NAM MÔ TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC THẾ
GIỚI ĐẠI TỪ ĐẠI BI A DI ĐÀ PHẬT
Kinh Vô Lượng Thọ
LỜI ĐẦU
Kính thưa Quí đọc giả !
Kinh Vô
Lượng Thọ là tạng kinh rất quư
báu cho người tu học Phật, nhất
là cho hành giả tu Tịnh Độ Tông.
Nhưng ư kinh rất thâm sâu khó
thông, khó hiểu và ư chỉ trong
kinh Đức Phật dùng thần thông
nơi hào quang trí huệ Phật biến
hiện hóa ra nhiều phương tiện,
mượn sự tướng con người là vua
Vô Tránh Niệm có pháp danh là
Bảo Tạng, tu thực hành 48 đại
nguyện mà thành tựu Tánh Đức A
Di Đà. Ngài mượn cảnh là thế
giới Tây phương Cực Lạc để hiển
bày cơi Cực Lạc có các vật báu
là xa cừ, mă năo, san hô, lưu ly,
hổ phách, vàng ṛng. Tất cả đều
là pháp tướng dùng làm phương
tiện diễn bày mục đích Phật dùng
sự tướng dạy Vua Vô Tránh Niệm
và tất cả chúng sanh tu niệm
Phật để thấy rơ các niệm thường
sinh khởi tại tâm biết thế nào
là chánh niệm và
tà
niệm là ǵ, hầu khắc phục được
các tâm niệm khi phát khởi đều
thực hành sáng suốt, xa ĺa các
niệm vọng tưởng, ngơ hầu thanh
lọc tâm quay về tự tánh thanh
tịnh chơn như sẵn có.
Kính thưa quí vị !
Quả là một
duyên lành đến với chúng Liên
Tông Tịnh Độ và mọi người, nhất
là khóa tu niệm Phật ngày mùng
05 vào mỗi tháng. Đă hơn một năm
cứ vào mỗi khóa tu niệm Phật
hằng tháng đều được Sư phụ
thuyết giảng, nhắc nhở bằng một
thời pháp hướng dẫn dạy tu về
pháp môn Tịnh Độ, mục đích là
NIỆM PHẬT THẤY TÁNH.
Vào ngày
mùng 07 tháng 07 năm 2010, lúc
khuya sau khi xong thời tu thiền
Sư phụ cho biết là
“Sư phụ đă vào được Thế Giới Cực
Lạc”. Từ đó về sau mỗi lần
được nghe giảng Sư phụ đều dạy
về phương cách tu thấy Cực Lạc
tại tâm. Với tâm hoan hỷ Sư phụ
cho biết rằng Sư phụ đă thông
suốt, giảng trạch được 22 đại
nguyện trong 48 đại nguyện A Di
Đà, đến sáng hôm đó Sư phụ đă
trọn vẹn sáng suốt thông đạt đủ
48 lời nguyện và hứa rằng sẽ
giảng lại tất cả cho đại chúng
khi đủ duyên thành tựu. Đây là
đại sự nhân duyên, là mạng mạch
của Phật pháp. Hiện tại là một
duyên lớn đối với chúng Liên
Tông. Lời thuyết giảng tại Thiền
Viện Minh Đức, nhờ hồng ân Tam
Bảo, Phật lực gia tŕ, Sư phụ đă
sáng suốt triển khai, giảng giải
48 đại nguyện trong kinh Phật
thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh
Đẳng Giác Kinh thâm mật nghĩa.
48 đại nguyện đă thành tựu Đức
Tánh A Di Đà do Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni đă tuyên thuyết, với
mật ư dạy cho tất cả chúng sinh
cơi Ta bà biết phương pháp tu
sửa bản tâm, hầu trang nghiêm
thanh tịnh b́nh đẳng giác các
pháp, thấy lại tự tánh A Di Đà
chính tự tâm của mỗi người, phải
t́m lại chính ḿnh. Lời thuyết
thâm sâu của đức Phật, Ngài mượn
nơi sự tướng A Di Đà cùng 48 đại
nguyện thiết tha làm hành trang
cho chúng ta đồng phát nguyện.
Đây không chỉ là nguyện riêng
của một Đức A Di Đà mà trong mỗi
chúng ta nếu ai hướng về sự tu
giác ngộ bản tâm thể nhập vào tự
tánh Di Đà th́ nên phát 48 đại
nguyện để tánh được thể nhập
chơn như thanh tịnh giác ngộ,
thấy lại nguồn tâm đó là chánh
báo, y báo sẽ là thế giới Tây
phương Cực Lạc chính tại tâm ta
đă sáng suốt xây dựng bằng tự
lực, bằng vô lượng công đức của
48 đại nguyện. Chúng ta hăy
cương quyết tự biết rằng đây là
lời phát nguyện chính tự tâm ta,
thành Phật cũng tại tâm ta.
Nguồn gốc
quyển sách này có được từ nơi
trí huệ tu hành của Sư phụ đă
quyết ḷng dùng sự sáng suốt,
cùng nguyện lực thuyết giảng,
mục đích làm sáng tỏ mật ư của
48 đại nguyện A Di Đà, để người
tu niệm Phật thêm phương tiện dễ
dàng thông suốt, thấu triệt mật
ư của Đức Phật đă dạy trong kinh
mà chúng ta hằng đọc tụng trong
giai đoạn tầm tu học Phật.
Trước đây Sư
phụ tu về Thiền tông, nhưng v́
tâm nguyện độ chúng sanh, v́
thấy Thiền rất khó tu, ít phương
tiện diễn nói nên phải chuyển
cách giảng giải bằng pháp Tịnh
độ. Phải tùy thời, tùy căn cơ
của mọi người nương vào pháp
niệm Phật dùng nhiều phương tiện
để giáo hóa chúng sanh v́ tu
thiền th́ tâm phải tịnh, tâm
muốn tịnh th́ phải nhờ thiền đó
là cách hướng dẫn thiền tịnh.
Sở dĩ nói
niệm Phật thấy tánh và nói đức
Phật Thích Ca Mâu Ni dùng thần
thông trí huệ hiện tướng chỉ cho
chúng sanh ngộ tánh v́ đó là lời
của Đức Thích Ca Mâu Ni trong
Kinh Di Đà có dạy :
“Một
câu A Di Đà Phật chính là PHÁP
để được vô thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác của Đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni trong thời ngũ trược,
nay đem toàn thể QUẢ GIÁC này
trao cho chúng sanh đời trược
ác, đó là cảnh giới sở hành của
chư Phật, chỉ Phật với Phật mới
hiểu cùng tận nỗi, chẳng phải
cữu giới dùng tự lực mà tin hiểu
rồi”.
“Đem
pháp giới thể làm thành thân và
cơi của Phật A Di Đà, v́ vậy
danh hiệu A Di Đà chính là bổn
giáo lư tánh của chúng sanh”.
Trong thời
kỳ này đối với hàng cư sĩ tại
gia phải cần hiểu biết mục đích
của người tu là ra khỏi con
đường sanh tử. Pháp môn niệm
Phật gồm tự lực và tha lực, mà
điều cần thiết duy nhất là phải
tin tưởng tuyệt đối vào bổn
nguyện Tánh Đức A Di Đà. Bổn
nguyện A Di Đà là dùng danh từ
nương Phật hiệu để cứu độ khắp
chúng sanh gồm hữu tướng và vô
tướng. Người tŕ danh hiệu Phật
cần hiểu rơ việc này, v́ không
đủ tự lực để hiện tại được văng
sanh nên cần phải nương vào pháp
niệm Phật, pháp là lư của tha
lực. Văng sanh Cực lạc bằng
phương pháp
quay trở về tự tánh không c̣n
niệm vọng tưởng là điều chắc
chắn không c̣n nghi ngại, gọi là
tu trực chỉ chơn tâm. Đây là
phương pháp dành cho người tu
học Phật hữu duyên phát đại bi
tâm, một ḷng nguyện v́ đại
chúng cho ḿnh và tất cả mọi
người đều tự tại giác ngộ giải
thoát.
Ta phải tin
rằng kiếp sống thế gian là vô
thường, mạng sống ngắn ngủi như
hơi thở ra vào, các pháp hữu vi
đều là huyễn hóa, không có chủ
thể, niệm niệm sinh diệt không
ngừng, từng sát na biến hoại
chẳng ngừng nghỉ, tất cả đều đưa
tới khổ năo, vô minh và trói
buộc.
Tin sáu nẻo
luân hồi thật là nguy hiểm
chướng nạn, sơ sẩy chỉ trong ư
niệm cũng đưa chúng sinh trầm
luân cả ngàn muốn ức kiếp.
Phẩm 1 và 2
nói về lục
chủng thành tựu, có pháp hội
Thánh chúng tại thành Vương Xá
trong Núi Linh Thứu cùng 12 ngàn
vị Tỳ Kheo cùng nhau có mặt, tất
cả đều là bậc Đại Thánh, đă đạt
thần thông trí huệ sáng suốt, có
Tôn giả Kiều Trần Như, Tôn giả
Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên,
Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả A
Nan... đều là Thượng Thủ. Cùng
Bồ Tát Di Lặc tất cả Bồ tát
trong hiền kiếp này cùng tới hội
tập.
1. Có ngài Hiền Hộ.
Ngài Hiền Hộ
chỉ đến niệm giác thường hằng
của người giác ngộ, niệm này
thường hộ tŕ tâm được an lạc.
Thường giữ ǵn từng tâm niệm của
chúng sanh.
16 chánh sĩ
chỉ đến những tâm niệm đă chánh
kiến sáng suốt.
2. Bồ Tát Thiện tư duy
nói đến các niệm từ chánh kiến
của bậc giác ngộ, các tâm niệm
đều thuận thiện, biểu thị cho
các niệm sáng suốt, chính xác
theo chơn lư Phật ḥa hợp với
Tánh Đức A Di Đà thanh tịnh giải
thoát.
3. Bồ Tát Huệ Biện
Tài
là trí huệ
đă sáng suốt có khả năng diễn
nói, biết diệu dụng mọi phương
tiện, khéo nói giáo lư chơn
chánh cho mọi người tin tưởng mà
kiến tánh.
4. Bồ Tát Quán Vô Trụ
các niệm
sáng suốt quán xét thấy biết rơ
các pháp bên ngoài thế gian cùng
các vọng tưởng đều là vô thường,
không thật, nên không ái nhiễm,
chấp trụ vào các pháp huyễn của
thế gian, quyết ḷng tu ĺa các
tà niệm để kiến tánh.
5. Bồ Tát Thần Thông Hoa,
hoa trí huệ, hoa giới hạnh,
thông suốt đủ năng lực chuyển
hóa các pháp mê lầm, dùng các
niệm sáng suốt, khéo giáo hóa
đưa chúng sanh mê muội vào cơi
an lành Cực lạc kiến tánh thấy
được tự tâm.
6. Bồ Tát Quang Anh,
ánh sáng trí tuệ minh quang của
người giác ngộ sâu rộng, không
ngằn mé, soi rọi khắp 10 phương
cơi nước.
7. Bồ Tát Bảo Tràng,
những tâm niệm thông suốt dùng
pháp bảo là chơn lư giác ngộ ứng
dụng làm đạo tràng để giáo hóa
chúng sanh, diễn bày diệu lư,
tuyên dương chánh pháp, dùng
pháp bảo thù thắng đưa chúng
sanh nhập vào tự tánh.
8. Bồ Tát Trí Thượng,
trí cao thượng tột cùng siêu
xuất vào đạo tràng này sẽ được
chánh đẳng chánh giác.
9. Bồ Tát Tịch Căn,
các niệm tự sáng suốt thanh tịnh
nên giữ ǵn được sáu căn : mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ư không ô
nhiễm vướng mắc vào sáu trần,
các niệm không c̣n niệm vào pháp
thế gian. Tất cả dục vọng đều
được vắng lặng, gọi là các căn
đều tịch lặng đó là Tịch Căn Bồ
tát.
10. Bồ Tát Tín Huệ,
Bồ Tát phải thường sống với niệm
sáng suốt nơi tín, nguyện, hạnh
nên nhờ đức tin sâu xa mà sinh
trí huệ.
11. Bồ Tát Nguyện Huệ,
sự sáng suốt là nguyện lực kiên
quyết dùng trí huệ nguyện tu
kiến tánh văng sanh Tịnh độ.
12. Bồ Tát Hương Tượng,
người tu dùng nguyện lực làm
niềm tin, là sức mạnh vượt qua
mọi cám dỗ thế gian, ĺa khỏi
các niệm luân trầm, thường sống
với tánh giác tự làm chủ các
pháp.
13. Bồ Tát Bảo Anh,
người giác ngộ thông suốt các
pháp nên tự tánh hằng chứa những
pháp bảo trí huệ tinh anh. Như
48 đại nguyện là kho báu trí tuệ,
là diệu pháp có năng lực giúp
cho chúng sanh nương theo mà
thực hành nếu không thối chuyển
sẽ thành chánh đẳng chánh giác.
14. Bồ Tát Trung Trụ,
niệm sáng suốt không nghiêng về
thế gian hay xuất thế gian, dù ở
cơi Ta bà mà tâm không nhiễm ô
hay oán ghét, nhàm chán các pháp
thế gian, dùng tánh giác mà
chuyển hóa các chúng sanh đều
được an vui, giải thoát đó là
trung đạo.
15. Bồ Tát Chế Hạnh,
người giác ngộ tự biết hành tŕ,
khống chế các hành động do tà
niệm tại tâm sai sử, luôn thường
giác mà giữ ǵn giới đức.
16. Bồ Tát Giải Thoát,
người trí huệ tự giác, tự giải
tỏa mọi buồn phiền, năo loạn,
dục vọng ra khỏi tự tánh, không
chấp vào các niệm tâm luôn tự
tại, đối với các pháp không phân
biệt nhiễm tịnh đều an nhiên tự
tại, bất động.
Tất cả
danh từ
gọi là
chư Bồ Tát
được diễn bày trong pháp hội
Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ mượn
danh từ dùng sự tướng để chỉ vào
tự tánh nói đến quả vị chứng đắc
tại tâm Ngài, sự sáng suốt trí
huệ là vô tướng mới là chơn thật
tướng.
Đây là sự
vi diệu của pháp truyền tâm ấn.
Phật dùng h́nh ảnh các Bồ Tát để
tượng trưng chỉ vào trí tuệ từng
niệm tại
tâm
Ngài sẵn có, mà truyền đạt ấn
vào tâm tất cả chúng sanh, để tự
thấy lại chính tâm ḿnh mà tự
giác ngộ thành Phật cũng giống
như Ngài. Đức Phật đă nói rằng :
“Đây
là tạng pháp bí mật của chư Phật
ba đời, là quả diệu giác ví như
viên bảo châu trên búi tóc Luân
Vương không thể khinh xuất trao
cho người khác mà Như Lai chỉ
truyền trao cho bất cứ chúng
sinh nào quyết chí hoàn thành
địa vị Thiên Nhân Sư tiếp nối
hạt giống Bồ đề. Tất cả tâm thể
phải xa rời mọi luận giải thế
gian, v́ tâm thể nhơ bẩn mà
chúng sinh măi măi luân chuyển
trong ba cơi sáu đường đời đời
chịu khổ, nếu tâm thể ấy được
chuyển hóa thanh tịnh mà chúng
sinh thành tựu được Giới Định
Huệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến đắc quả A La Hán... nhẫn
đến địa vị Phật Đà”.
Nơi mỗi
người đều đầy đủ hạnh nguyện Bồ
tát v́ vậy chúng ta nên tự phát
huy Đại Hạnh Phổ Hiền tại tâm
ḿnh, là nguyện vương (
nguyện lớn ) gồm đầy đủ vô
lượng hạnh nguyện. Buông xả tất
cả các pháp mê lầm, dùng tâm
niệm trí huệ A Di Đà là tánh đức
thanh tịnh vô lượng quang, trùm
khắp, thông thấu hết thảy các
pháp hiểu biết viên măn, viên
thành Phật đạo, chánh đẳng chánh
giác.
Theo kinh
Bi Hoa vào thuở xa xưa có đại
kiếp gọi là Thiện Tri (
Tri kiến tâm niệm thiện lành
) cơi nước thanh tịnh tên Tân-Đề-Lam
(tâm
niệm thanh tịnh) có Vị
Chuyển Luân Thánh Vương (
vua tâm ) là Vô Tránh Niệm,
nghĩa là người tu hành niệm Phật
phải sống với tánh giác, vô
tranh, không tranh chấp hơn thua,
ganh ghét, thù hận, tránh niệm
ác, vọng tưởng, tham dục, luyến
ái, xả ly dục vọng thấp hèn, xa
ĺa các niệm khổ năo, tránh hẳn
những niệm tham, sân, si, ái.
Với pháp hóa hiện này Đức Phật
dạy rằng, ai ai cũng có niệm
thiện do sự tư duy tri tầm có
thể chuyển hóa niệm mê thành
sáng suốt, biết rơ được các tâm
niệm, hầu tránh ba đường ác. Vậy
Vua Vô Tránh Niệm là tránh niệm
ác. Tâm niệm sáng suốt dẫn đầu
đưa ta đến pháp niệm Phật để
buông bỏ các niệm vọng tưởng
trần lao, đến nhất tâm bất loạn.
Người không loạn niệm sẽ an
định, nhập tự tánh Di Đà vô biệt
niệm đă văng hết tập niệm trần
lao, không sanh lại niệm mê lầm,
hoàn toàn trong sạch gọi là vô
sanh. Những sự ái nhiễm v́ dục
vọng, độc ác, ích kỷ, hận thù đă
quá văng, vắng lặng không sanh
khởi cách biệt bởi sự giác ngộ,
vô sanh (
không sanh ) nên gọi là văng
sanh Tịnh Độ (niệm
mà vô niệm).
VĂNG SANH
có nghĩa
bỏ thế giới ác trược (Ta
bà) chuyển thành thế giới
thanh tịnh an vui. Lúc mê muội
sống với dục vọng trần lao tham,
sân, si, thương ghét, tranh
giành, đấu tranh, chấp thật,
những tập tục là những thói quen
không bỏ được thành mê tín.
Trong Kinh Phật nói đến Địa
ngục, Nhơn, A-tu-la, Thiên.
