Kỵ tuồi xung khắc
HỎI: Hỏi: Tôi năm nay 40 tuổi (nam, tuổi Hợi), đă dở dang một lần. Tôi nghĩ sự đổ vỡ đó vì không nghe theo lời khuyên của gia đ́nh lấy người kỵ tuổi. Hiện giờ tôi đang yêu một người con gái tuổi Dần (25 tuổi), người ấy cũng yêu tôi và chúng tôi có ý định tiến đến hôn nhân. Tuy nhiên gia đình tôi (và cả gia đ́nh cô ấy) đều không an tâm vì chênh lệch tuổi tác và nhất là do kỵ tuổi (Dần-Thân-Tỵ-Hợi tứ hành xung). Tôi còn nghe "con gái tuổi Dần nhiều chồng" làm tôi hoang mang quá. Nhiều lúc tôi muốn vượt qua cửa ải gia đ́nh và các vấn đề kiêng kỵ để đến với nhau nhưng lo ngại thất bại, và nhất là sợ gia đ́nh buồn v́ đă không nghe lời gia đ́nh mà thất bại một lần rồi. Kính mong quý Báo cho tôi lời khuyên, vấn đề chênh lệch tuổi và kỵ tuổi như vậy có đáng lo ngại không? (NGUYỄNVĂNTHUẬN) ; nguyenvanthuan…@yahoo.com.vn ĐÁP: Bạn Nguyễn Văn Thuận thân mến! Trước hết, đạo Phật không có quan niệm về kỵ tuổi. Không có tuổi nào tốt hay xấu cả, chỉ có nghiệp do mỗi người tạo ra thiện hoặc ác rồi trở lại chi phối khiến họ gặt hái quả tốt hay xấu mà thôi. Tứ hành xung hay tam hạp…nói chung, là quan niệm lịch số của người Trung Hoa có từ xa xưa, ảnh hưởng sâu sắc trong tâm thức của hầu hết người Việt. Nếu bạn là người Phật tử tin Phật sâu sắc, có chánh kiến, thì hãy gạt chuyện tuổi tác xung khắc ra khỏi quan niệm sống của mình. Bạn cần thiết lập niềm tin tuyệt đối vào nhân quả-nghiệp báo của chính bản thân mình. Tất cả những biến động thuận nghịch trong đời sống của bạn chính là biểu hiện cụ thể của nhân quả-nghiệp báo do bạn đã tạo dựng trước đây. Muốn chuyển hóa nghiệp nhân để có nghiệp quả tốt đẹp thì hãy sống lành mạnh, đạo đức với tự thân và mọi người trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Theo quan điểm Phật giáo, vấn đề chênh lệch tuổi tác hay kỵ tuổi thì không có gì đáng để lo ngại cho hôn nhân. Muốn xây dựng một đời sống hôn nhân tốt đẹp điều cần thiết phải có tình yêu, sự thấu hiểu, tôn trọng mới có thể gắn bó và sẻ chia để cùng nhau đi đến hết chặng đường đời. Nếu hai người đều biết chuyển hóa ba nghiệp xấu ác của thân miệng ý trở thành hiền thiện thì chắc chắn họ sẽ thiết lập nên hạnh phúc trong quá trình chung sống, dù cho bất cứ tuổi tác nào. Chúc các bạn tinh tấn! TỔ TƯ VẤN Công năng của thần chú đại bi
Đáp: Bạn Diệu Pháp thân mến! Theo Từ điển Phật học Huệ Quang (tập 2, tr.1218), thần chú Đại Bi, Phạn ngữ Mahàkàrunikacitta-dhàrani, Hán dịch Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Thế Âm Đại Thần Chú, Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đại Bi Tâm Đà La Ni, là thần chú nói về công đức nội chứng của Bồ tát Quán Thế Âm. Theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, do ngài Già Phạm Đạt Ma dịch (thời Đường), toàn bài chú này có 84 câu, người tŕ tụng thần chú Đại Bi sẽ được 15 điều lành, không bị 15 thứ hoạnh tử bức hại. - Được 15 điều lành: 1. Sinh ra thường được gặp vua hiền, 2. Thường sinh vào nước an ổn, 3. Thường gặp vận may, 4. Thường gặp được bạn tốt, 5. Sáu căn đầy đủ, 6. Tâm đạo thuần thục, 7. Không phạm giới cấm, 8. Bà con ḥa thuận thương yêu, 9. Của cải thức ăn thường được sung túc, 10. Thường được người khác cung kính, giúp đỡ, 11. Có của báu không bị cướp đoạt, 12. Cầu ǵ đều được toại ư, 13. Long, Thiên, thiện thần thường theo hộ vệ, 14. Được gặp Phật nghe pháp, 15. Nghe Chánh pháp ngộ được nghĩa thâm sâu. - Không bị 15 thứ hoạnh tử: 1. Chết v́ đói khát khốn khổ, 2. Chết v́ bị gông cùm, giam cầm đánh đập, 3. Chết v́ oan gia báo thù, 4. Chết v́ chiến trận, 5. Chết v́ bị ác thú hổ, lang sói làm hại, 6.Chết v́ rắn độc, ḅ cạp, 7. Chết trôi, chết cháy, 8. Chết v́ bị thuốc độc, 9. Chết v́ trùng độc làm hại, 10. Chết v́ điên loạn mất trí, 11. Chết v́ té từ cây cao hoặc rớt xuống vực thẳm, 12. Chết v́ người ác trù ếm, 13. Chết v́ tà thần, ác quỷ làm hại, 14. Chết v́ bệnh nặng bức bách, 15. Chết v́ tự tử. Ngoài ra, theo kinh Thiên Nhăn Thiên Tí Quán Thế Âm Bồ Tát Đà La Ni Thần Chú (quyển thượng), tŕ tụng chú này 108 biến, tất cả phiền năo tội chướng đều được tiêu trừ, thân khẩu ư thanh tịnh. Thần chú Đại Bi được các tông phái Phật giáo tŕ niệm rất phổ biến và thịnh hành. Tuy nhiên, thần chú này được các nhà Phật học dịch khác nhau về tên kinh cũng như chương cú. Đơn cử như bản dịch chú Đại Bi của ngài Bồ Đề Lưu Chi có 94 câu, bản dịch của ngài Kim Cương Trí có 113 câu, bản dịch của ngài Bất Không có 82 câu… Tổ Tư vấn (tuvangiacngo@yahoo.com) Tin đă đăng -Mơ
gặp ma - Bí ẩn của giấc mơ
|
||