến tháng 4 năm 1953, Ngài đă bị thực dân Pháp bắt giam và tra tấn, giải qua nhiêu trại giam, nhà tù: Bốt La Tiến, bốt Lực Điền ở thị xă Hưng Yên; nhà thờ Kẻ Sặt, nhà giam giam ở tỉnh Hải Dương; Nha công an, nhà tù Hỏa Ḷ, trại giam Thanh Liệt, tỉnh Hà Đông, nay là thành phố Hà Nội. Trong cảnh giam tù, thực dân Pháp đă sử dụng nhiều thủ đoạn tra tấn điều tra, ḥng làm lu mờ ư chí Cách mạng đang lắng đọng trong Ngài. Song với tinh thần đại hùng, đại lực, đại từ bi, Ngài đă thể hiện rơ bản lĩnh của người Trượng Phu phụng sự đất nước, Ngài luôn thản nhiên trước sự tra tấn cực h́nh của cai ngục và cuối cùng thực dân Pháp đă phải trả tự do cho Ngài cùng hơn 100 chiến sỹ Cách mạng khác. Ra khỏi nhà lao, Ngài lại tiếp tục tham gia hoạt động Cách mạng cho đến ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Từ năm 1955 đến năm 1957, Ngài chăm lo Phật sự tại chùa Đống Long, chùa Nho Lâm, chùa Phó Nham huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên và trực tiếp cùng Tăng ni, Phật tử và nhân dân địa phương tham gia lao động sản xuất. Từ năm 1958 đến năm 1967, Ngài tham gia thành lập Tùng Lâm Phật giáo tỉnh Hưng Yên và được suy cử làm Chánh Thư kư. Trong thời gian này, Ngài đă cùng Chư tôn đức Phật giáo tỉnh tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức Phật giáo tại Hưng Yên và hướng dẫn lao động sản xuất, giúp đỡ Tăng ni tại các cơ sở tự viện giải quyết những khó khăn về đời sống tu tập trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh. Năm 1968, hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất thành tỉnh Hải Hương, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam tỉnh Hải Hưng được thành lập, Ngài được suy tôn làm Chánh Thư kư tỉnh hội. (từ 1969-1973). Từ năm 1974 đến năm 1980, Ngài được suy cử Uỷ viên Ban Trị sự kiêm Chánh Văn pḥng Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, chính thức làm việc tại chùa Quán Sứ, Trụ sở Trung ương Hội. Với trọng trách của ḿnh, Ngài đă cùng Chư tôn Giáo phẩm thành viên Ban Trị sự Trung ương, xây dựng nhiều chương tŕnh hoạt động Phật sự ích đạo lợi đời, củng cố hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, tạo nền tảng và tiền đề cho việc phát triển tổ chức Giáo hội Phật giáo toàn quốc khi đất nước hoàn thành sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Nam Bắc chung một nhà, non sông liền một dải, Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam đă chủ động thành lập các phái đoàn vào thăm các tổ chức hệ phái Phật giáo miền Trung và miền Nam để tạo mối liên hệ pháp lữ và chia sẻ tâm nguyện của Tăng ni Phật tử giữa các vùng miền sau nhiều năm đất nước chia cắt. Trong các chuyến viếng thăm đó, Ngài được cử làm Thư kư đoàn để tham vấn Chư tôn đức trong việc xây dựng nội dung và chương tŕnh làm việc tiếp xúc với chư tôn đức lănh đạo các tổ chức hệ phái Phật giáo ở miền Trung và miền Nam. Cuối năm 1979 đầu năm 1980, đoàn Phật giáo miền Bắc do Trưởng lăo Ḥa thượng Thích Đức Nhuận – Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Trưởng lăo Ḥa thượng Thích Thế Long – Phó Hội trưởng kiêm Tổng Thư kư và Ngài lúc đó là Chánh Văn pḥng đă vào thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Huế, gặp gỡ chư tôn giáo phẩm lănh đạo các tổ chức, hệ phái Phật giáo ở miền Trung và miền Nam, làm công tác vận động tổ chức hội nghị hiệp thương xúc