Thiên là nói cơi trời, nói cơi
này v́ chỉ đến phước báu người
tu thập thiện. Nói địa ngục là
do tâm niệm mê si nên nói là địa
ngục, v́ chấp vào tướng nên nói
là địa ngục, v́ chấp vào tướng
nên ta cho là có ông cai quản
địa ngục.
Trong câu
chuyện Ngài Na Tiên Tỳ Kheo, trả
lời cùng vua Milanđa qua cách
cật vấn. Vua hỏi cái ǵ là Na
Tiên Tỳ Kheo, Ngài Na Tiên không
trả lời mà hỏi lại vua rằng : “Tâu
Bệ Hạ đến đây bằng ǵ?”. Vua
nói “Trẩm
đến đây bằng xe”. Ngài Na
Tiên nói cùng Bá Quan văn vơ làm
chứng lời vua nói, thật sự nh́n
bên ngoài th́ rơ ràng vua đến
bằng xe. Nhưng Ngài Na Tiên hỏi
vua “Tâu
Đại Vương, cái bánh xe có phải
là xe không? Con ḅ có phải là
xe không? Tất cả bộ phận từng
phần không phải là xe, vậy mà
vua nói đến đây bằng xe”.
Như vậy vua nói không đúng, tất
cả bánh xe, càng xe, mui xe, con
ḅ, sắt thép hoàn toàn do sự kết
hợp lại gọi là xe, đều do các
pháp hợp lại mà thành. Vậy có
cơi Thiên là Trời cũng do nhiều
pháp tu Thập Thiện hợp lại bởi
nhiều tâm niệm mà thành, dùng
danh từ thế gian mà đặt tên.
Phật dạy các pháp đều như huyễn,
nếu bất cứ pháp nào có tên gọi
đều do nhiều duyên kết tựu mà
thành.
Một danh
từ được gọi là Phật cũng do
nhiều duyên thiện lành sáng suốt,
trí huệ hợp lại thành pháp thân
Phật. Đức Quán Âm thành tựu do
12 lời nguyện, Đức A Di Đà do 48
lời nguyện. Tất cả đều chỉ về tự
tánh mà diễn nói. Văng sanh có
nghĩa là vô sanh (
không sanh ), văng là chết,
nhưng cái ǵ chết cái ǵ sanh?
Có tên gọi
các vị La Hán là Phật chỉ ngay
những tâm niệm, giận hờn, ghen
ghét, tức tối, tham lam v.v…
không c̣n nữa gọi là văng, không
c̣n sanh lại tâm độc ác, tội lỗi
nữa nên gọi là vô sanh. Nên các
vị La Hán gọi là bậc vô sanh,
nghĩa là những tâm niệm nghĩ nhớ
về lục đạo không c̣n lai văng,
chỉ có sự sáng suốt biết rơ các
pháp biến hiện đều do duyên hoàn
toàn không thật, nên không chấp
vào các duyên để tạo nên tâm
niệm nào cả. Đó là tâm niệm đă
thanh tịnh, vắng lặng đối với
các pháp (loạn
pháp). Hiện tượng văng sanh
là những hiện tượng do con người
tạo ra, đó chỉ là hiện tượng
văng sanh bên ngoài có thể tạo
ra mọi hiện tượng, c̣n cái thật
văng sanh của chơn tâm phải thật
sự tu hành sáng suốt biết rơ
từng tâm niệm biến chuyển mê lầm
v́ vô minh hay thanh tịnh, c̣n
vướng trụ hay tự tại, thông suốt
rơ ràng mới là chơn thật văng
sanh.
Người học
Phật nên hiểu rằng Tam Bảo có
thường trụ Tam Bảo và Xuất Thế
Tam Bảo. Ta thường chiêm bái,
tín ngưỡng tôn thờ, lễ lạy h́nh
tượng Phật đó là tín ngưỡng qua
h́nh tướng thế gian bên ngoài,
đó là phần vỏ, c̣n tự tánh xuất
thế phải tự tư duy tu, thật sáng
suốt biết rơ ràng. Bên trong tự
tánh Phật là phần tinh túy, là
ruột của đạo Phật, chiếu soi
hằng sáng. Thông hiểu 48 lời
nguyện là 48 giới của Bậc Bồ Tát
giáo hóa chúng sanh, xuất từ tự
tánh A Di Đà gồm 10 giới trọng
và 48 giới khinh v́ 48 lời
nguyện là hành trang, là con
đường ta nương về Tây phương Cực
Lạc.
Người tu
thấy được tâm là đă gần được với
Phật, c̣n ngược lại không thấy
được tâm là xa cách Phật muôn
trùng v́ “Phật
tức tâm”, mà người không
thấy tâm tức là không thấy Phật
bao giờ. Bởi đạo Phật chủ ư về
tâm, ta không nên theo h́nh
tướng giàu nghèo, tốt, xấu, hơn
thua nên bị lừa đảo không thật.
Vua Vô
Tránh Niệm thống trị bốn châu
thiên hạ (tự
tánh thanh tịnh trùm khắp các
cơi), vua Vô Tránh Niệm (
tự tánh sáng suốt ) thống
trị tất cả chúng sanh trong tự
tánh hằng sa Quốc độ khắp hết
các cơi Tam Thiên Đại Thiên Thế
Giới (gồm
tất cả các cơi trong tâm).
Người tu thực hành bằng tâm niệm
hướng đến thập thiện được phước
báu an lạc cơi trời. Người mang
tâm thập ác hướng đến quả khổ
năo, đau buồn đúng theo nhân quả.
Trong
triều đ́nh vua Vô Tránh Niệm có
Quan Đại Thần tên là Bảo Hải rất
sáng suốt thông minh, mến mộ
giáo lư, tướng hảo thông tuệ.
Vua Vô Tránh Niệm sống được với
những tâm niệm tôn quư nên danh
là Bảo Tạng (
ư này nói đến tự tánh con người
có chứa rất nhiều châu báu )
(
Pháp bảo ) đầy đủ sáng suốt,
chứa đủ cả đó gọi là TẠNG PHÁP.
Lục Tổ nói “Trong
tâm có tất cả, trong tâm chứa
muôn pháp”.
Bảo Tạng thấy
thân tâm thế giới vô thường, khổ
đau, không bền, không thật, hư
huyễn nên nguyện xuất gia tu
Phật tinh tấn, không bao lâu
chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác thành Phật, hiệu là Pháp
Tạng Như Lai.
Ta hăy
nh́n vào Như Lai Tạng Tánh chính
ḿnh, buông xả những niệm không
thật, huyễn hóa, mê lầm để sống
cùng Tạng Tánh chơn như sáng
suốt, trí huệ, chứa đầy đủ công
đức và phước báu thiện lành, với
pháp này Phật muốn dạy cho tất
cả chúng sanh cơi Ta bà chớ
không nói riêng Ngài Pháp Tạng.
Thời này chúng ta là những người
tu theo pháp của bậc Đạo Sư chỉ
dạy, th́ ai ai cũng nên sáng
suốt thông thấu không phân biệt
là lời dạy này chỉ riêng cho
Ngài Pháp Tạng được học, mà tự
cho rằng ta không có phần th́ vô
cùng lầm lẫn. Phật nói đến Pháp
Tạng là muốn từ nơi hóa thân
Phật biến hiện phương tiện để
đời đời giáo hóa cho tất cả
chúng sanh thấy được như lai
tạng tánh chính nơi ḿnh. Nên
Ngài có nói trong Kinh Pháp Hoa
“TA V̀ ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN THỊ
HIỆN ĐẾN THẾ GIAN LÀ CHỈ CHO
CHÚNG SANH NGỘ NHẬP PHẬT TRI
KIẾN” (
thấy tánh thành Phật ). Vậy
đây là Quốc độ mỗi chúng ta cần
nên biết.
Danh thơm
của Bồ Tát Bảo Tạng đến tai vua
Vô Tránh Niệm, vua thỉnh Phật và
chư Tăng cúng dường thật chu đáo
Quan Đại Thần Bảo Hải sau khi
nghe pháp chứng Thánh quả Cư sĩ
Bồ Tát, sau khi thiết triều tâu
với vua Vô Tránh Niệm “Bệ
Hạ cúng dường cầu phước nhân
thiên, dù tốt đẹp vẫn ở tướng vô
thường biến đổi như gió thoảng
mây tan, hiện nay do túc nghiệp
đời trước tu phước, nên bây giờ
được quả vị tôn quư không ai
sánh bằng, thuận việc giúp đời
cơm no áo ấm đó chỉ là phước hữu
lậu, vẫn c̣n sự bất an v́ sanh,
lăo, bệnh, tử, sao bằng phát tâm
Bồ đề, hành Bồ Tát đạo, kiến tạo
nước Phật th́ tất cả đều hạnh
phúc biết bao”.
Đây là
Phật chỉ đến sự chuyển hóa tự
tâm vua Vô Tránh Niệm, lời
khuyên tu của Ngài Bảo Tạng (tự
tánh bừng sáng) nhắc ta nên
quay vào tự tâm, để nhận biết
rằng đừng nên mong cầu vào phước
bên ngoài. V́ đó là phước hữu
lậu, là sự sanh diệt vô thường
c̣n quẩn quanh trong lục đạo,
phải cương quyết tu tập ĺa các
niệm xấu ác để trang nghiêm Quốc
độ, thanh tịnh tại tâm là ta đă
giữ được Tịnh Thổ, là Thế giới
Tịnh Độ tự tâm của Đức A Di Đà,
là Giáo chủ cơi Tây phương vô
cùng an lạc, hạnh phúc “TỰ TÁNH
DI ĐÀ DUY TÂM TỊNH ĐỘ”.
Vua Vô
Tránh Niệm nghe xong vô cùng
hoan hỷ, thu xếp việc triều
chính (
thanh tịnh tự tâm ) đến cúng
dường Phật, Tăng thính pháp. Lúc
này thấy Đức Bảo Tạng Như Lai
nhập định phóng quang sáng suốt,
soi rơ mười phương thế giới Tịnh
độ của chư Phật cho chúng hội
chiêm bái. Vua Vô Tránh Niệm
cũng nhập chúng thấy nhân dân
của ḿnh sắc thân, không ngời
sáng như dân Phật, trí huệ cũng
kém hơn, Quốc độ đền đài bằng
cây đá chạm trổ thô thiển, trong
khi cung điện xứ Phật làm bằng
cây bảy báu, lưu ly, xa cừ, xích
châu, mă năo, san hô, hổ phách
v.v… đặc biệt cơi Phật không có
dân nghèo khó, bệnh hoạn, chết
chóc.
Nói đến
vua Vô Tránh Niệm là chỉ hành
giả tu Phật. Ta hăy quay lại tự
tâm đặt ngay lời Phật dạy với
vua là lời Phật dạy chính ta,
phải đặt ngay vua Vô Tránh Niệm
là tự chính tâm ḿnh để thâm
nhập nhận liền lời dạy của Phật.
Phật nói cho vua nghe như nói
chính với chúng ta đang nhận lấy
lời Ngài, tự đặt ḷng ta vào vị
trí này th́ vô cùng hoan hỷ, mọi
tà niệm sẽ tiêu tan, nên thu xếp
các tâm niệm bận rộn, nghe lại
tiếng ḷng (
Quán Thế Âm ) nuôi dưỡng lại
tự tánh, các vọng niệm thật sự
vắng lặng là tâm an được định,
sáng suốt thấy tất cả mười
phương trong tâm địa, từ cơi
Phật, Bồ Tát, La Hán, Duyên
Giác, Thinh Văn, A Tu La, Địa
Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Dùng
pháp nhăn chiếu soi thấy được sự
an lành cơi Cực Lạc, nơi đó có
những tâm niệm thiện lành đang
chiêm bái Phật (
chơn tâm ), sự thanh tịnh,
sáng suốt sẽ thấy được chính ta,
mỗi tâm niệm tượng trưng dân
trong nước của vua (
thấy biết c̣n niệm lăng xăng
) nên nói sắc thân không ngời
sáng, c̣n niệm vô minh nên trí
huệ c̣n non kém, đền đài cung
điện chỉ phước hữu lậu, tạm có
cơi nhân thiên luôn sanh diệt,
không thật, nên nói thô thiển.
Cung điện xứ Phật được kiến lập
bằng cây bảy báu, đó là pháp bảo
do những phương pháp sáng suốt
tập tu xây dựng gọi là Thất Bảo
; đức tánh thuần khiết là pháp
bảo được kết thành bởi công hạnh
của người tu là từ bi, hỷ xả,
giới, định, huệ, cơi trong sạch
này toàn những tâm niệm cao
thượng thiện lành, không có
tham, sân, si, năo loạn, niệm ác
cũng không sanh (v́
không sanh diệt nên nói không hề
có sự chết chóc).
Quan Đại Thần
Bảo Hải về dinh thự riêng. Vua
Vô Tránh Niệm hồi cung suốt đêm
không ngủ, hồi tưởng, tư duy xét
xem sự thanh tịnh các cơi Phật,
thành lập đại nguyện xây dựng
nước Phật cho chính ḿnh. Hôm
sau vua đến lễ bái Bồ Tát Bảo
Tạng xin chứng minh ngài phát
nguyện Bồ đề dù trăm ngàn kiếp
khổ khó, một ḷng thực hiện
quyết không thối chuyển.
Quan Bảo
Hải về dinh thự riêng, ư dạy ta
phải nhất tâm chỉ chuyên nhớ
Phật
( Phật nói đến tánh giác, nói
đến sự an định ) nên nói đến
NGÀI THẾ GIAN ĐỊNH TỰ TẠI VƯƠNG
NHƯ LAI. Vua suốt đêm không ngủ
là nhắc đến tự tánh đă tỉnh
thức, giác ngộ của người tu,
luôn luôn săn sóc tự tánh, xem
xét từng tâm niệm. Hồi cung là
quay vào tự tư duy, quán xét các
cơi nơi ḷng ḿnh, ĺa bỏ niệm
mê lầm, độc ác, tham, sân, si
phát Bồ đề tâm nguyện tu hành xa
ĺa mọi tội lỗi.
Đức Phật
Thích Ca thị hiện ra đời thuyết
pháp 49 năm có tám vạn bốn mươi
ngàn pháp môn, chính yếu là chỉ
cho chúng sinh mở cửa trí tuệ,
mở tuệ giác. Dù cho ta tu Tịnh
độ Tông, Thiền Tông, Thiên Thai
Tông, Pháp Hoa Tông mục đích là
mở tuệ giác, trí tuệ, nếu không
khai mở được tâm là tu mù. Trí
huệ là hào quang chiếu soi tự
tánh, ánh sáng quang minh thông
suốt hết những tâm niệm thiện
lành, hay độc ác, giúp con người
thấy được tự tâm, kiến lập Cực
Lạc an lành, hay sa đọa.
Chúng ta
hiện có mặt cơi Ta bà này, không
chỉ mới một lần, mà đă luân hồi
xoay ṿng sanh tử từ vô lượng
kiếp. Từ nơi tánh thanh tịnh
chơn như v́ một niệm bất giác mê
lầm tự chọn mà sinh khởi, niệm
này từ vô minh duyên theo ngoại
cảnh mượn thất t́nh lục dục làm
mạng sống nên niệm niệm liên tục
sanh tâm giận, buồn, thương,
ghét, yêu, ham muốn đó là khổ,
vui, lợi, hại, khen, chê, tốt,
xấu tám pháp này gọi là gió bát
phong, ta mê lầm nương vào đây
tạm mượn làm hơi thở, làm sự
sống mà Phật nói đó là vô
thường, huyễn ảo, không thật. Sự
vô thường này luôn sanh diệt,
nếu bất như ư th́ đau khổ, vui
trong giây phút v́ được quyền
lợi do nơi nhân quả phước họa vô
thường được rồi thua. Nếu được
khen tặng, ca tụng th́ duyên
theo âm thanh mà cho rằng ta tốt
đẹp sanh ḷng ngă mạn, kiêu
hănh, tự cao. Các pháp luôn biến
chuyển không dừng, nên đến việc
không như ư, nghịch duyên th́
sanh tâm phiền năo, đau khổ, oán
hận cuộc đời, hận người, ghét
cảnh, v́ những nguyên nhân này
là hạt giống chính ta nuôi dưỡng
măi không dừng, kết quả là đă
trồng cây phiền năo, sân, si vào
đất tâm lớn dần tươi tốt, bám
chặt gốc rễ vô minh đơm hoa, kết
quả, nên đời này sang kiếp khác
măi trầm luân cơi Ta bà khó mà
giác ngộ, thấy lại chơn tâm có
sẵn. Nên trong kinh Phật nói đến
thời Đức Nhiên Đăng Cổ Phật (
đó là hào quang sáng suốt, tự
nhiên của mỗi con người sẵn có
từ vô thủy vô chung bất cùng tận
đă tàng ẩn bởi bụi vô minh che
mờ, phủ kín “đèn trí tuệ” )
Tại sao ta
thường phải tôn thờ, chiêm bái,
lễ lạy, niệm Phật? Hăy tư duy
nghiệm xét cho rơ ràng.
Sự tôn thờ
lễ lạy h́nh tượng Phật, v́ là
h́nh ảnh tượng trưng để tạo niềm
tin cho ta tín
ngưỡng đặt niềm tin nhớ đến từng
đức hạnh, từng pháp tu, công đức
trùm khắp mà ngày nay thế gian
hết ḷng tôn kính, tôn thờ gọi
là Thế Tôn.
H́nh tượng
Phật do con người tạo nên là
phần vỏ bên ngoài là pháp hữu
vi, không bền chắc, là pháp thế
gian. Phần ruột bao gồm những
pháp xuất thế gian đó là 48 lời
nguyện. Nếu từ nơi mỗi người bất
cứ chúng sanh nào phát ḷng đại
nguyện, thực hành hết ḷng ǵn
giữ th́ sẽ văng sanh Cực Lạc,
trở lại Quốc độ an lành (
tự tánh chính ta kiến lập ).
Nếu muốn
chuyển hóa tự tánh phàm phu trở
về tự tánh Di Đà phải thành tựu
nhiều pháp sáng suốt, trí tuệ,
nghĩa là phải đầy đủ nguyện lực,
phải trọn niềm tin, mạng sống là
công hạnh tu hành giữ ǵn giới
luật, tạo vô lượng công đức.
Phật dạy người tu Tịnh Độ phải
đầy đủ Tam Tư Lương là TÍN
NGUYỆN HẠNH nên Ngài đă phát 48
lời nguyện làm gương cho tất cả
chúng ta. Trong chúng ta nếu
muốn về cơi Di Đà tại nơi tự
tánh cũng phát 48 lời nguyện như
Ngài để chuyển hóa độ hết chúng
sanh trong tự tâm chính ḿnh, đó
là những tâm niệm tham, sân, si,
độc ác, dục vọng tối tăm, mê
lầm, ô nhiễm, ích kỷ, hẹp ḥi
tất cả những niệm vô minh trở
nên thanh tịnh, sáng suốt vắng
lặng chiếu soi.
Điều nguyện thứ I, nếu con được
thành Phật mà trong cơi nước con
c̣n có địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh th́ con chẳng trụ ở ngôi
chánh giác.
Nguyện lời chư Phật độ v́
Nguyện lời thành thật hôm nay
mọi nhà
Nguyện hành như hạnh Thích Ca
Nguyện tu thành Phật không sa
ngục h́nh
Nguyện trừ ác đạo vô minh
Nguyện làm như thật tánh t́nh
Như Lai
Nguyện làm tâm đạo hôm nay
Nguyện cùng chư Phật tương lai
rạng ngời
Nguyện rằng Bồ Tát khắp nơi
Hành đạo chánh giác tuyệt vời độ
sanh
Nguyện làm tất cả điều lành
Nguyện tu thành Phật độ sanh
muôn loài
Nguyện rằng nghiệp chướng hôm
nay
Không c̣n ác đạo ngày ngày sửa
sang
Nguyện tu tâm nọ b́nh an
Nguyện tu thành Phật thế gian
hết phiền
Nguyện tu tâm trí hiện tiền
Nguyện làm Phật đạo hóa duyên
mọi nhà
Nguyện hành theo đạo Thích Ca
Nguyện làm tốt đẹp bá gia vui
mừng
Nguyện thành tâm Phật như mùa
xuân
Rọi toàn ánh sáng vô cùng vô
biên
Nguyện đời an lạc b́nh yên
Mọi người giác ngộ tâm thiền như
như
Nguyện trên Phật Tổ ḷng từ
Dạy truyền tất cả hôm nay đắc
thành
Tâm thanh cùng nguyện thực hành
Cúi đầu xin Phật, chúng sanh
thương nhờ
Tới đây xin tạm dứt lời
Chúc cầu Phật tử về đời nguyện
tu.
Sở dĩ có
lời nguyện trong nước không có
ác đạo, v́ con người sống măi
chạy theo vật chất của cuộc đời,
thường đua chen, đấu tranh,
lường lận, lợi dưỡng. Những ǵ
có mặt trên đời đều cố chấp cho
là của ta nên bất chấp không sợ
tội lỗi, quyết tâm chọn cái vô
thường, tạm bợ cứ ǵn giữ cho là
ta, các tâm niệm đó hoàn toàn do
tâm biến hiện. Sự giàu, nghèo,
sang, hèn, tốt, xấu đều không
thật, v́ lầm nên người mê bị
chúng lừa đảo, đây là những tâm
niệm, là nhân tạo nghiệp đưa ta
vào tam ác đạo. Người nuôi dưỡng
tâm niệm tham là nghiệp của cơi
ngạ quỷ đạo ; sống với niệm sân
hận, oán thù, hung ác là tạo
nghiệp cơi súc sinh đạo ; si mê,
mù quáng, tối tăm sống cùng tâm
niệm thấp hèn, ích kỷ là nghiệp
của địa ngục đạo, gọi là
Tam đồ khổ. Nếu ta cứ măi
đùa vui, nuôi dưỡng con đường
này th́ trong cơi nước (
đất
tâm
) có địa ngục, ngạ quỷ, súc
sinh. Chúng ta có nhiều tập khí,
nhiều tính toán, măi lăng xăng,
Phật nói đó là bệnh của chúng
sanh, gọi là nặng nghiệp. Ta
phải bỏ dần sự điên đảo th́ tâm
sẽ được thanh tịnh, nên quán sát
thật sâu để thấy được cảnh giới
của Đức Phật. Tu phải thấy được
nguồn tâm chính ḿnh, coi lại
những tham lam, ích kỷ, hẹp ḥi,
phải thường sáng suốt thấy nó
chuyển biến ra sao? Tu phải xác
định ngay tâm, không nh́n h́nh
tướng, giàu, nghèo, sang, hèn,
phải biết rơ tâm nào là tâm
Phật, tâm nào là tâm chúng sinh.
Tâm hiện tất cả sự thạnh suy,
thành bại của các pháp ta đang
mang thân người, nhưng sau khi
bỏ xác thân th́ chỉ c̣n pháp,
c̣n nghiệp chính do tâm tạo tác
thiện nghiệp, ác nghiệp hay
thanh tịnh, sáng suốt, giải
thoát tức là pháp từ bi trí huệ.
Vậy ta phải biết quy y Phật (niệm
Phật), quy y Pháp phải coi
lại pháp ta đang sử dụng là pháp
ǵ? Có từ bi, hỷ xả, bố thí,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí huệ hay c̣n pháp tham, sân,
si đó gọi là trạch pháp, v́ pháp
là mẹ sanh ra chư Phật, pháp là
nội tâm của Đức Phật c̣n tượng
Phật chỉ là h́nh tướng bên ngoài
do tâm con người tạo ra. Nếu
không có pháp th́ tượng Phật chỉ
là gỗ đá được tạo nên. Cho nên
khi lạy Phật ta phải sáng suốt
biết rằng ta không lễ lạy h́nh
tượng mà ta đang nhớ đến công
đức Phật, nhớ đến đức tánh cao
cả, vô thượng đức từ bi thương
chúng sanh hết ḷng khuyên dạy.
Ta học Phật phải biết pháp, nếu
không hiểu điều này sẽ trở thành
người học đạo mê mù vô ích.
Hiện nay là
thời mạt pháp chỉ c̣n pháp môn
Tịnh Độ nên ta phải quyết tu
học, phải phát đại thệ nguyện.
Phẩm thứ sáu
phát nguyện thành chánh đẳng
chánh giác tức là kiến tánh.
Kiến tánh có nghĩa là thấy lại
tâm tánh chính ḿnh, vậy ta hăy
quay lại coi tâm tánh ḿnh ra
sao? Có bao nhiêu ác, bao nhiêu
hiền lành, bao nhiêu sáng suốt,
bao nhiêu tham dục, bao nhiêu
sân si hận thù?
Ta cứ măi
chạy ra bên ngoài theo nhà cửa,
xe cộ, ruộng vườn, tài sản, danh
lợi thế gian. Ta muốn về cơi Cực
Lạc, điều cần nhất là phải niệm
Phật nhất tâm bất loạn, thấy lại
tâm tánh tự nơi ḿnh. Nếu như
măi măi làm chuyện bên ngoài là
bố thí, cúng dường, làm lễ trai
tăng, từ thiện, xây cất chùa,
nuôi Tăng Ni đó chỉ là phước hữu
lậu thế gian, nếu tâm vẫn c̣n
xấu xa, độc ác dù cho làm ǵ đi
nữa cũng không văng sanh Cực Lạc
được.
Kiến tánh là ǵ ?
Là người biết xét từng lời nói,
quay vào tự tánh sáng suốt rằng
khi lời nói thốt ra có làm hại
ai, khổ sở ai hoặc nói ra v́
thương yêu giúp đỡ, nói lời đạo
đức, lời nghĩa nhân (
nói theo lời Phật dạy ). C̣n
nói theo sự giận hờn, nóng nảy,
nói đại, nói càng là người không
biết nuôi dưỡng Phật tánh, không
thấy được tánh. Tổ Minh Đăng
Quang dạy :
Mở lời trước cạn xét suy
Rằng ta cất tiếng ích chi chăng
là
Bằng như lời nói thốt ra
Làm buồn kẻ khác th́ ta xin
đừng…
Người kiến
tánh khi nói năng hay làm việc
ǵ cũng cẩn thận. Ngày xưa ta
nói đùa, nói đại, thiếu ḍ xét,
nói bởn cợt bừa băi, nói càng,
nói điên đảo, nói độc ác. Nên
người có trí tuệ, trước khi nói
nên xét tâm thật sâu, nghĩ suy
cho kỹ, việc này mọi người đều
làm được. Việc kiểm tâm tánh là
việc làm của đệ tử Phật. Muốn
thực hành pháp môn của Như Lai
phải thường xem xét tâm, v́ mỗi
tâm hạnh thanh tịnh là mỗi tướng
tốt của Như Lai, vẻ đẹp là dùng
pháp trong sạch mà trang nghiêm
Quốc độ. Tất cả những pháp lành
được viên măn là Pháp Thân Tỳ Lô
Giá Na Phật, nghĩa là thanh tịnh
hoàn toàn. Mỗi tâm niệm đều sáng
suốt biết rơ đó là các pháp được
xâu kết lại trong sự an lành,
hạnh phúc, tự tại, giải thoát
tại nơi thế gian gọi là Thế Gian
Định Tự Tại Vương Như Lai, là
trang nghiêm 32 tướng tốt, 80 vẻ
đẹp trong mỗi con người, nếu
thực tu đúng giáo pháp chắc chắn
sẽ thành tựu được. Vị Tỳ Kheo
chơn chánh không phải bên ngoài
cạo tóc, đắp y mà phải dùng 250
giới Tăng, 348 giới Ni trang
nghiêm Quốc độ nơi tự tâm, nên
giới luật là vị Đạo Sư dẫn đường
cho vị tu hành đến bờ giải
thoát. Người cư sĩ không chỉ bên
ngoài tụng kinh, niệm Phật, làm
phước, bố thí, cúng dường, xây
tháp, nuôi Tăng Ni là đủ, mà
phải quay vào tâm tánh nhận biết
rơ ràng về Tam Quy, Ngũ Giới,
phải tôn kính ba ngôi
Phật–Pháp–Tăng, luôn luôn thường
sáng suốt, biết rơ năm giới mà
giữ ǵn làm thân mạng, nghĩa là
không sát sanh, không trộm cắp,
tham lam, không nói dối, không
tà dâm, không cờ bạc uống rượu.
Tam quy là quay về ba phương
pháp :
1. Quy y Phật :
Là quay về Phật Tánh chính ḿnh,
là tự tánh sẵn có vốn thanh tịnh
từ xưa nay. Bản chất là bổn lai
diện mục hằng sáng suốt không
nhiễm bởi một niệm khổ, vui,
thương, ghét, tham lam, sân si
nào cả, đó là căn bản hằng sáng
nơi tánh chơn như vắng lặng. Mọi
vọng tưởng trần lao là thế giới
vô nhiễm, vô ưu. Trong sự vắng
lặng này sẽ được sáng suốt bởi
trí tuệ biết vạn pháp đều thanh
tịnh, tùy duyên đến, tùy duyên
đi, không ràng buộc vào một ai.
Sở dĩ nói buông xả, giải thoát
v́ khi đối cảnh biến hiện sinh
pháp, căn duyên trần gặp thức
sanh tâm chấp thật nên niệm niệm
không dừng do vô minh nên sa đọa
vào lục đạo, đọa vào rừng mê.
Cho nên Phật dạy ta phải thường
niệm Phật tức là niệm trở lại tự
tánh chính ḿnh, để không dong
ruỗi theo tâm niệm mê lầm, tự
quy y Phật Tánh tại tâm ḿnh là
phương pháp tự quy y Phật.
2. Quy y pháp :
Tất cả mọi sự việc từ hoàn cảnh,
từ vật chất đến tinh thần, vô
h́nh hay hữu h́nh, có tướng hoặc
vô tướng đều gọi chung là pháp.
Nên Tổ dạy “Nhứt
thiết do tâm tạo, vạn pháp quy
tâm”, tất cả các pháp biến
hiện có không đều như huyễn, như
sương, như ảnh, như bóng, như
bọt, như điện chớp, không thật,
phải thật nhận ra rằng chính
thân ta cũng là pháp
( sắc pháp ). Nhà cửa, tài
sản, vợ chồng, con cái, cha mẹ,
người thân hiện tại đều là sắc
pháp, là vật chất hữu h́nh (
hữu h́nh hữu hoại ), đến sự
vui, buồn, thương, giận, ghét,
ưa (
pháp vô h́nh ) là pháp sanh
diệt. Những ǵ có sanh sẽ có
hoại nên luôn biến đổi, đều là
vô thường tạm có. Ta phải dùng
trí huệ Phật là Phật nhăn, nhận
biết tất cả vạn vật muôn loài,
mọi sinh hoạt trong cuộc sống
đều là pháp, với sự hiểu biết
này ta sẽ nhận ngay lời Phật dạy
những ǵ thành tựu đều là pháp.
Nếu biết muôn sự vật đều không
thật nên khi tan ră, hoại diệt
th́ sự sáng suốt biết nó không
thật, không thường c̣n, sự biết
này là định lực giúp ta an ổn,
tự tại buông xả các khổ đau.
Không tham ái, tiếc thương nên
người niệm Phật muốn được nhất
tâm bất loạn phải dùng sự sáng
suốt đúng như thật, biết rơ tất
cả đều là pháp đó mới là y pháp,
nên nói là tự quy y pháp.
3. Tự quy y Tăng
: Người an lạc phải tăng trưởng
sự thanh tịnh, phải ǵn giữ giới
luật, biết rơ mọi tâm niệm sinh
khởi trong tâm nguồn gốc là do
tham vọng, ái dục, tranh chấp,
mê đắm v́ tư lợi phát sanh. Với
những tà niệm này người tu nên
thường kiểm soát tâm, phải
chuyển hóa ngay sự lầm sai. Thực
hành sự vắng lặng tại tâm, không
khởi các niệm tà pháp. Niệm hiện
tiền là trí huệ sáng suốt nhận
rơ đây là vọng niệm, tà pháp, ác
niệm, điên đảo sinh khởi, nên
nói là chuyển mê thành giác,
chuyển niệm ma ra niệm Phật,
biến đổi tâm niệm địa ngục thành
tâm thanh tịnh gọi là Cực Lạc.
Thế giới Tịnh Độ trong sạch,
những niệm thô ác, g̣ nổng, ô
nhiễm đă thanh tịnh nên Phật nói
cơi Tịnh Độ không có kẻ xấu ác
mà chỉ toàn chư thiện nhân, chư
Bồ Tát và Thánh Chúng, đất trải
bằng vàng ṛng, đó là Quốc độ
tại tâm đă thanh tịnh của người
được gọi là Tăng.
Ngũ giới
không sát sanh, đạo Phật là
trọng về nhân quả, muôn loài ai
cũng quư mạng sống, mang nghiệp
súc sinh v́ mượn tâm niệm tham,
sân, si làm mạng mạch nên chịu
thọ nghiệp trong tam ác đạo.
Loài súc sinh tâm niệm khác nhau
nên mang nghiệp không đồng do ác
nghiệp không giống nhau. Như
nghiệp mang lông đội sừng, loài
bàng sanh đi hàng ngang, loài
trên bờ, loài dưới nước, có
những nghiệp mang thân súc sinh
mà cả đời phải chịu giam nhốt
trong lồng, trong chậu, hay bị
cột trói ; có loài phải đem thân
làm việc cho con người c̣n bị
roi đ̣n, đem thân mạng ra để tạo
ra tiền của cho con người thọ
hưởng, đó là sự trả vay nhân quả
không thể nói hết. Tất cả nói
chung là loài vật, đó là nghiệp
báo của từng tâm niệm điên đảo
mê lầm độc ác từ tâm mà tự nhận
lấy.
Con người
hiện có mặt trên cơi Ta Bà h́nh
tướng đều khác nhau. Cũng là
người nhưng không hoàn toàn
giống nhau v́ tâm niệm không
đồng, nên có kẻ giàu sang, người
nghèo khổ, tật nguyền, câm,
ngọng, điếc, mù ḷa, ngu si,
thông minh, trí tuệ, kẻ hung ác,
người thiện lành đây là do tâm
niệm mà sinh ra pháp, là do sự
tương ứng của tâm niệm mà hiện
tướng sai khác không đồng. Với
nhân là niệm sanh quả là tướng,
nên hiện nay người được đầy đủ
lục căn đă có duyên là pháp lữ,
từng giữ ǵn năm giới nên Phật
dạy ta không nên sát sanh hại
mạng, v́ mang nặng nghiệp do mê
lầm mà chịu mang thân loài súc
sinh có thể là thân bằng quyến
thuộc, cha mẹ, ông bà của ta
đang chịu quả báo. Nên được thân
người phải giữ năm giới, trong
đó có giới sát để không mang
niệm dữ, tạo nghiệp hận oán, thù
hằn chém giết lẫn nhau, v́ luật
nhân quả tự nhiên có vay th́
phải trả không hề thiên lệch.
Tránh được điều này khi tái sanh
qua đời khác, không c̣n sát phạt
lẫn nhau gây đau thương máu đỗ.
Tránh sát sanh được lợi ích cho
chính ḿnh và tất cả chúng sanh
nên ta phải quyết ḷng ǵn giữ
từng tâm niệm khi sinh khởi
trước khi phạm vào giới sát.
Trong kinh Phật dạy : “Bồ
tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”.
Ngừng nghiệp sát là nuôi dưỡng
tâm niệm của tánh đức từ bi, v́
sáng suốt biết rằng muôn loài
cũng như ta, cũng có tánh Phật,
họ trước kia cũng là con người
nhưng mê lầm bị sa đọa vào sự
khổ vô minh, phải t́m cách cứu
họ không nỡ sát hại, để hưởng
cái vui thú trong giây lát. Tất
cả nghiệp đều là pháp do tự tâm
niệm chính ta chiêu cảm mà có
quả báo khổ vui.
* Không tham lam trộm cắp
: nói về thế gian, tham lam trộm
cắp là phạm pháp sẽ bị trừng
phạt hiện tại đó là luật pháp.