tiến thành lập Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam. Sau một thời gian chuẩn bị, Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập và Ngài được cử làm Phó Thư kư Ban vận động. Với trọng trách của ḿnh, Ngài đă đi thăm nhiều cơ sở tự viện, gặp gỡ nhiều chư tôn Giáo phẩm thuộc các tổ chức, hệ phái Phật giáo, trên cơ sở đó Ngài đă đóng góp nhiều ư kiến quan trọng, giúp chư tôn Giáo phẩm của các tổ chức, hệ phái Phật giáo đồng thuận, ḥa hợp để sớm đi đến sự hợp nhất tổ chức thành lập Giáo hội toàn quốc. Với sự gia tŕ của Tam Bảo, sự nhất tâm của Tăng ni, Phật tử, Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam đă được long trọng tổ chức từ ngày 04 đến ngày 07/11/1981 tại chùa Quán Sứ - Hà Nội, Trụ sở Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam. Sau 04 ngày làm việc trong tinh thần đoàn kết, ḥa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm tổ chức, Hội nghị đă quyết nghị thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam, với danh xưng Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương, chương tŕnh hoạt động Phật sự và nhân sự Ban lănh đạo trung ương: Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự. Và Ngài được suy cử làm Phó Tổng Thư kư kiêm Chánh Văn pḥng I Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến tháng 11 năm 1997. Tháng 11 năm 1997, Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ IV (1997-2002) thành công, Ngài được suy cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự. Năm 2001 Ngài được suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V (2002-2007) và lần thứ VI (2007-2012), Ngài được suy tôn là thành viên Hội đồng Chứng minh và suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự, Viện trưởng Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. Trải qua các chức vụ từ Chánh Văn pḥng, Phó Tổng Thư kư, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài đă có nhiều đóng góp quan trọng đối với đạo Pháp, đặc biệt là sự phục hồi các hoạt động Phật sự của Phật giáo miền Bắc sau ngày đất nước được thống nhất. Được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ ngành, Ngài đă cùng Chư tôn đức lănh đạo Giáo hội đi đến nhiều tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc để cùng trao đổi và tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong việc kiện toàn tổ chức, nhân sự Giáo hội tại địa phương, phục hồi các hoạt động Phật sự đúng chính pháp tại các cơ sở tự viện, kêu gọi công đức trùng tu các cơ sở tự viện bị xuống cấp, động viên Tăng ni, Phật tử yên tâm hành đạo và tích cực tham gia lao động sản xuất, đăng kư hộ khẩu ổn định đời sống tu hành, độ người Phật tử xuất gia và Phật tử tại gia. Nhiều di tích lịch sử văn hóa của Phật giáo được tôn tạo và mở hội truyền thống, giữ ǵn bản sắc dân tộc, Phật pháp được xiển dương và hạn chế hủ tục không phù hợp với chính pháp. Trong quá tŕnh kiện toàn tổ chức nhân sự Giáo hội địa phương, một số Tỉnh Thành hội Phật giáo lúc mới thành lập gặp nhiều khó khăn, Ngài đă trực tiếp đảm trách ngôi Chứng minh đạo sư hoặc làm Trưởng Ban Trị sự để cho Tăng ni, Phật tử địa phương nương tựa, như Tỉnh hội Phật giáo Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Hà Nam. Bên cạnh đó, Ngài c̣n trao truyền giới châu tuệ mệnh cho hàng ngàn Tăng ni mới xuất gia và hàng vạn Phật tử tại gia thông