Chỉ về nhân quả nơi tâm có rất
nhiều sự tham do tâm niệm phát
sinh, v́ mê lầm chấp thật rằng
mọi việc trên đời là ta, nên cố
nhận cha ta, mẹ ta, chồng ta, vợ
ta, con ta, tài sản vật chất của
ta, cái vui của ta, ta buồn, ta
thương, ta ghét, ta giận, ta
yêu, mọi pháp đều cho là ta, nên
Phật nói là chấp ngă. Nếu ai
đụng tới quyền lợi th́ ta đau
khổ. Tham cho ta, tham cho người
thân của ta, tâm niệm giữ ǵn
cái ta này đă ăn sâu v́ thói
quen từ vô lượng kiếp, v́ vô
minh măi niệm cái tham này nên
làm bất cứ mọi chuyện như lừa
đảo, trộm cắp, dối gạt, giành
giựt, đấu tranh để được lợi,
cung phụng cho cái thuộc về ta,
nếu không sáng suốt điều này th́
nghiệp tham do tà niệm mà tạo
tác gọi đó là phạm giới (
phạm pháp ), nên Phật dạy
muốn được thân người phải ǵn
giữ giới luật đây là giới thứ
hai trong ngũ giới cấm. Tội gian
dối, nói lừa đảo, đâm thọc, lợi
ḿnh, hại người, gây xích mích,
hận thù, đau khổ, phiền năo cho
nhau, là giới thứ tư mà Phật dạy
cho ta tỉnh giác.
V́ tâm nhiều
dâm dục, dục vọng tham sắc nên
niệm muốn, ưa thích, yêu, khi
tham vọng tràn đầy th́ bất chấp
hậu quả không c̣n nhớ đến nhân
nghĩa đạo đức nên giới này là
giới thứ ba mà Phật khuyên dạy
cho người giữ ngũ giới.
Không uống
rượu, cờ bạc v́ người say sưa
không làm chủ được bản thân, tâm
si mê cuồng loạn, điên đảo có
thể làm điều sát nhơn, hại mạng,
tự giết hại trí tuệ ḿnh, làm
đau khổ Phật tánh ḿnh, mà c̣n
đem đau khổ, phiền năo cho người
thân. Tự hại ḿnh đời này mà đến
đời sau không sáng suốt măi ch́m
sâu trong bóng tối, chẳng những
gây đau bệnh cho ḿnh, cho người
thân mà c̣n làm phiền cho xă
hội. Cờ gian bạc lận là tâm muốn
ăn thua, sát phạt lẫn nhau, khi
ngồi ṣng bạc chỉ c̣n giữ chặt
niệm hơn, thua, đấu tranh v́
tham vọng chất đầy trong tâm,
không c̣n nhớ việc nào ngoài
chuyện ăn thua, đó là nguyên
nhân hiện tại làm tan nhà nát
cửa, hại gia đ́nh. Nếu muốn làm
người tốt đẹp đời sau phải giữ
ǵn năm giới đó là nhân đạo.
Trong tâm
có tất cả, vạn pháp do tâm tạo.
Tất cả pháp thành tựu đều do
nhiều duyên hợp lại. Bồ Tát là
một danh từ, tên được gọi do Đức
Phật dùng làm phương tiện để chỉ
đến tâm giác ngộ của con người,
được kết lập bởi sáu pháp là lục
độ ba-la-mật gồm : Bố Thí, Tŕ
Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền
Định và Trí Huệ. Trong kinh biểu
tượng voi sáu ngà là chỉ đến cái
quư nhất của loài có tướng to
lớn (Tượng),
đó là đức hạnh của người cao
thượng là Đại Trượng Phu. Người
sống với sáu pháp này là Xuất
Trần Thượng Sĩ, đó là bậc Bồ Tát
nguyện độ khắp hết chúng sanh,
sự cứu giúp niệm Bố Thí của Bồ
Tát chỉ về tự tánh con người v́
mê lầm nên măi lưu giữ những tâm
niệm sa đọa, độc ác, giành giựt,
hơn thua, tranh chấp, gian xảo,
xấu xa… Nên chính nơi ta hăy là
Bồ Tát nơi tự tánh, dùng tâm
niệm từ bi với năng lực, trí huệ
chính ḿnh nơi đây đă có đầy đủ
ḷng thương yêu, sáng suốt, từ
bi, hỷ xả, có đủ đức tánh thiện,
có tâm niệm vị tha, từ ái. Ta
hăy là Bồ Tát tự cứu tất cả
chúng sanh tự nơi tâm ta c̣n đau
khổ đọa đày là những tâm niệm
tối tăm, mê muội, đọa lạc, lầm
sai. Bồ Tát dạy, ta hăy thật sự
bố thí, thí tất cả pháp hư vọng,
ảo ảnh, lầm chấp, tham đắm, thấp
hèn trở nên sáng suốt trí tuệ.
Bồ Tát dạy ta bố thí pháp là
phải nh́n thông suốt những pháp
mê vọng, loạn cuồng nơi tự tâm,
buông xả mà thí, loại bỏ những
pháp mê lầm, chấp trước từ lâu
đă che kín bởi vô minh phiền
năo. Các pháp này thành tựu bởi
niệm sanh, nên mỗi niệm gọi là
chúng sanh. Nhiều niệm chúng
sanh kiến lập thành một thế giới
chúng sanh là một cơi. Thế nên
trong tâm ta có vô số chúng sanh
không tính đếm được, Phật gọi là
vô lượng vô biên, tất cả chúng
sanh đều cần Bồ Tát giáo hóa.
Vậy ta hăy là Bồ Tát vào Quốc độ
chính tự tâm ta mà giáo hóa
chúng sanh nơi tự tâm ta, v́ tu
là phải trở lại chính ḿnh, tu
với chính ḿnh, trở lại bổn lai
diện mục (thấy
lại mặt mũi căn bổn của ḿnh),
tu tại tâm, sửa tại tâm, tự ta
cứu lấy ta, ma cũng ta, người
cũng ta, trời cũng ta, Bồ Tát do
ta, Phật tại tâm, tất cả đều lưu
xuất tại nguồn tâm. Ta hăy tu
tập làm Bồ Tát, làm Phật, làm
Thinh Văn, Duyên Giác, La Hán v́
Phật dạy rằng :
Ta làm được chúng sanh làm được,
Thánh với Phàm chỉ một bổn lai,
khác nhau kẻ tỉnh người mê, đời
này vẫn mê th́ làm sao ra khỏi
tam ác đạo được.
Không ai thương ḿnh bằng ḿnh
tự thương lấy ḿnh, hăy tự cứu
ḿnh. Cứu ḿnh là hằng ngày
tự biết kiểm tra tâm từng dấu
nét, từng niệm khởi. Kiểm một
ngày th́ sáng một ngày, hằng
kiểm tâm là hằng giác, nếu gián
đoạn là chợt tỉnh, chợt mê.
Người thường sử dụng tâm sáng
suốt gọi là Bồ Tát, độ chúng
sanh khắp mười phương Quốc độ
tức là độ chúng sanh tự tâm
chính ḿnh, mà không có chúng
sanh nào được độ. Đi cũng kiểm
tâm, nằm cũng kiểm tâm, làm công
việc cũng kiểm tâm, đây là Bồ
Tát chính ta độ chúng sanh tự
tâm ta. Phật đă sách tấn an ủi
ta rằng ví như một hồ nước lớn
mà dùng gào tát măi th́ cũng cạn
v́ vậy mà Bồ Tát nguyện độ tất
cả chúng sanh, nếu c̣n một chúng
sanh trong địa ngục thề không
thành chánh giác. Tất cả chúng
sanh trong tự tâm đều trọn thành
Phật đạo, đó là thực tướng sám
hối.
Pháp tu
thiền là tự ngồi kiểm tâm, pháp
niệm Phật cũng kiểm tâm, mục
đích hằng coi có c̣n Phật (chơn
giác) hay đang sống với vọng
ma (vọng
tưởng), là đang sống với
mộng tưởng lăng xăng, đó là điều
khó của người tu. Phải thấy rằng
nếu c̣n niệm độc ác trong tâm là
đất tâm đang nuôi dưỡng cọp,
beo, rắn độc, sói lang, tâm phải
thật trong sạch mới là tâm niệm
của Bồ Tát, nên trong kinh nói :
“Hóa Bồ Tát chúng vô cùng vô
biên”
“Độ sanh 48 lời nguyền”.
Tất cả những
vọng nghiệp sai lầm đều được
giáo hóa kết thành Bồ Tát chúng,
là ta đă tŕ giới, nhẫn nhục
kiên tŕ, tinh tấn vượt qua mọi
khó khăn, vượt lên khỏi thế
gian, ĺa mọi thói quen chất
chồng nhiều đời nhiều kiếp trải
qua bao lần sanh tử.
Niên qua mấy độ nở tàn ( sanh tử
)
Chủ nhân
(chơn tâm) khuất bóng trong màn
vô
minh.
( CLKS )
Hạnh Bồ
Tát là pháp, xuất sinh chính nơi
đức hạnh của ta. Ta là Bồ Tát
tánh, tự dạy dỗ tâm ta, tự hàng
phục tâm niệm ta, vận dụng năng
lực Bồ Tát nơi tự tánh, điều
phục ma chướng tự tâm. Bồ Tát tự
tâm luôn lắng nghe tiếng ḷng (
những niệm khổ ) đang đau
khổ, đang phiền năo, đang oán
than, Bồ Tát thị hiện khắp nơi
khi tâm điên đảo. Bồ Tát luôn
giáo hóa lục căn được thanh
tịnh, chuyển xoay tà nghiệp ḥa
nhập chơn như, dứt mọi suy nghĩ,
tính toán hơn thua, tham vọng,
muốn ham, mong cầu, van xin, hay
nhờ vả vào quyền lực nào, hoàn
toàn xả bỏ niệm ưa thích thế
gian với trí tuệ giác ngộ biết
tất cả đều là pháp không thật.
Phải hướng vào tâm, coi tâm hiện
là tâm đạo hay đời, tâm người,
trời, a-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh
hay tâm Bồ Tát, có tâm Phật hay
không ? Coi tâm lương thiện hay
độc ác, cần phải có thời gian
thật dài, ngày lẫn đêm phải chăm
chú tu học không lơi lỏng, phải
thường tu tập, nếu người thường
kiểm tâm sẽ được vô lượng công
đức, là người đă kiến tánh.
Người này sẽ được vô cùng an
lạc, vô cùng hạnh phúc cho chính
ḿnh và đem đến cho mọi người sự
b́nh an, cao thượng. Ta nên xét
kỹ cách tu hành cho đúng pháp và
chính xác. Nếu giữ được tâm
thường sáng suốt, trí tuệ là vô
lượng công đức. Nếu ta bố thí
bằng tấm ḷng bác ái, bằng ḷng
từ bi, hỷ xả, thương người là vô
lượng công đức. C̣n bố thí cúng
dường không được những tâm thanh
tịnh đó, c̣n mong cầu phước cho
ḿnh th́ phước đó hữu lậu, chẳng
được công đức, v́ tất cả phước
họa đều tại tâm. Tâm rất quan
trọng, nếu người tu học được
kiến tánh, th́ 48 lời nguyện của
Đức A Di Đà dạy cho ta mục đích
là thấy tánh. Nhờ sự sáng suốt
của nội tâm, chiếu soi vạn pháp,
không khởi niệm duyên theo ngoại
cảnh sanh tâm v́ theo cảnh sẽ
quên chơn tâm, bỏ tất cả tướng
là chơn thật tướng. Bỏ tướng bên
ngoài c̣n chơn tánh bên trong
gọi là thực tướng, là thấy Phật
(
thấy Phật dứt sanh tử ), tự
ta phải giáo dỗ tâm ta. Nên
trong kinh nói rằng thường giáo
hóa chúng sanh khắp mười phương
cơi nước. Ta phải thường an ủi,
dặn ḍ những tâm niệm giận hờn,
oán trách, chua ngoa cho quen
dần sự thanh tịnh. Phật nói rằng
nếu ai thường giáo hóa chúng
sanh là thường cúng dường vật
quư báu cho Phật. Nhưng Phật dạy
rằng, trong các pháp cúng dường,
cúng dường pháp là cao quư nhất.
Nếu có thiện tri thức dặn ḍ, an
ủi, chỉ dẫn cho ta đó là phước
báu lớn nhất, v́ người mê lầm sa
đọa rất khổ đau, nên người bố
thí pháp sẽ hóa giải được sự
phiền năo trở nên sáng suốt sanh
trí huệ. Ta phải tự độ tự tánh
ta, nên ngày xưa Lục Tổ nói với
Ngũ Tổ rằng : “Khi
mê th́ Thầy độ, giác ngộ rồi con
tự độ lấy con”, khi kiến
tánh rồi th́ tự tánh ta tự độ
lấy ta. Kiến tánh th́ sáng suốt
không c̣n đọa trong ba đường ác.
Có nghĩa là xưa kia ta tham,
sân, si, phiền năo, tự tánh ta
bị đọa đày trong đau khổ, nóng
nảy, bức rức, bất an như người
đi trong đêm tối, nay nhờ kiến
tánh, lần hồi bớt dần những xấu
ác, phát sinh trí huệ thù thắng,
không c̣n vướng mắc vào các cảnh
đau khổ, phiền năo nữa, gọi là
A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề (giải
thoát tất cả các sự khổ),
vậy người kiến
tánh không c̣n bị đọa trong tam
ác đạo (
ba đường ác ). Người đă kiến
tánh đă tự tại v́ sáng suốt tâm
không c̣n độc ác, ích kỷ, hận
thù nên không c̣n ở trong ác
đạo. Có ác đạo là do tự ta tạo
chớ không ai đày đọa ta cả, cũng
không có quyền lực nào cứu gỡ
ta, v́ luật nhân quả rất công
bằng. Người kiến tánh sống với
sự trong sáng tức đă văng sanh,
có nghĩa là các niệm tham, sân,
si, mê muội đă quá văng, không
c̣n sanh niệm lại nữa nên gọi là
vô sanh. Người mê lầm tạo ác đạo
th́ tự vào để sống với nghiệp tự
tạo, không ai giải quyết được.
Khi tâm niệm đă in sâu vào ác
đạo th́ tự nhận lấy, tất cả
thiện ác tự ta làm chủ lấy, v́
chính do ta tạo tác. Ở thế gian
nếu có người mang tội chịu án tử
h́nh, cũng chính do người ấy tạo
tội, tự ḿnh chịu lấy, không ai
có thể cầu xin, năn nỉ được cả.
Trời Phật không tạo thiện ác cho
ta mà chính do ta tự tạo, nên
không thể cầu xin, van lạy, nhờ
Phật trời ban phước hay giáng
họa cho ta được. Nếu người tâm
ác độc th́ khi chết địa ngục sẽ
bao trùm, c̣n người sống với tâm
trí huệ th́ tâm thênh thang rộng
lớn gọi là giải thoát tự tại.
Người đă tạo đầy đủ phước đức,
lúc sanh tiền đă tạo phước báu
vô lượng hiện tại nên gọi là đầy
đủ công đức, nếu sống được chánh
báo là nhân tại tâm, th́ sẽ có y
báo chính tại tâm ta đó là quả.
Cuộc sống hiện tại ở thế gian là
nơi ta xây dựng công đức, hay
tội lỗi chỉ ở tại thế gian v́
Phật dạy rằng : “Phật
pháp bất ly thế gian giác.
Ta giác ngộ được các pháp thế
gian, sáng suốt quyết định buông
xả hay vướng mắc tùy nơi tâm
niệm mà giác ngộ hay si mê, với
tự tánh giác biết được tâm đang
phiền năo th́ thức tỉnh buông xả
tức tâm bồ đề hiện tại. Mê muội
tạo tham, sân, si, độc ác, giết
người, hại người, lừa đảo th́ đă
tự tạo cho ḿnh khổ sở bất an.
Các pháp đều do nơi tâm tự tạo,
người kiến tánh thấy rơ các pháp
nên niệm không sanh, không niệm
vào ác đạo nên nói là văng sanh
Cực Lạc. Vậy trước khi tác ư,
hành động việc ǵ phải đo lường
hậu quả ra sao? Nếu như ta cứ
niệm Phật mà không thấy được các
niệm ác, tâm cứ duyên theo lấy
niệm ác này làm mạng sống, gọi
là tà mạng, th́ không thể văng
sanh, tâm vẫn c̣n niệm mê không
thể an lạc được, nên nói niệm
Phật mà không thành chánh giác.
Tại v́ sao? V́ không biết được
tâm chơn chánh niệm Phật, hay
chánh tri kiến niệm Phật, v́
miệng th́ niệm Phật mà tâm ḿnh
vẫn c̣n niệm ma. Nếu như có ai
chửi mắng, nói oan ức ta th́ lập
tức hăy quay vào tự tánh chính
ḿnh dùng trí huệ chiếu soi
xuyên suốt thấy được niệm có
khởi lên buồn, tức, đau khổ, trả
thù không? Phải tự nhận tại ḷng
rằng (Quán
Tự Tại Bồ Tát) nếu ta chửi
mắng trả lại th́ cả ta và người
đều khổ, sẽ là oan gia, thù hận
với nhau, biết rơ đây là ác
pháp, th́ cái biết này là trí
Phật là giác. C̣n như chưa thành
tựu được Phật trí, phải mượn câu
Nam Mô A Di Đà Phật để ngăn
chặn sân, si, phiền năo. Ta đă
sử dụng được trí Phật th́ sự
phiền năo chất chứa thù hằn nơi
tâm sẽ tan biến ngay. Nên ta
thường sống với trí Phật, khi
nghe thấy việc thế gian đều sáng
suốt giác biết xử lư tốt đẹp, an
ổn nên trong mười danh hiệu Phật
gọi là Thế Gian Giải. Trí Phật
khác với câu niệm Phật, v́ câu
niệm Phật là mượn phương tiện để
nương nhờ đến trí Phật, tự t́m
cách xử lư các niệm lăng xăng
nương vào câu niệm Phật chính là
nương pháp. Pháp môn Niệm Phật
là pháp, nên pháp là phương
tiện, là thuyền bè đưa ta đến
Phật trí (
giác ). Nếu tu hành dù cho
miệng niệm Phật mà không giải
quyết được sự buồn khổ, phiền
năo, tham, sân, si th́ đó vẫn
c̣n tà niệm cư trú nơi tâm ta,
vẫn c̣n sống với chúng địa ngục,
ngạ quỷ, súc sinh th́ vẫn c̣n
đau Khổ. Thế gian là đa niệm, đa
phiền năo, đa niệm giận hờn, đa
niệm chất chứa, đa niệm tham
đắm, đa niệm sân si, đa niệm
tranh giành, nên nói đến vua Vô
Tránh Niệm là phải tránh các ác
niệm, tránh mọi tranh đua, tránh
oán hờn, tránh niệm tham, sân,
si, tất cả niệm này đều vắng
lặng gọi là thanh tịnh. Tâm tịnh
tự quốc độ tịnh, nếu ở thế gian
mà không sống được tự tại th́
vẫn c̣n vướng vào mạng lưới vô
minh, mạng lưới vô h́nh nhưng
thật là chắc chắc.
Cho
nên dù ở thế gian bất cứ việc ǵ
ta cũng phải sử dụng tâm tự tại
dù cho:
Ai chửi mắng th́ ta giả điếc
Đợi cho người hết giận ta khuyên
Chữ nhẫn ḥa ta giữ đầu tiên
Th́ đâu có mang câu hờn oán
( CLKS ).
Người tu học
kiến tánh thường sanh trí huệ v́
tánh giác lúc nào cũng có sáng
suốt theo kèm, nên giác là Phật,
người kiến tánh ở đâu th́ Phật ở
đó, người đó nói th́ Phật nói.
C̣n như mất sáng suốt th́ Phật
nơi ta tịch diệt, ma sẽ hiện
tiền. Ta ở đâu th́ ma ở đó, ta
làm việc th́ ta làm việc gọi là
ma sự, ta phải ở trong trí huệ
sáng suốt. Trí huệ là ở tại tâm
ḿnh, tu tại tâm ḿnh, không nên
chạy kiếm t́m cầu ở đâu cả v́
Phật ở tại ḷng ta.
Vậy điều
nguyện trong nước không có ác
đạo, nếu ai muốn về thế giới Cực
Lạc là trong tâm người đó không
c̣n niệm ác đạo.
Vậy Cực Lạc ở đâu?
Ở tại tâm ta, v́ Niết Bàn do tâm
tạo. Tâm có đủ thế giới nhưng
xưa nay ta quen sống với thế
giới ác đạo, thế giới đó toàn cỏ
hoang, rắn rít, ḅ cạp đó là các
niệm súc sinh, hung ác ta chưa
dọn dẹp. Người tu là dọn tâm cho
sạch, là Tịnh Thổ nước Tây
phương, nước Bồ Đề, Cực Lạc, là
cơi toàn tâm niệm người trí tuệ,
đây là quốc độ tại tâm ta. Nếu
quốc độ chưa sạch sẽ, chưa trí
tuệ, chưa sáng suốt th́ ta phải
ra sức dọn dẹp, ta phải dọn niệm
ác (
tà niệm ). Người cư sĩ giữ
năm giới là nhân đạo, không giữ
năm điều này là ác đạo, nếu
trong tâm ta c̣n điều ác này th́
quốc độ của ác thú, ăn gian, ăn
giành, ăn giựt, nói dối, gian
xảo, tham lam, cờ bạc, rượu chè,
sát sanh, hại mạng, quốc độ đó
được tạo dựng th́ tâm niệm của
ta nếu không trí tuệ sáng suốt
th́ không gọi là Cực Lạc, Tây
Phương được. Ta phải trở vào tự
tánh t́m cho được quốc độ Tây
phương, cơi ấy tự nơi ḷng của
ta, là hiện đạo, v́ ngoài tâm
không có Phật nào khác cả, Phật
tức tâm, tâm tức Phật, ngoài tâm
không có thế giới nào cả (vạn
pháp quy tâm), ta nên coi
lại tự tâm có phải là thế giới
Cực Lạc? Nếu trong tâm không có
Cực Lạc (an
lạc) th́ không có thế giới
cực lạc nào ngoài tâm cả. Hướng
về quốc độ Cực lạc là hướng về
tự tâm. Nếu ta càng lễ lạy Phật
th́ càng phải sửa tâm, chớ không
lạy Phật mà cầu xin về Tây
phương, việc này không thể có
được, luôn luôn nhớ lời Phật dạy
là phải sửa tâm. Ta phải định
nghĩa rơ ràng tu là sửa, phải
đại tu là đại sửa, chữa hết các
tâm niệm mê lầm trở nên thông
thoáng, đối các pháp không vướng
bận vào niệm ác mới ĺa được cơi
ác đạo. Ta tự sửa sang quốc độ
trong tự tánh tức là tự trang
nghiêm quốc độ, phải thường có
những tâm niệm thiện lành sáng
suốt, dọn dẹp tự tâm. Nếu tu
không trở lại nguồn tâm, săn sóc
tu chỉnh tâm ḿnh, làm cho tâm
sáng suốt, trí tuệ th́ không
phải là đệ tử Phật. Dù có ở chùa
đó chỉ là vỏ bên ngoài, trí tuệ,
đạo đức là ruột mới đầy đủ viên
măn cho người tu hướng về Tây
phương Tịnh Độ, nguyện trong
nước không có ác đạo, nguyện
không đọa vào ba đường ác, quyết
tâm không khởi niệm độc ác,
không nghĩ đến điều bất chánh,
không nghĩ nhớ đến điều ác,
không dùng niệm thô ác làm mạng
sống nên nói là không sa đọa vào
ác đạo. Nếu khởi niệm ham muốn
là sa vào niệm măi không chuyển
đổi là đọa. Tiền bạc vật chất
thường quấy rối ta, quốc độ ta
phải tự giữ
lấy.
Đức Phật
thường biến hiện h́nh tướng bên
ngoài làm phương tiện để giáo
dạy chúng ta, khuyên nhắc ta
quay về tự tánh. Tại sao gọi là
tự tánh? V́ đó là tánh tự có sẵn
nơi mỗi người, nó tự chính nơi
ta, không ai cho được cả, không
ai đày đọa mà chỉ nơi ta xây
dựng bằng tâm niệm mà nên. Tự ta
độ lấy ta, tự ta bỏ thói hư tật
xấu chớ không ai bỏ cho ta cả.
Trở lại tự tánh xét từng tâm
niệm sáng suốt là ch́a khóa để
ta mở cửa kho tàng trí tuệ vô
tận chứa vô số pháp bảo không
thể nghĩ bàn.
Lời nguyện là ǵ ?
Nguyện là lời thề, chắc chắn
không thay đổi, quyết ḷng phát
xuất từ tự tâm sáng suốt nên lời
nguyện thứ I và thứ II là Phật
dạy chính chúng ta, phải nhất
tâm phát nguyện, hết sức giữ ǵn
bảo vệ tự nơi ḷng không thay
đổi, nguyện tại tâm không c̣n
niệm ác gọi là ĺa cơi ác đạo.
Nếu tâm hẹp ḥi, nhỏ bé th́ đó
là cơi của loài trùng, kiến,
muỗi ṃng cho nên ta phải chọn
tâm niệm cao thượng, rộng lớn
gọi là đại bi, trí tuệ, là ĺa
tất cả tướng mới là chơn thật
tướng. Quốc độ từ bi là vô lượng
vô biên trùm khắp, v́ tâm rộng
lớn nên nơi nào cũng đến độ
được, đó là tâm Bồ Tát. Phật nói
độ khắp chúng sinh trong mười
phương thế giới. Ta phải nhớ
rằng quốc độ sáng suốt, trí tuệ
là quốc độ của chư Phật. Quốc độ
u tối là của ma, tùy nơi tự tâm
mà biến hiện. Cực Lạc tự nơi ta,
địa ngục tự nơi ta, v́ tự tâm ta
có tất cả, tự tâm ta sanh muôn
pháp. Bồ Tát tự nơi ta, Phật tự
nơi ta, ma tự nơi ta, người tự
nơi ta.
Ta phải nương
vào kinh Phật v́ kinh là nguồn
tâm của Phật, bốn mươi tám lời
nguyện là pháp từ nguồn tâm của
Phật, mỗi lời kinh từ niệm sáng
suốt là một phần pháp thân Phật.
Nếu học tu theo Phật th́ phải
biết pháp v́ pháp là mẹ sinh ra
chư Phật. Tâm sáng suốt là quốc
độ chư Phật, ta phải dùng pháp
Phật mà soi rọi lại tâm và hiểu
rành nhân quả.
Nguyện thứ nhất tôi thành Phật
được
Th́ nước tôi là nước tịnh thanh
Ngục h́nh, ngạ quỉ, súc sanh
Thảy đều chẳng có sanh thành nơi
đây.
Nguyện thứ ba
: Nguyện thân có sắc vàng, bốn
nguyện có 32 tướng tốt, năm
nguyện thân không sai biệt.
Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni đă dùng thần
thông biến hiện tất cả pháp làm
phương tiện chỉ dạy cho tất cả
chúng sinh qua mọi sự tướng. Mục
đích của Ngài là dùng tướng để
chỉ tánh, ta phải hiểu thật sâu
vào mật ư của Ngài, không chấp
chặt vào h́nh tướng mà sai lệch
sự tu hành trở thành mê tín.
Ngài khéo diễn bày phương tiện
v́ sau khi chánh đẳng chánh giác
Ngài nói rằng đạo ta khó chỉ,
khó dạy nhưng v́ ḷng từ bi
thương xót chúng sanh măi luân
hồi hụp trồi nơi biển nghiệp nên
tùy theo căn cơ mà thuyết giáo.
Trong mỗi lời nguyện Ngài đều mở
đầu dạy : “Lúc
con làm Phật” là nhắc ta,
lúc ta làm việc phải ở trong
tánh giác, đang sử dụng các pháp
thiện hạnh như Từ bi hỷ xả, Bát
chánh đạo, Lục độ ba-la-mật là
ta đang làm Phật để giáo hóa
từng niệm trong tự tánh ta được
sáng suốt, đây là việc cần thiết
khi đọc tụng lời nguyện. Ta cần
chú ư cho thật rơ ràng, v́ từng
lời nguyện khi ta thông được là
con đường đưa tự tâm ta xa ĺa
không c̣n niệm vào ác đạo, tự
tại ngay ở thế gian liền an lạc.
Tâm sáng suốt, an định nên gọi
là Thế Gian Định Tự Tại Vương
Như Lai, đó là danh hiệu người
tu, tâm đă an định tại nơi thế
gian, v́ Phật pháp bất ly thế
gian giác. Tâm định chơn như bất
nhiễm không, dời đổi là Như Lai.
Pháp định tâm là lớn nhất, là
vua đứng đầu, chỉ định cho ta tu
tập phát sinh trí huệ. Tâm an ổn
quốc độ được trang nghiêm, cơi
nước tại tâm không có ác đạo (
ba đường ác ), tất cả niệm
niệm đều thanh tịnh, b́nh đẳng,
không c̣n nghĩ nhớ, không c̣n
niệm tỉnh, niệm mê nên gọi là
Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang
Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác
Kinh. Đại Thừa Vô Lượng Thọ là
xe lớn thọ nhận được tất cả
pháp, niệm niệm đều sáng suốt là
giác, kinh là từ trí tuệ qua lời
dạy của Đức Phật. Tất cả danh từ
trong kinh đều chỉ vào tự tánh
chính nơi tâm người, cần xét kỹ
tâm mới có thể thâm nhập kinh
tạng. Bởi v́ thời gian học Phật
của kiếp người rất ngắn, ta
không để mất thời gian mà uổng
phí kiếp làm được thân người.
“Khi
con làm Phật, tất cả chúng sinh
sanh vào nước con, đều tự biết
thấu thiện ác đă làm vô lượng
đời trước, có thể nh́n suốt,
nghe thông, biết
tận
sự việc ở trong 10 phương, ba
đời, không đặng nguyện này, thệ
không thành chánh giác”.
Ta phải ĺa các tướng, tuy dụng
tướng làm phương pháp dạy chúng
sanh, nhưng Phật đă cẩn thận sợ
ta lầm chấp tướng nên ngài nói
rằng.
Dĩ kiến sắc cầu ngă, dĩ âm thanh
cầu ngă, thị nhơn hành tà đạo,
bất năng kiến Như Lai. Có
nghĩa là nếu ai dùng h́nh thức
tướng như : cúng kiến, cầu xin,
cúng dường là những việc c̣n bên
ngoài mà mong thấy Phật là điều
không thể có, như vậy kinh này
dạy ta phải ĺa bỏ mọi h́nh
tướng, v́ sao ?
Phật
dạy tất cả tướng đều là hư vọng,
như bào ảnh, như điện chớp, như
bọt, như bóng, đều là hư huyễn,
không thật, như vậy nghĩa như
thế nào ? Nếu ai giàu th́ cũng
có người giàu hơn, cũng có lúc
nghèo không bền măi. Nhưng nghèo
cũng có khi phước đến th́ sẽ
giàu, v́ vậy nên nói không thật.
Con người từ bé đến lớn, trẻ th́
đến già, già th́ bệnh, bệnh th́
chết, chết sẽ tan hoại ; quyền
uy chức tước danh vị cũng vậy,
nhà cửa, xe cộ, đất đai, ruộng
vườn, danh lợi ở thế gian đều
không thật. Các pháp không trụ ở
vị trí nào nhất định cả nên Phật
nói đó là vô thường, đều qua các
trạng thái thành, trụ, hoại,
không hay sanh, già, bệnh, chết
đó là tứ khổ, bốn sự khổ của con
người. Nếu ta cứ măi chạy theo
tướng dù có đọc tụng kinh bao
nhiêu hay tu bất cứ pháp môn nào
đến vô lượng kiếp cũng không an
lạc, văng sanh được. Vậy muốn
hiểu kinh theo mật ư đúng chơn
lư của Phật phải nhớ lời Phật
dạy rằng : “Ĺa
các tướng mới là chơn thật tướng”,
ĺa tất cả chư tướng là tướng
nhân, tướng ngă, tướng chúng
sanh, tướng thọ giả, nếu nói đến
tướng người nhưng không thật là
người v́ sao? Phật dạy ta không
dựa vào h́nh tướng nào cả, mà
muốn chỉ ngay vào tự tánh con
người (
trực chỉ nhơn tâm ). Nếu là
con người mà tâm có chứa những
pháp tham lam, độc ác, sân si,
thù hận, ganh ghét, đầy tội lỗi
th́ bên ngoài tướng là người
nhưng bên trong pháp của nó là
ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục, ta
phải nh́n thẳng vào tâm, mới
thấy được tướng ba đường ác.
Không chấp vào tướng bên ngoài
v́ thân không bền, không thật mà
nghiệp nơi tâm thọ nhận là nguồn
gốc khổ đau. Nên chư Phật (
trí huệ sáng suốt nơi tự tánh
) có thần thông vừa nghe qua
liền biết ngay người đó đang ở
cơi nào, đó là thấy tâm người
chớ không chấp vào sự thấy
tướng. Thấy người giàu sang
nhưng Phật nói tuy giàu sang
nhưng không thật là giàu sang v́
các pháp sẽ biến đổi. Đến Như
Lai mà không gọi là Như Lai mới
thật Như Lai. Ta không thể nh́n
qua h́nh tướng bên ngoài mà nói
đó là Phật, cứ dựa theo tướng
bên ngoài qua việc thờ phượng do
con người tạo lập nói là Phật là
phỉ báng Như Lai. Những vẻ đẹp
của ảnh tượng do con người sơn
phết, trang điểm là sự tạo dựng
bằng chất liệu tạm giả của thế
gian, v́ việc sinh sống, lợi lạc
không thể cho đó là Phật được
hoặc ai có xưng danh là Như Lai
đều lừa ta cả. Ta phải xác định
rơ rằng, Phật Thích Ca v́ có trí
huệ là Tam Tạng Kinh điển được
xây dựng bằng Đức Tánh Từ Bi, là
ḷng thương yêu muôn loài, là
đức độ siêu phàm, đại từ, đại
bi, đại hỷ, đại xả nên khi lễ
lạy Phật ta không quyết định
ngoài tượng Phật, v́ tượng h́nh
chỉ là pháp tượng trưng ; ta
phải hướng ngay vào công đức,
vào trí tuệ, vào sự sáng suốt vô
lượng từ nơi hào quang Phật, vào
sự trang nghiêm từ công đức Phật
được kết thành bởi mười danh
hiệu Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Con người không thật là sau khi
bỏ xác thân, th́ không c̣n là
người nữa. Nếu ai làm ác do tâm
tạo tác th́ sau khi bỏ xác thân
sẽ đọa vào ác đạo là ngạ quỷ,
súc sanh, địa ngục nên không
phải là người, vậy nên người
không thật. Nếu ta tu thập thiện
giữ 10 giới tại tâm, sau khi bỏ
thân th́ tâm này là đức độ của
10 giới nên được sanh Thiên,
không phải do thân sanh mà pháp
được thành tựu theo niệm mà có
nhân quả, tâm là chánh báo th́ y
báo ngay nơi tâm. Như người được
giàu sang mà không phải là người
giàu sang, v́ hạnh Đức là hành
động của giới pháp Thập Thiện
nên tự nơi pháp Thập Thiện mà có
giàu sang. Con người chỉ là dụng
cụ để pháp nương mà sanh có hành
động, có phương pháp ta mới làm
giàu, nên sự giàu này là pháp
chớ c̣n người không có giàu
nghèo. Pháp là do phước hay họa
mà thành, tất cả đều là pháp.
Như có người cho là tài giỏi th́
sự tài giỏi này có từ trí thông
minh sáng suốt, nếu không có trí
th́ con người đần độn, không nói
là tài giỏi được, nên mọi việc
được thành tựu đều là pháp,
không có tướng nào thật cả. Trí
huệ là chơn thật, không bị hoại
diệt, giàu sang sẽ diệt, trẻ già
chết sẽ diệt, khổ vui sẽ diệt,
đẹp xấu sẽ diệt. Nên Phật dạy ta
tu phải sáng suốt trở về chơn
thật tướng, là tướng trí huệ,
tướng sáng suốt, tướng không bị
vô minh che lấp v́ tất cả tướng
đều là pháp, nên tướng nhân là
tướng người là không thật. Nếu
nh́n bên ngoài cho là thật người
mà không thấy được sự thành trụ
hoại diệt của các tướng, cứ chấp
thật vào sự thấy phàm phu, là ta
bị điên đảo, v́ giàu sang nghèo
hèn nếu thấy được bằng trí biết
họ tạm mượn pháp của thời quá
khứ, tượng trưng bằng h́nh dáng
con người, Phật gọi là hóa thân
tạm sử dụng pháp giàu, nghèo. Ta
thường có tâm thương ghét với
người xuất gia v́ nhận qua tướng
ưa thích hay không ưa thích. Nếu
ai làm vừa ḷng th́ thương, hay
thấy họ tu mà nghèo th́ tội
nghiệp, nghèo giàu chỉ là pháp
do phước hay không phước mà nên.