qua các đại giới đàn do Ban Trị sự và các Tổ đ́nh tổ chức. Sự nghiệp giáo dục đào tạo Tăng ni có đủ tài đức là một trong những Phật sự được Ngài quan tâm đặc biệt. 30 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội luôn gắn liền với tên tuổi và công lao to lớn của Ngài. Ngài đă đảm trách các Phật sự từ Chánh Văn pḥng đến Phó Viện Trưởng và nay là Viện Trưởng, Ngài đă dành nhiều tâm lực và trí tuệ với một mong muốn Phật giáo miền Bắc phải có một tuyển Phật trường xứng tầm với lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sau hơn 20 năm, với bao vất vả, Ngài đă t́m được nơi đắc địa tại xă Phù Linh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội để đặt đá xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội và đến năm 2006 đă làm lễ khánh thành giai đoạn I, với một cơ ngơi to đẹp, trang nghiêm, đủ điều kiện ăn ở nội trú để Tăng ni sinh yên tâm tu học như hôm nay. Năm tháng cứ trôi đi, tuổi Ngài một cao hơn, sức khỏe lại yếu thêm, nhưng Ngài vẫn thường xuyên về Học viện thăm hỏi động viên cán bộ, giảng sư, Tăng ni sinh, rồi Ngài trực tiếp giảng dạy cho Tăng ni sinh những bài học đầu tiên, hàng tháng Ngài chủ tŕ và chỉ đạo các phiên họp của Hội đồng điều hành Học viện. 30 năm xây dựng và trưởng thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài đă có nhiều đóng góp to lớn cho những thành tựu Phật sự chung của Giáo hội hội Phật giáo Việt Nam, Ngài trở thành cấu nối giữa đạo với đời, giữa Phật giáo miền Bắc với Phật giáo miền Trung và Phật giáo miền Nam. Là thành viên tích cực trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Ngài được tín nhiệm cử tham gia Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Tôn giáo của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Với tinh thần phụng sự chúng sinh là thiết thực cúng dàng chư Phật, Ngài đă thường xuyên đến thăm hỏi và tặng quà động viên các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi khuyết tật, ảnh hưởng chất độc da cam, các trung tâm nuôi dưỡng người không nơi nương tựa, những gia đ́nh gặp hoạn nạn, khó khăn, xây dựng nhà đại đoàn kết, nhà t́nh thương, tham gia các hoạt động xóa đói giảm nghèo. Ngài c̣n trực tiếp tham gia Ban Chấp hành Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam, Hội Người Cao tuổi Việt Nam để cùng đóng góp tham mưu xây dựng chính sách xă hội ngày một hiệu quả hơn. Đối với công tác Phật sự quốc tế, Ngài đă đi thăm, làm việc và tham gia nhiều Hội nghị tôn giáo Quốc tế được tổ chức ở các nước châu Mỹ, châu Âu, châu Á, và Liên Xô (trước đây). Ngài chủ tŕ nhiều buổi làm việc, tiếp nhiều vị chính khách Quốc tế đến thăm và làm việc với Giáo hội. Những nơi Ngài đến, những vị khách được Ngài tiếp đều nhận được t́nh cảm thân thiết thắm t́nh. Thông qua đó, h́nh ảnh và đất nước con người Việt Nam, Phật giáo Việt Nam đă được bạn bè quốc tế hiểu hơn và đánh giá cao. Với những khả năng trí tuệ tinh anh, Ngài được mời tham gia Ban Chấp hành Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Ḥa b́nh Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt Nam – Nhật Bản. Với những đóng góp to lớn đối với Đạo pháp và Dân tộc, Ngài luôn được Tăng ni, Phật tử, nhân dân quư mến và tin tưởng. Ngài được Trung ương Giáo hội công cử làm đại diện giới Tăng ni, Phật tử tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội và được cử tri