Ta phải coi tự tánh người đó có
phải là tánh Phật hay không? Nếu
nh́n người xuất gia qua h́nh
tướng cạo tóc, mặc y pháp cho là
người tu là sai lệch với chơn
lư. Ngày xưa Phật nói với Ngài A
Nan “Nếu
ông ở gần bên ta mà không sống
được với chơn lư th́ như cách xa
ta ngàn dặm, c̣n như người cách
xa ta ngàn dặm mà thông suốt
giáo lư thực hành sáng suốt sống
với chân lư, tuy cách xa ta
nhưng như đang ở gần ta vậy”.
Người hiểu được chơn lư Như Lai,
sống với chơn lư làm lợi ích cho
chúng sanh, nếu cứ theo tướng
bên ngoài chỉ làm việc thế gian,
không ích lợi ǵ cho Phật Pháp
cả. Phật nói rất rơ, sau thời kỳ
mạt pháp chỉ c̣n Kinh Phật
Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh
Đẳng Giác Kinh chỉ c̣n 100 năm
th́ mạt pháp, v́ sao? V́ người
tu theo pháp niệm Phật chỉ hăng
hái một thời gian sẽ nản chí,
không c̣n tin v́ măi niệm Phật,
nghĩ đến cầu xin cho được phước,
việc nào cũng hy vọng, mang tâm
niệm cầu xin Phật, không được
như ư muốn th́ chán nản, chỉ có
người tu có trí huệ xa ĺa được
các niệm ác. Tâm được tự tại, an
ổn, thảnh thơi mới c̣n lưu giữ
giáo pháp nơi ḷng mà tôn thờ,
kính bái. Đây mới gọi là thời kỳ
lựa tuyển, nếu ai là con Phật
th́ sẽ tự nhận ngay, chỉ c̣n một
số ít tu đúng theo giáo lư Phật
nên nói rằng “Bổn
đạo đông chở xuồng dong không
đầy”. Nếu măi tu theo bên
ngoài th́ chúng sanh vẫn là
chúng sanh v́ tâm không tức
Phật. Nếu không giác ngộ được
tướng thứ nhất th́ măi măi lầm
đường lạc lối. Vậy nên thế gian
không có tướng nào thật cả.
Nếu ta không sống bằng tướng chớ
sống bằng ǵ?
Phải biết rơ, chúng ta thường
sống bằng niệm, cứ măi nghĩ nhớ
hết niệm này đến niệm nọ, lấy đó
làm mạng sống của ta hằng ngày.
Đức Phật v́ biết ta măi niệm
nghĩ nhớ chuyện thế gian nên gọi
là phàm phu tục tử, luôn nhớ đến
pháp hưởng thụ ăn, ngủ, vui,
chơi, mặc đẹp, được sung sướng,
đua đ̣i đó là những tà niệm hằng
ngày của ta không dừng nghĩ nhớ,
đến khi bỏ thân xác là chết vẫn
c̣n mang niệm nghĩ nhớ đến tài
sản, con cái, người thân là vẫn
c̣n niệm tưởng thế gian. Có khi
niệm hận thù, oán ghét, căm hận
nên niệm đó là tà pháp, là ma
đ̣i nợ trả thù, đ̣i ăn v.v… đó
là vẫn c̣n niệm tưởng không dứt,
niệm vào cơi tam ác đạo. V́ măi
sống trong niệm tưởng nên Phật
dạy, ta hăy bỏ niệm tưởng thế
gian mà nhất tâm niệm nhớ Phật,
niệm Phật đó là niệm giác, tức
là chánh đẳng chánh giác. Từ xưa
nay v́ mê lầm không biết, cứ
chạy theo tiền tài, danh lợi, ăn
uống, mê ngủ đó là
tài, sắc, danh, thực, thùy, là
năm dục trong kinh Phật dạy, v́
lẽ đó ngăn che nên ta không thể
thâm nhập được tạng kinh bí
yếu
này. Nếu ai nghe hiểu được kinh
này là thâm nhập được giáo pháp
đại thừa vô lượng nghĩa, không
nghe hiểu được kinh này v́ tâm
c̣n chao động, chưa an định khó
mà thông suốt.
Nếu nói
sống không có người th́ sống
bằng ǵ? Nếu nói là ơn th́ chỉ
là t́nh cảm bên ngoài, đó không
phải là giải thoát. Giải thoát
là khi đối diện c̣n giao tiếp
qua lại ở thế gian, nhưng khi bỏ
thân nếu tạo nghiệp báo chỉ ḿnh
ta chịu, v́ ai ăn nấy no, ai tu
nấy sáng, ai tạo phước th́ tự
hưởng, tạo tội lỗi th́ đọa tam
ác đạo, luật nhân quả nghiêm
minh, không ai có thể thay thế
hay cứu giúp được, nên Phật dạy
“Ta
không ban phước hay giáng họa
cho ai cả”. Đến ngày chết
chỉ có ḿnh ta nếu lúc c̣n sống
không tự lực tu hành cứ măi cầu
xin, nương dựa đó là tư tưởng
sai lầm, mà Phật nói “cất
nhà trên hư không”. Ta không
thể dựa vào đâu, Phật dạy “Các
ông không dựa vào ai cả, hăy tự
tạo cho ḿnh một ḥn đảo”.
Người thế gian cứ tưởng dựa vào
cha mẹ, anh em, chồng vợ là bền
chắc, là hạnh phúc, nghĩ là có
uy quyền chức tước là tất cả.
Nhưng đến khi nhắm mắt không c̣n
ǵ, chỉ con nương dựa vào Tam
Bảo, trí tuệ sáng suốt nếu biết
nương tựa vào đó th́ khi ra đi
đă có tư lương, làm lương thực
của sự hiểu biết riêng, làm hành
trang an ổn, là vốn liếng trí
tuệ chính nơi ta đă xây dựng từ
chơn lư tu tập, như vậy đă ĺa
được tướng thế gian.
Người tu
không nương tựa ai cả, nếu người
giàu cứ nương tựa vào con cháu,
chỉ trong thời gian giới hạn
cũng sẽ bỏ lại mà ra đi một
ḿnh, không nương măi được, phải
ĺa các tướng mà sống bằng năng
lực của ḿnh, nên khi bỏ xác
thân, có sự an lạc tại tâm như
cởi áo mùa Hạ mặc áo mùa Đông
rất tự tại. V́ quen trụ vào
tướng nhân là cha mẹ, anh em,
chồng vợ v.v… nên măi vướng mắc
chịu khổ đau. Tướng ngă là chấp
vào tôi, tôi thương, tôi ghét,
tôi không vừa ḷng, tôi đẹp, tôi
xấu, tôi buồn, tôi vui, tôi sang
giàu, tôi hạnh phúc … đó là ngă,
phải sáng suốt biết ta đang niệm
về tôi. Tổ Minh Đăng Quang dạy :
Sao sao sao cũng là sao
Sao sao cũng đặng thế nào cũng
xong
Tâm không vạn sự đều không
Tâm chơn vạn pháp thảy đồng quy
chơn
Học đ̣i theo bậc Thánh Nhơn
Phải trừ tâm vọng mới hườn bổn
nguyên.
Vậy tâm
vọng tức là tâm chấp ngă, phiền
năo, giận hờn, v́ chấp vào đây
nên suốt đời quẩn quanh cơi ác
đạo. Ta phải ra khỏi cơi này
nghĩa là buông xả, không c̣n
nghĩ nhớ niệm đến nữa. Ta cứ
nghĩ xuống cơi thế gian là bị
đày hoặc được rước về cơi Phật,
cơi Trời, thật là sai lầm, v́
thực tế khi làm ǵ ta cũng khởi
niệm từ nơi tác ư. Việc này
chính nơi tâm niệm ta tự tạo,
mọi suy nghĩ phát ra hành động
đều do tâm niệm cả, không ai sắp
đặt mà do tự tâm ta vậy. Có
phiền năo cũng do nơi ta niệm
đến ; an ổn, Niết Bàn cũng do
niệm tạo ra ; chồng vợ do niệm
thương yêu tạo ra, con cái do
niệm khởi ái tạo ra. Nên ta tự
xét tâm nếu c̣n tạo ra tham,
sân, si th́ c̣n tạo ra ác nghiệp
trong ba đường ác, là c̣n tạo
lẩn quẩn vào thế giới ta bà sinh
tử. Như không c̣n tham muốn chấp
sự nuôi dưỡng cho ngă th́ vô ngă
v́ cho là có nên nói niệm dựa
vào tiền bạc, dựa vào con người,
t́nh yêu để phục vụ cho cái tôi.
Nếu không có ngă (
tôi ), không chấp vào thân
th́ không đ̣i hỏi cái ǵ cả. Nếu
thân là mượn tạm thời chỉ là sắc
pháp biết sẽ tan hoại th́ tâm sẽ
rảnh rang, không niệm vướng trụ
vào pháp nào cả. Nếu c̣n ngă th́
bận bịu vô cùng, cho là nhà tôi,
con tôi, cha mẹ, người thân yêu
của tôi, tiền bạc của tôi, nếu
c̣n ǵ của tôi đều ràng buộc.
Nên kinh dạy về các cơi nước
trong tâm là muốn chỉ cách cho
ta buông xả các niệm thuộc về
tôi, không niệm nhớ nữa, mới
rảnh rang dứt niệm, mới tự tại
văng sanh, không c̣n niệm tới
lui trong ba đường ác là cơi
không ác đạo. Phật dạy các pháp
thành tựu đều do duyên hợp lại
mà thành, là do niệm mà sinh tạo
thành pháp. Nếu bỏ cái vỏ bên
ngoài là thân th́ cái ǵ là ta,
từng tâm niệm là cái lăng xăng,
ham muốn, đ̣i hỏi, nó dẫn dắt
tâm ta vào mọi cảnh giới nên tâm
không yên, không định, nên không
có thế giới Cực Lạc tại tâm. Các
niệm dẫn dắt đến quốc độ nào
cũng trụ, cũng vướng mắc gọi là
niệm dẫn chúng sanh. Niệm dẫn
đến chỗ sa đọa là cờ bạc, rượu
chè trát tán, hung ác, đấu
tranh, giết hại nghiệp dẫn đến
si mê. Nghiệp này do ta tích tụ
từ bao đời đầy ấp trong tâm trí,
không sáng suốt nên không thấy
được các chúng sanh, gọi là
không kiến tánh, tức là không
thấy được tâm. Chỉ biết việc bên
ngoài là dục vọng, ham muốn,
tưởng là bền thật, các pháp vô
thường trong sự có không măi
trôi dạt lênh đênh nơi biển đời
khổ ải. Ngũ Tổ dạy, nếu tu mà
suốt đời không thấy được tâm th́
vô ích v́ Phật tức tâm, không
thấy tâm th́ không thấy Phật,
nếu thấy tâm thênh thang sáng
suốt trí tuệ th́ đồng như tâm
Phật. Như tâm chưa được tương
ưng th́ c̣n cách Phật rất xa,
nếu tâm không tương ưng th́ cầu
Phật làm ǵ? Nếu học kinh phải
ĺa được tướng ngă mới thâm nhập
sáng suốt kinh Phật, hiểu được
thâm ư Phật dạy. Nếu không hiểu
kinh th́ chỉ tu đối đăi vừa ḷng
ở thế gian là cầu an, cầu siêu,
trai Tăng, cúng dường, cúng sao
hạn, không cứu được tâm v́ vẫn
c̣n chấp chứa những phiền năo,
chưa buông xả được nên mê muội
vẫn là mê muội, chưa chuyển hóa
được ác nghiệp.
Phật đặt
tên là chúng sanh, với danh từ
này ta phải biết ai sinh ra
chúng, trong tâm ta hằng ngày
sanh ra vô lượng niệm nên gọi là
chúng sanh. Thức cũng sanh, ngủ
cũng sanh, đến chết cũng c̣n ôm
niệm giữ không ĺa, v́ niệm niệm
liên tục sinh khởi không dừng,
rất đông nên gọi là chúng sanh.
Ta thường sanh niệm thương,
ghét, đ̣i hỏi từ trong tâm mà
sanh ra đó là chúng sanh, nên
trong kinh nói : “Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ”.
Vậy ai độ chúng sanh? Chỉ có trí
tuệ sáng suốt tự nơi ta, tự độ
chúng sanh trong tâm ta. Nếu khi
nóng giận, sân si sinh khởi (đó
là niệm chúng sanh) ta liền
giác (
tánh giác đó là Bồ Tát )
biết đang nóng giận, sân si liền
buông xả không niệm th́ ngay đó
niệm không sinh. Nếu thấy được
niệm sân si, độc ác, tội lỗi nội
tâm mà vô niệm (không
niệm) th́ ta đă trở lại
chính ḿnh (chơn
tâm). Nếu ánh sáng trí tuệ
tự chiếu soi vào tâm thấy được
sự ô nhiễm, tội lỗi, không duyên
theo nên các pháp ấy đă diệt trừ
(
phiền năo tức Bồ đề ). Ta
phải nuôi dưỡng từng tâm niệm
cho trong sạch, là phục vụ chúng
sinh, không để cho chúng sinh
đau khổ, u mê, các chúng sinh
lần lần sáng tỏ, giác ngộ nên
nói là cúng dường chư Phật, v́
không c̣n độc ác tội lỗi nữa gọi
là Bồ tát thường giáo hóa chúng
sanh.
Trong Kinh
Di Đà được Phật diễn tả là cơi
Cực Lạc (
tâm cùng cực an lạc ) có vô
số chư Bồ Tát, vô số Thinh Văn,
Duyên Giác, La Hán hằng ngày hái
hoa cúng dường chư Phật (cúng
dường những niệm mê lầm được
giác ngộ sáng suốt gọi là chư
Phật v́ Phật là giác), không
phải hoa thế gian mà là hoa trí
tuệ, v́ hằng ngày thường đem trí
huệ phục vụ cho các chúng sanh
càng lớn đạo đức trí huệ hết
sạch niệm mê lầm, trí huệ trùm
khắp không gian và thời gian,
không chen một giờ phút niệm mê
lầm nữa, đó là cúng dường chư
Phật vô số ở mười phương cơi
nước. Ta phải nuôi dưỡng chúng
sinh tự tâm mỗi ngày thêm lớn sự
sáng suốt, nuôi bằng trí tuệ
chính của ta, trong kinh Phật
nói là cúng dường cơm (hương
tích). Ăn toàn trí huệ sáng
suốt, không để chúng sinh ta ăn
trộm, ăn cướp, ăn gian, ăn lận,
ăn lừa, ăn đảo, ăn mạng, phải ăn
bằng hương thơm trí huệ. Tâm
được nuôi dưỡng sáng suốt trí
huệ là cúng dường vô lượng chúng
sanh, vô lượng công đức, đó là
danh hiệu Đức Di Đà. Nếu càng
nuôi dưỡng chúng sinh bằng trí
huệ th́ tự tánh ta càng thêm
rộng lớn, sự hiểu biết đó là
Phật lực của người tu, là Bồ Tát
bất thối, rất sung măn.
Ta biết thọ
dụng bằng trí huệ mới là chơn
thật, c̣n như thọ những vật dụng
ở thế gian th́ chỉ có giới hạn.
Thọ thân là giả nên sẽ hư hoại,
t́nh yêu cũng thay đổi v́ tâm
người mê muội gọi là vô thường,
lúc thương, lúc giận, tiền của
cũng theo phước duyên lúc giàu,
lúc nghèo nên không thật, sự thọ
dụng thế gian đều không thật.
Nếu ta ĺa được bốn tướng th́ sẽ
thọ dụng được trí huệ, tại chơn
tâm tự tánh.
Phật dạy
rằng “nhược
kiến chư tướng phi tướng tức
kiến Như Lai”. Có nghĩa là
khi thấy sắc ta không đắm nhiễm
là không đọa vào sắc, không thọ
dụng. Thấy vàng bạc mà không
sanh tâm, ĺa bỏ, không niệm ưa
thích th́ chơn tâm đă thanh
tịnh, đó là giác ( Phật ). Nếu
không ĺa được là ma, nên đệ tử
Phật đă an định không c̣n lăng
xăng với tà pháp gọi là Thế Gian
Định Tự Tại Vương Như Lai. Dù ở
thế gian không vướng bận niệm
thế gian là thỏng tay vào chợ, ở
trong chợ đời mà không vướng bận
cuộc đời, tự nhiên, tự tại, nếu
c̣n trong bốn tướng th́ c̣n điên
đảo. Ta phải tự kiểm điểm bản
tâm ta, nếu muốn thâm nhập tạng
kinh bí yếu Vô Lượng Thọ hay vào
pháp tánh Như Lai, muốn vào thế
giới Cực Lạc phải kiến giải rằng
ta không mang tiền của về Cực
Lạc được, không mang con cái, vợ
chồng, đem sự hơn thua, tranh
đấu về được, không đem bất cứ
vật ǵ về được, nên không ôm giữ
măi chỉ khổ lụy cho tâm ta. Điều
này rất khó nên Phật có thí dụ
rằng, nếu dắt con trâu đi qua lỗ
kim c̣n dễ hơn chỉ cho người
kiến tánh thấy lại chơn tâm. Ta
phải bỏ tướng tham nhân, tham
ngă, tham thọ giả, tham chúng
sanh, nếu sáng suốt điều này mới
văng sanh Cực Lạc được.
Nguyện thân có sắc vàng ṛng,
chỉ đến vật quư ở thế gian là
vàng, là chỉ đến niệm cao quư,
tâm cao quư y như vàng ṛng
không xen lộn, ô nhiễm bởi tạp
chất ; chỉ tâm không c̣n vướng
bận niệm thế gian, là tướng
nhân, ngă, chúng sanh thọ giả là
c̣n tham đắm, đó là c̣n đ̣i hỏi,
thích ưa, những điều này là bợn
nhơ làm vàng, không phải là vàng
ṛng thực chất được. Ư này muốn
chỉ về tâm, không vướng mắc,
không ô nhiễm, nếu tâm không c̣n
niệm nhớ vướng mắc vào tài sản,
t́nh yêu… là rảnh rang mọi thế
sự. Thệ nguyện nơi tự tánh tâm
là vàng ṛng, quyết định phải
làm được, nguyện sống suốt đời
lấy chơn lư Phật làm mạng sống (chánh
mạng) dù đến giờ chết cũng
giữ chơn lư măi măi không rời
gọi là hằng giác (chánh
niệm). C̣n nguyện bằng cửa
miệng mà không có tâm nguyện th́
chỉ là h́nh tướng bên ngoài,
không đúng là tâm nguyện. Nguyện
được bằng tâm là chơn chánh niệm
Phật, là sống được với tự tánh
Di Đà vô biệt niệm, đă tương ưng
cùng thế giới chư Phật. Đă văng
sanh v́ không c̣n sanh lại niệm
mê lầm của thế gian là vô sanh,
không c̣n sanh tâm niệm hướng
vào lục đạo, không vào lục đạo
là hết ham muốn là thiểu dục tri
túc, v́ không c̣n ngă th́ cái
ham muốn này chẳng cho ai cả.
C̣n lo lắng cho người thân là
c̣n tướng nhân c̣n thọ giả, phải
thật hiểu biết sáng suốt mới ra
khỏi bốn tướng này. Mắt ta vẫn
thấy, vẫn biết tất cả nhưng
không niệm trụ sanh tâm vướng
mắc vào là đă giác (Phật). Phật
là tánh giác nên trước tượng
Phật là h́nh tượng ta cũng không
chấp vào đó là Phật, mà phải xác
định rơ ràng, sáng suốt, phải
hằng giác, không c̣n tâm vướng
bận pháp thế gian đó là vô lượng
công đức Phật, cũng như phải
thấy được tánh giác chính ta là
Phật. C̣n h́nh tướng Phật thế
gian chỉ do con người tạo ra
bằng huyễn xảo thế gian, đó là
sự tượng trưng bằng tâm con
người mà có. Tất cả các pháp
thuộc về thế gian qua h́nh tướng
đều như huyễn, ta chỉ nương vào
pháp với sự tín ngưỡng tạm thời,
muốn giác ngộ phải tự tuy y Phật
Tánh tại tâm ḿnh.
“Nguyện
có 32 tướng tốt”, không phải
tướng bên ngoài là lỗ tai dài,
tay quá gối, chân mày trắng, v́
những hiện tướng này Đức Phật
muốn nói lên để diễn bày sự sáng
suốt của trí tuệ, nếu người tu
không dính mắc vào danh lợi,
chức quyền, sắc đẹp, nam nữ,
giàu nghèo… là tương ưng cùng 32
tướng tốt, tướng tốt không bị ô
nhiễm vào pháp thế gian đă được
trang nghiêm bằng trí tuệ bằng
đạo đức thanh tịnh.
Nguyện thân không sai biệt, niệm
niệm đều y nhau, toàn vàng ṛng
không xen lẫn, toàn giác, không
c̣n chợt tỉnh, chợt mê, không
phân biệt sự tốt xấu, không niệm
ǵ là của người hay của ta cả,
tất cả niệm tâm vốn đồng, đều là
pháp, không ǵ là của tôi.
Con người cho là tôi nhưng khi
rời ră trở lại với thất đại th́
không có ǵ là tôi cả. Tất cả
tướng không là tôi th́ không c̣n
sai biệt. Nếu có giàu, nghèo,
tốt, xấu, c̣n nam, c̣n nữ, c̣n
hơn thua, phải quấy, c̣n kỳ thị
lẫn nhau, là c̣n sai biệt khi
dứt các niệm này là đă vào thế
giới của chư Phật.
Nếu ta
chưa có nguyện nào nơi tự tâm
ḿnh, dù có bố thí, cúng dường
cầu phước bao nhiêu cũng không
vào được quốc độ chư Phật (
Ngũ Tổ nói, không thấy được
nguồn tâm, phước nào cứu được
). Có lần Đức Phật nói với Ngài
Tu Bồ Đề “Người
có của đem cúng dường bằng châu
báu, vàng bạc, trân quư nhiều
bằng tam thiên đại thiên thế
giới, vậy phước đức cúng dường
đó có lớn không?” Ngài Tu Bồ
Đề bạch đức Thế Tôn phước cúng
dường đó rất lớn. Phật dạy “Phước
đó tuy lớn nhưng không bằng
người sáng suốt, trí huệ hiểu
biết, tu tứ cú kệ th́ phước đó
vô lượng không thể nói hết được”.
Vậy tứ cú kệ là ǵ?
Là tứ vô lượng tâm, Tứ Diệu Đế,
Minh tâm, Kiến tánh, Tứ tướng …
đó là vô lượng vô biên công đức
v́ hết thảy chúng sanh đồng
thanh tịnh, đồng trực văng Tây
Phương, chúng sanh không c̣n sai
biệt v́ đă trọn thành Phật đạo,
người không c̣n niệm sai biệt là
tương ưng với đại nguyện A Di
Đà. Nguyện lực này nuôi sống
chơn tâm là phát nguyện thành
Phật, nếu không làm được thệ
không thành chánh đẳng chánh
giác.
Sống với
nguyện lực A Di Đà là thường
quán xét tâm, thấy từng niệm nói
đến mười muôn ức cơi, biểu tượng
chỉ vào tự tánh niệm niệm không
dừng, mỗi niệm sa vào vọng tưởng
là sinh ra mỗi cơi ta sa đọa.
Hằng ngày thường có hằng hà sa
số là niệm liên tục sinh khởi
biến hiện tại tâm nên có hằng hà
sa số cơi, Phật nói từ cơi Ta Bà
về đến Cực Lạc phải qua mười
muôn ức cơi, tức là 10 muôn ức
niệm là chỉ đến sự mê muội liên
tục không gián đoạn. Mỗi niệm mê
là một cơi măi kéo dài hằng hà
sa số niệm, nên nói là hằng hà
sa số cơi hay mười muôn ức cơi.
V́ cứ măi mê theo dục vọng nên
thường tạo nghiệp luân hồi sanh
tử như thế.
Kinh nói :
Khi con làm
Phật, tất cả chúng sinh sanh vào
nước con đều tự biết thấu thiện
ác đă làm, vô lượng đời trước,
có thể nh́n suốt, nghe thông
biết tận sự việc ở trong mười
phương ba đời, không đặng nguyện
này, không thành chánh giác.
Nguyện thứ hai
nước này tịnh giới
Đàn bà cùng con gái tịch nhiên
Những người trong cơi nhơn thiên
Cùng loài cầm thú cần chuyên tu
hành
Thảy đều đặng hóa sanh thọ cảm
Thất bảo tŕ, cửu phẩm liên hoa.
Nguyện thứ ba
dân chúng Phật Đà
Khi cần ăn uống, hóa ra sẵn sàng
Bát Thất bảo, bĩ bàng đựng lắm
Trăm món ngon khỏi sắm ở đâu
Ăn rồi khí dụng liền thâu
Không cần phải rửa phải lau nhọc
nhằn.
* Văng
sanh có 2 điều chính
:
- Thực
tướng văng sanh là chắc chắn
văng
sanh.
- Hiện tượng văng sanh là sự lờ
mờ chưa chính xác. Ở thế gian
thường theo h́nh tướng con người
qua trạng thái vô thường luôn
thay đổi cho là thật nên dễ bị
lầm lẫn. Tổ dạy, những ǵ c̣n âm
thanh, sắc tướng đều như huyễn,
không thật. Nếu tu mà cứ măi để
tâm niệm vào xe cộ, nhà cửa,
tiền bạc, người thân, luôn nhớ
đến vật chất bên ngoài là khẩu
hành mà niệm vẫn c̣n nhớ nghĩ
đến tà đạo, không giải thoát
được tâm. Kinh Bát Nhă Kim Cang
dạy, nếu cứ chạy theo âm thanh,
sắc tướng là người ấy hành đạo
tà, không thể thấy Phật, v́ đạo
tà không vào được chánh đạo. Ta
không nên chạy theo tướng, nếu
người sắp
chết mà nh́n vào hiện tướng thấy
sắc mặt đỏ hay do sự tưởng tượng
báo trước, có mùi thơm
đó là
hiện
tượng. Phật dạy “Này
các ông, sau thời kỳ mạt pháp,
nếu các ông thấy có hiện tượng
hay h́nh ảnh hiện ra giữa lưng
trời, chiếu hào quang, người ấy
giảng pháp, các ông có lễ lạy
không? Nếu như các ông lễ lạy sẽ
bị Ma Vương gạt v́ ma có ngũ
thông biến hóa vô cùng”.
Sau thời
kỳ Đức Phật nhập diệt, Ngài
A-Nan làm Tổ độ được Ma Vương,
mà xưa nay Ma Vương thường theo
khảo Phật. Ngài A-Nan nói với Ma
Vương rằng : “Này
Ma Vương, hôm nay ngươi là đệ tử
của ta, ngươi có tài biến hóa vô
cùng, từ khi Bổn Sư ta tịch v́
thương nhớ quá
muốn thấy được h́nh ảnh Bổn Sư,
với thần thông phép tắc của
ngươi, có thể biến hóa ra được
h́nh ảnh của sư phụ giống ngày
xưa không?”.
Ma Vương trả lời “Việc
đó con làm được, nếu Sư phụ thấy
con hiện ra đừng quỳ lạy, đảnh
lễ làm con tổn phước th́ con sẽ
hiện ra”.
Ngài A-Nan
nói “Ta
sẽ không lạy”, Ma Vương liền
nói Sư phụ hăy ngó qua tay phải
th́ sẽ thấy Đức Phật tới. Quả
nhiên
ngài A-Nan
thấy đức Phật cùng 1250 đệ tử
theo cùng Phật. Ngài A-Nan mừng
rỡ vội vàng quỳ xuống lạy và
đảnh lễ, Ma Vương ngăn lại “Con
đă nói trước đó là do con biến
ra sao Sư phụ c̣n đảnh lễ”.
Thời kỳ này rất nhiều kỹ xảo
khoa học, ta phải cẩn thận khi
coi phim ảnh cần phải biết thực
tướng văng sanh.
Vậy văng sanh là ǵ ?
Là vô sanh, vô sanh là không
sanh, nhưng theo lập luận thế
gian qua sự tướng nói là không
sanh thân trở lại cơi đời này
nữa, đó là mượn tướng mà nói về
niệm khởi là không sanh niệm
khởi. Nên Kinh A Di Đà nói,
người Phật tử c̣n nghiệp mà nói
rằng được đới nghiệp văng sanh,
nghĩa là c̣n nghiệp c̣n vô minh,
c̣n tư hoặc, trần sa hoặc, nhưng
tại sao được sanh về cơi Cực
Lạc, Phật dạy trong kinh có Tứ
Thánh Quả.
Sơ quả là Tu-đà-hườn là nghe
Phật dạy thế gian có khổ, tập,
diệt, đạo gọi là Tứ Diệu Đế.
Muốn diệt khổ, không c̣n luân
hồi sanh tử th́ phải sống với
đạo đế là Bát Chánh Đạo. Tu Bát
Chánh Đạo phải có chánh kiến,
hiểu biết sáng suốt, các pháp
không c̣n mê lầm nữa, biết thân
giả tạm, h́nh tướng giả tạm,
không thật nên không bị ai lừa
đảo ; đă sống với mắt trí huệ
chánh tư duy, hiểu rành thế gian
là tạm bợ, tạm thời tất cả đều
do tâm mà sinh ra. Nhưng thỉnh
thoảng cũng c̣n buồn, giận nên
nói c̣n lậu hoặc c̣n phiền năo.
Đă có chánh tri kiến nên thấy
được những điều này bất chợt gợi
lên nhưng cũng tự giác biết mà
xa ĺa gọi là chánh tư duy. Đó
là thất lai v́ giữ niệm chưa
được kiên cố, nên niệm sanh trở
lại, bỏ một niệm mê không sanh
lại nữa là một kiếp, bỏ hai niệm
mê là hai kiếp… bỏ được sáu niệm
là sáu kiếp, c̣n sinh khởi một
niệm gọi là Nhất lai. Cải tạo
từng phần phiền năo vô minh là
được văng sanh từng phần, chỉ
nói về niệm không tính theo thời
gian, ta vượt qua thời kiếp là
bỏ một niệm tham, bỏ một niệm
giận, bỏ một niệm phiền năo, bỏ
một nhiệm nhớ đến đau khổ… là sẽ
qua được một kiếp. V́ tập nhiễm
thói quen khó bỏ, phải tập buông
dần, buông dần c̣n một niệm quay
trở lại gọi là Nhất lai. Sự cố
gắng giữ ǵn chánh niệm nhưng
vẫn c̣n gợn lại niệm vô minh
sanh khởi là nhất lai, vẫn c̣n
một thoáng buồn giận nhưng liền
giác, c̣n một lần niệm nhớ lại
là nhất lai. Khi phiền năo
giận ngấm
ngầm nơi tâm, nhớ lại sáu bảy
lần mới hết là thất lai, c̣n
người tâm giận khởi lên mà liền
biết là nhất lai (
lai là c̣n một niệm vọng tưởng
chợt trở lại là c̣n lai văng vào
ác đạo ). Nếu không c̣n
phiền năo giận hờn, nóng giận…
niệm mê lầm không c̣n sanh khởi,
nhớ lại là vô sanh. Tâm đă hoàn
toàn thanh tịnh như như không
động gọi là quả vô sanh hay văng
sanh Cực lạc (
tâm hoàn toàn an lạc ). Nếu
tâm người tu được như vậy th́
ngồi đâu, ở đâu cũng tự tại là
văng sanh hết các tà niệm, vọng
niệm dứt nghiệp ô nhiễm tâm
trong sạch hiện tiền, không đợi
chờ đến khi nhắm mắt (
chết ) mới văng sanh, nghĩa
là tâm hiện tại không sanh,
không niệm trở lại cuộc đời,
không c̣n chất chứa phiền năo,
đau thương, hẹp ḥi, ích kỷ v.v…
sư thật này rất rơ ở tại tâm
ta. Nên Phật dạy, ngoài tâm ta
không t́m Phật ở đâu cả, xứ của
ta là ở tại tâm ta không t́m
Phật ở
đâu cả.
Quốc độ cũng ở tại tâm, tùy xứ
kiết tường vân, thành ư phương
ân. Mỗi quốc độ chứa vô số Thinh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và cũng
có rất nhiều tâm niệm do tâm tạo
thành của Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc
Sanh. Ta tu là lọc lựa lại những
tâm niệm tham lam, ích kỷ, hẹp
ḥi, sân giận, phiền năo. Ta
không tạo tâm thú cầm, chỉ c̣n
lại sự sáng suốt trí huệ các Bậc
Thánh, nên các niệm phàm phu tục
tử đều quá văng, không c̣n niệm
sanh trở lại, tất cả đều sáng
suốt, đây là Thế giới cực lạc.
Phải phát bồ đề tâm một ḷng
niệm Phật, nhất quyết lấy tâm
niệm Phật nhập Phật tri kiến. Đó
là đại sự nhân duyên, sự thâm
diệu của pháp tu Tịnh Độ.
Tất cả con
người đều là pháp, thân là do tứ
đại hợp thành ( sắc pháp ), các
niệm thường sanh khởi là tâm
pháp, gọi là pháp thành tựu.
Pháp nhờ giới luật mà thành
Phật, là thành tựu giới pháp là
pháp thân Phật. Người tu phải có
giới định huệ cũng là giới pháp,
nên con người đầy đủ giới pháp
cũng là Phật tạo thành pháp giới
thanh tịnh. Con người nếu giới
tâm thanh tịnh cũng là Tăng, nếu
không có người th́ không có
Phật, có pháp, có Tăng. Nhất
quyết ta không tin vào sự lừa
đảo, vào sự mê muội bày vẽ của
một ai mà phải biết văng sanh
như thế nào? Phải sáng suốt xác
nhận rằng v́ tâm tạo nhiều sai
quấy, mê muội, tham, sân, si,
phiền năo, ái, thủ đều xây dựng
do tâm nên phải sáng suốt tu sửa
ngay tại tâm, phải văng sanh (
buông xả ) hiện tại tà niệm
chính ngay tâm ḿnh ( xả ly ),
không nhờ vào bất cứ ai chuyển
hóa được tự ta, phải tự độ lấy
tâm ta, v́ các pháp sanh trong
ta c̣n đang khổ năo thổn thức u
sầu.
Chúng sanh khổ con nguyền tự độ.
V́ tham lam sân hận ngập trời
Phá si mê trí huệ tuyệt vời
Con nhớ
Đức Di Đà Lạc quốc
(
tự tánh sẵn có )
Nếu hiện tại
ta vẫn tham, sân, si, hận thù,
cố chấp muôn trùng ( nghiệp ) mà
đến giờ chết cho là văng sanh
th́ không đúng chơn lư nhà Phật
v́ đạo Phật phải chấp nhận rơ
ràng có nhân và quả. Nhân là các
tư tưởng tà niệm đă quá văng (
đă chết ) không c̣n luân hồi
niệm nhớ sanh lại nữa gọi là vô
sanh ( không c̣n khởi niệm lại
ḥan cảnh đă qua ), mới thật sự
văng sanh. Ta không chạy theo
phong trào, lời nói, bày vẽ mà
phải dùng trí tuệ sáng suốt nhận
định bằng chánh kiến sự việc
thật rơ ràng, không nhận định mơ
hồ mà uổng phí kiếp người học
Phật.
Nguyện thứ tư
nhân dân trong nước
Muốn áo quần khăn lược măo giầy
Thảy đều hóa đủ sẵn bày
Khỏi mua, khỏi giặt, khỏi may
cực ḷng.
Nguyện thứ năm
giáp ṿng địa lợi
Từ đất bằng lên tới hư không
Thảy đều lầu các điện cung
Cùng là cây trái ao sông cửa nhà
Các thứ ấy đều là trân bảo
Cùng bá thiên hoa báu hương thơm
Hiệp nhau thành tạo kết đơm
Trau dồi trang sức, cho làm phần
ba
Mùi hương ấy xông ra khắp đủ
Cả mười phương hưởng thụ cấp kỳ
Chúng sanh hạnh nguyện chuyên
tŕ
Tin và tưởng Phật, đến kỳ văng
sanh.