bầu trúng cử hai khóa Quốc hội khóa XI, XII, và là thành viên Uỷ ban các vấn đề xă hội của Quốc hội. Là một đại biểu lớn tuổi nhất trong Quốc hội, song Ngài vẫn luôn tích cực tham gia đầy đủ các kỳ họp, thực hiện chức năng nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân, đóng góp nhiều ư kiến tâm huyết, xác đáng tại các kỳ họp, các phiên thảo luận của Quốc hội, tiếp xúc cử tri trước và sau mỗi kỳ họp được Quốc hội và cử tri đánh giá cao, với tấm ḷng kính trọng một vị cao Tăng luôn v́ dân v́ nước. Đúng như Anh hùng Lao động, Giáo sư Vũ Khiêu đă tặng Ngài đôi câu đối: “Chính Đại Quang Minh Tâm Hướng Phật – Từ Bi Hỷ Xả Chí Ưu Dân”. Dù ở vị trí cương vị nào, Ngài luôn nhận được t́nh cảm kính trọng đặc biệt của Tăng ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như cộng đồng xă hội. Đảng và Nhà nước đă trao tặng Ngài nhiều phần thưởng cao quư: Huân chương kháng chiến hạng nhất, hạng nh́; Huân chương Độc lập hạng hai; Huân chương Đại đoàn kết toàn dân tộc; Thủ Tướng Chính Phủ tặng kỷ niệm chương chiến sỹ Cách mạng bị địch bắt và tù đầy tại Ḥa Ḷ. Các Bộ ngành và các đoàn thể xă hội trao tặng Ngài nhiều kỷ niệm chương, bằng khen. Giáo hội Phật giáo Việt Nam tặng nhiều Bằng tuyên dương công đức. Và đặc biệt, ngày 12 tháng 10 năm 2011, Chủ tịch nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam đă kư quyết định trao tặng Trưởng lăo Ḥa thượng Huân chương Hồ Chí Minh, phần thưởng cao quư của Đảng và Nhà nước, v́ đă có công lao to lớn, có nhiều thành tích xuất sắc, đóng góp vào sự nghiệp Cách mạng của Đảng và của Dân tộc. Qủa thật Ngài là tấm gương sáng tốt đạo đẹp đời của hôm nay và mai sau. III. THỜI KỲ LÂM BỆNH Từ tháng 6 năm 2010, giữa mùa an cư kết hạ Phật lịch 2554, sức khỏe của Ngài có phần suy giảm, các đệ tử xuất gia và tại gia của Ngài đă mời nhiều giáo sư, bác sỹ trong nước và quốc tế đến thăm khám, điều trị và có sự chuyển biến tích cực. Trong thời gian này, Ngài đă dành nhiều thời gian cho việc chỉ đạo một số công tác Phật sự quan trọng, đặc biệt trong việc kiện toàn nhân sự, chuẩn bị mọi mặt cần thiết cho việc thành lập tổ chức giáo hội tại một số địa phương. Bên cạnh đó Ngài vẫn thường xuyên lên thăm và động viên Tăng ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, thăm và động viên chư Tăng ni tham gia an cư kết hạ tại các trường hạ tập trung của các Tỉnh, Thành hội Phật giáo khu vực phía Bắc và tham gia Hội đồng giới sư trao truyền giới châu tuệ mệnh cho Tăng ni hậu học tại các giới đàn. Tưởng rằng Ngài sẽ được trụ lâu hơn nữa để làm thạch trụ cho Tăng ni Phật tử và các cấp Giáo hội Phật giáo đặc biệt là khu vực phía Bắc nương y ở nơi Ngài được măi măi. Song quy luật vô thường vốn có, Ngài đă an nhiên thu thần thị tịch vào hồi 08h15’ ngày 26 Tháng 11 năm 2011 (nhằm ngày 02 Tháng 11 năm Tân Măo, trụ thế 85 tuổi, gần 80 năm tu sống trong cảnh thiền môn, tham gia hoạt động Cách mạng, lănh đạo phong trào Phật giáo. Ngài viên tịch đă để lại cho môn đồ tứ chúng, các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam niềm tiếc thương vô hạn. Ngài măi măi là tấm gương sáng về t́nh thần phụng sự Đạo pháp và Dân tộc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. NAM MÔ VIỆT
NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI HỘI ĐỒNG CHỨNG
MINH
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||