Nguyện thứ 6, thứ 7 và thứ 8
Nguyện có túc mạng thông
Nguyện có thiên nhăn thông
Nguyện có thiên nhĩ thông.
Nguyện là ǵ?
Nếu ta chỉ nguyện bên ngoài cửa
miệng dù quỳ trước Tam Bảo hay
bất cứ hoàn cảnh nào đó chỉ là
h́nh thức nguyện, không phải là
thực tướng nguyện.
Vậy
thực tướng nguyện như thế nào?
Nếu một người phạm tôi ăn cắp,
bị bắt đối trước mặt người xử
lư, họ chỉ xin lỗi hứa suông nói
là sẽ chừa bỏ v́ hiện tại sợ
sệt, xấu hổ ; hứa sẽ chừa bỏ,
hứa sẽ làm người tốt, van lạy
xin tha tội, việc đó v́ hoàn
cảnh phải hứa cho qua. Như vậy
nguyện này không chắc bởi không
có thực hành, chỉ là h́nh thức
gấp rút nói cho qua v́ muốn lợi
cho ḿnh không thật ḷng sửa sai
chừa lỗi ( sám hối ). Cũng một
người phạm lỗi v́ nhậu nhẹt ăn
chơi trác tán, tan nhà, nát cửa,
làm cho gia đ́nh phải khổ sở,
nghèo đói, bất ngờ nhớ lại ḿnh
đă làm điều sai quấy làm người
thân khổ sở, bất an v́ đă tiêu
tan tài sản, thấy được điều lầm
lỗi hối hận quỳ trước mọi người
xin tha lỗi nguyện chừa bỏ sai
lầm, thật ḷng không tái phạm
nên quyết định chừa bỏ th́ người
này là thực tướng nguyện, nguyện
này nhất định sẽ làm được, không
trở lại thói hư tật xấu nữa.
Ta nên sáng
suốt biết rằng 48 đại nguyện khi
đọc lên chính là ta phát nguyện
tại tâm thật tha thiết. Ta hứa
phải làm được, khi miệng đọc,
tâm tụng cho chính ta phải theo
lời dạy dỗ của Đức Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni đă tuyên dạy. Nếu ai
muốn về Cực Lạc phải phát 48 lời
nguyện như đức Di Đà đă từng
phát nguyện văng sanh Tịnh Độ.
Không đọc kinh như trả bài với
Phật mà ḿnh phải vượt lên, bám
víu vào sức kiên quyết thực hành
cho được lời nguyện, cho chắc
chắn tại tâm ḿnh. Tu tại tâm
ḿnh, thật sự tại tâm, thật là
ngay thẳng gọi là TRỰC CHỈ NHƠN
TÂM, nghĩa là nguyện lực này
nhất định phải hoàn thành. Một
trong 48 lời nguyện này đức Phật
Thích Ca muốn dạy cho tất cả
chúng sanh được thành chánh đẳng
chánh giác, ai cũng có khả năng
thành Phật.
Nói đến “Khi
con thành Phật”, ta phải
hiểu Phật đang nói với ai ? Đó
là Phật nói với tất cả chúng ta,
với mọi người Phật dạy ta tự nhớ
lại. “Khi
con thành Phật”, vua Vô
Tránh Niệm phát nguyện với Định
Tự Tại Vương Như Lai, nguyện
rằng “Khi
con thành Phật…”. Chúng ta
cũng vậy ở tại thế gian này đối
trước các pháp dù khổ vui mà ta
có trí huệ sáng suốt, biết sử
dụng pháp ở ngay thế gian, tâm
được tự tại không vướng bận vào
sự đau khổ, không cho vui là
thật th́ đă tự tại ra khỏi các
pháp thế gian, tâm an định nên
ta đă gặp thế gian Định Tự Tại
Vương Như Lai tại tâm ta. Nếu
nguyện thành Phật th́ phải làm
những điều này, nếu không được
th́ không thành Phật vậy khi
thành Phật các chúng sanh về cơi
con.
Ai là chúng sanh?
Chính là ta, tức là khi vừa niệm
đến tham, sân, si, phiền năo,
ghen ghét là các chúng sanh
trong cơi tâm ta hiện đang ở
trong ḷng ta xuất hiện hay
những suy nghĩ
những
tâm niệm
không thật đó là những chúng
sanh mê muội sanh khởi. Nhưng
khi giác ngộ được các pháp th́
những tư duy cũng là niệm nhưng
đă sáng suốt biết được những
chúng sanh tự trong ḷng ta,
quốc độ ta, thế giới ta, ta đều
biết rơ, đó là những chúng sanh
là quyến thuộc của ta từ vô
lượng kiếp. Nếu tu mà không biết
rơ được vô lượng kiếp trước (
vô lượng tâm niệm si mê )
th́ nhất định sẽ không thành
Phật. Nếu ta cứ nhờ vào cách bói
toán coi vô lượng kiếp trước của
ta th́ không thể biết được,
chính tự ta sẽ nh́n lại những
tâm niệm mê lầm, mỗi niệm ấy là
mỗi kiếp của ta ở tại tâm thường
làm cho tâm vẩn đục, u tối, ta
phải hiểu rằng “nhược
kiến chư tướng, phi tướng tức
kiến Như Lai” bỏ tướng nam,
tướng nữ, tướng già, tướng trẻ,
tướng sang hèn, tướng con người
th́ thấy Như Lai (giác).
Nếu măi chấp vào các h́nh tướng
là c̣n kẹt vào tướng thế gian.
Nếu nghĩ rằng kiếp trước tôi là
nam, nữ, sang, giàu hay nghèo
khó là đă chấp kẹt vào tướng.
Phải bỏ các tướng đó, soi vào
tâm liền thấy hiện tại tâm vẫn
c̣n tham, ích kỷ, đố kỵ, ganh
ghét, độc ác th́ vô lượng kiếp
trước cũng là như vậy v́ nhân
kiếp trước là quả hiện tại không
sai. Chắc chắn vô lượng kiếp ta
đă lăn vùi trong mê đắm, đă tạo
nhiều điều ác, nên hiện nay dù
đến với Phật pháp ta vẫn c̣n tăm
tối. V́ vậy, Đức Phật Thích Ca
v́ ḷng bi mẫn xót thương dạy
trong mỗi chúng sanh nên mở tâm
bồ đề, phát lời thệ nguyện như
Đức Di Đà hầu tiêu trừ quá văng
những niệm si mê, không c̣n đọa
vào ba đường ác. Nếu hiểu được
điều này th́ ta đă có TÚC MẠNG
MINH, ta đă biết được quá khứ
chính nơi ta mà tu sửa. Ta phải
cần biết vị lai bằng cách nh́n
vào tâm hiện tại đă bỏ được
những tâm niệm, suy nghĩ tà ác,
tham lam, sân hận hay chưa? Nếu
thấy tâm đă an ổn, không c̣n
những điều vướng bận trong ḷng,
đă thuần khiết thanh tịnh, không
c̣n những tà niệm trong quốc độ
tại tâm ta hoàn toàn sáng suốt,
trí tuệ th́ chắc chắn đă chứng
quả vô sanh.
Ta phải thấy
rơ việc thiện ác đă làm, phải
xét thẳng vào tâm, người theo
tướng là chạy theo tiền của, vật
chất, chỉ thấy những thứ này nên
không thấy được tâm. Phải thấy
hiện tại bây giờ tâm c̣n chứa
bao nhiêu sự ác, có giảm bớt hay
không?
Vậy thành Phật là ǵ?
Thành Phật là LÀM CHỦ ĐƯỢC TÂM,
nghĩa là làm chủ sự nói năng là
chánh ngữ ; làm chủ việc làm là
chánh nghiệp ; làm chủ sự nghe,
sự thấy là chánh kiến ; làm chủ
sự suy nghĩ là chánh tư duy ;
làm chủ tâm là chánh định. Nếu
không làm chủ được những điều
này sẽ bị đọa vào ác nghiệp. V́
nếu nghe êm tai th́ thích, thấy
sắc đẹp th́ mê nên sa vào ở măi
nơi đây, trụ vào là đọa măi măi
không ra được gọi là vướng mắc.
Người ghiền rượu th́ đọa vào
rượu, ghiền x́ ke th́ đọa vào x́
ke, tham vật chất th́ đọa vào
vật chất, tham sắc đẹp th́ đọa
vào sắc, tham tiền th́ đọa vào
tiền bạc, có khi mất thân mạng
tại chỗ v́ sự sa đọa này. Người
tu phải nh́n rơ tâm niệm chính
ḿnh có c̣n bị đọa vào các cơi
các thế giới này không? Đang ở
xứ nào? Có đọa vào địa ngục, ngạ
quỷ, súc sinh a-tu-la không? Ta
phải sáng suốt coi lại chính tâm
ta, nếu không c̣n tham lam ích
kỷ, hẹp ḥi, năo loạn, tranh
giành, hơn thua, danh lợi th́
tại nơi tâm cũng không c̣n một
niệm ác nào lai văng đó là không
đọa vào ác đạo địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Nếu ta nghe được
biết được th́ gọi là nhất lai,
không niệm lui tới sáng suốt
biết rơ rằng đă xả bỏ những thói
quen tập nhiễm hưởng những điều
vui, nếu chú ư thực hành sẽ
tương quan ngay cuộc sống th́
được kết quả an lạc giải thoát,
nếu phát nguyện làm được chắc
chắn được văng sanh.
Tội là chi, phước lại là chi
Đa mang hai gánh nặng như ch́
Sợ làm chi hai danh tự vô ngh́.
(
Huyền Giác Thiền Sư )
Tâm làm ta khổ, tâm tạo địa
ngục, tâm cũng đưa ta đến cơi
Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ
Tát, La Hán, Phật. Ta hăy lau
chùi lại gương ḷng, không ai có
quyền bắt tội ta nếu ta không
làm điều sai trái. Phật thường ở
nơi ta hằng ngày, hằng giờ, hằng
phút, v́ mê loạn trong ảo ảnh
cuộc đời nên không nh́n thấy,
khi thanh tịnh giác ngộ liền có
Phật sát bên. Vậy
Phật là ai ?
Chính là tự tánh Di Đà, viên
giác diệu tâm. Người học Phật
vừa khởi niệm liền sợ tội là
nhân không đọa vào đường ác. Ta
thường sợ tội ở hồn mà không
biết sợ tội ở tự tâm. Ta măi làm
ra tội, Ta bà hay Cực Lạc do
chính tại tâm ta, cảnh tùy tâm
chuyển. Tịnh độ là pháp giới
nhất chân hay là chuyển Ta bà
thành Tịnh độ, hay chuyển phiền
năo tức bồ đề. Tâm c̣n cơi Ta bà
mà chuyển Cực Lạc là điều khó v́
Ta bà là nhiều bất b́nh, bất
măn, đau khổ. Đức Phật cũng là
con người tại Ta bà, ví như sen
ở nơi bùn lầy mà vẫn nở tốt đẹp.
Đó là sự đặc biệt tinh khiết của
sen, dù trong bùn nhưng vẫn tỏa
ngát sự thơm tho đậm nét, đậm
sắc màu. Phật nói dù ta ở đời
ngũ trược ác thế, nhưng vẫn biết
đi trên sự an lạc, mỗi bước đi
đều nở đóa sen, đó là sự biểu
trưng rằng dù ở trong đường ác
nhưng tâm vẫn là sen, vẫn bước
đi bằng niệm sen hồng, khi được
đại Bồ đề, đại Niết Bàn cũng ở
tại Ta bà chớ không ở nơi nào
khác. Vậy hiện tại ta cũng ở đời
ngũ trược ác thế, cũng bùn lầy
nhưng phải tự giữ lấy tâm ta cho
thật trong sạch dù trong cơi bức
ngặt, nóng nảy mà tâm sen không
hề héo úa. Kinh dạy :
Dương chi tịnh thủy
Biến sái tam thiên
Tánh không bát đức lợi nhơn
thiên
Diệt tội tiêu khiên
Hỏa diệm hóa hồng liên.
Tất cả những
niệm sai lầm được chuyển hóa
thanh tịnh, tam thiên đại thiên
thế giới của các cơi tự tâm, nhờ
tu bát chánh đạo làm an ổn cho
người tu giữ ngũ giới và người
tu thập thiện không c̣n vướng
trụ vào vọng niệm tư tưởng của
cuộc đời, nên không nói là oan
khiên, nghiệp chướng. Tâm nóng
nảy sân hận là hỏa diệm sơn, là
sức nóng vô lượng được hóa giải
thanh tinh diệu mát, là hóa
thành sen hồng thơm ngát. Nếu
biết chuyển Ta bà thành Tịnh độ
là đă cúng dường pháp, là bố thí
pháp, bố thí tất cả pháp thuộc
về sở hữu cho là của ta, bố thí
hết sự phiền năo, sân si … Bố
thí niệm phiền năo chuyển thành
niệm an vui, niệm Tà bà buông bỏ
thành niệm hướng về Tịnh độ.
Tổ Thần
Quang xin Ngũ Tổ cho con pháp an
tâm. Tổ dạy “Ông
đem tâm ta an cho”. Tổ Thần
Quang trả lời “Con
t́m tâm không có”. Ngũ Tổ
nói “Ta
đă an tâm cho con rồi đó”.
Tâm không thật thể, nó vốn vô
thường, khi c̣n mê muội duyên
theo cảnh làm ta đau khổ, khi
hết duyên th́ không c̣n tâm nào
cả. Nếu có chánh niệm, chánh
định, chánh tư duy th́ không c̣n
tâm nào cả. Lửa sân hận tuy
không h́nh tướng nhưng nó sẽ tạo
thành tâm sân si, nóng nảy, tác
hại nguy hiểm vô cùng. Ta phải
hằng nhắc nhở tâm, có người nhờ
sâu chuỗi mà nhắc nhở tâm, ǵn
giữ tâm bằng cách niệm nương vào
chuỗi mà nhắc rằng.
Ái hà thiên xích lăng
Khổ hải vạn trùng ba
Dục thoát luân hồi khổ
Tăo cấp niệm Di Đà.
Ta phải trở
lại tự tánh chính nơi ta, v́
sông sầu, biển ái mênh mông, sâu
vô lượng. Ta đang ở biển khổ
muôn trùng, muốn thoát Ta bà
khổ, phải gấp rút niệm nhớ TỰ
TÁNH DI ĐÀ sáng suốt, trí tuệ,
b́nh đẳng. Ta không thể nương
tựa vào đâu, không niệm nhớ bất
cứ niệm nào ở cuộc đời, chỉ để
tâm ư niệm nhớ đến tánh Phật,
niệm Phật tại ḷng thôi. Như vậy
tâm ta không c̣n bị sa đọa vào
đường ác v́ có ba đường ác chính
từ niệm ta sinh ra, làm sự
nghiệp xây dựng địa ngục, nếu
biết được rơ ràng th́ hiện tại
đă thật sự văng sanh các tà
niệm, đă hóa giải được nghiệp si
mê. Kinh Vô Lượng Thọ Đức Phật
Thích Ca muốn dạy cho tất cả
chúng sanh được thoát khổ bằng
phương pháp thâm nhập kinh, trí
tuệ bừng sáng, tâm được tự tại.
Ta hăy tự phát nguyện tại nơi tự
tánh chính ḿnh, tự tu học,
không tu biểu diễn, khoe khoang,
không tu danh, tu cho ai xem cả,
tự tu để tự hết khổ, tự ngộ. Nếu
bị đọa địa ngục do nơi tâm niệm
th́ cũng do tự ta nhận chịu, sự
khoe khoang, dù có phẩm vị danh
ngôn cũng không cứu được ta.
“Nghe
rơ sự việc khắp 10 phương”
là nhớ rơ hết những niệm sai lầm
từ xưa nay c̣n chất chứa đầy ắp
tại tâm, không được ánh sáng
quang minh nào hóa giải, tăm tối
khắp 10 phương thế giới cơi nước
trong tâm, cả ba đời quá khứ,
hiện tại, vị lai. Ta hăy nghe
lại những niệm của chúng sinh
trong tâm từng đau khổ, khổ
sanh, khổ lợi, khổ t́nh ; khổ v́
vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh
em, người thân; khổ v́ vật chất
tài sản, khổ v́ thương ghét khổ
sanh già bệnh chết. Nghe rơ để
nhớ lại ba đời, tư duy để biết
rơ rằng ở trong luân hồi đời nào
cũng vậy, cũng khổ, quá khứ đă
khổ, hiện tại đang khổ, nếu
không tu tương lai cũng khổ y
như vậy. Ta nghe tiếng ḷng rất
rơ đó là tu hạnh lắng nghe, hạnh
Quán Âm tầm thinh cứu khổ, nghe
bằng trí tuệ Bát Nhă, nghe vào
chính tự ḷng ta, không nghe bên
ngoài dư luận, bàn tán, vẽ vời,
thêu dệt bằng h́nh tướng, mà hăy
tự làm chủ tâm ta không để pháp
thế gian, hay quyền lực nào định
đoạt cả, không sợ sệt lo âu,
sống như thế nào? Chết như thế
nào, sẽ về đâu? Thật là khổ
ải vạn trùng ba v́ vô sở đắc cố,
nên khi tâm đă tự tại, b́nh an
th́ tự nhiên sự tự do đă sẵn,
không t́m cầu ở đâu tự mà hết
khổ, hết
đọa là giác ngộ giải thoát, phải
tự thực tế hiện tại nơi tự tâm
không t́m cầu van xin nơi nào mà
có được.
Nguyện có
túc mạng thông, đă thông biết rơ
ràng có quốc độ tại tâm giống
như thấy trái cây nằm trong bàn
tay. Phật nói “Ta
giảng pháp cho các ông, là đem
thế giới Cực Lạc cho các ông
thấy được, như để trái umbala
trong ḷng bàn tay cho các ông
coi vậy”. Khi nghe giảng đọc
tụng phải tự quay vào tâm, thấy
hiểu biết rơ ràng các pháp,
không c̣n nói rằng Ta bà cách
Cực Lạc mười muôn ức cơi, đó là
thế giới Cực Lạc đang nằm ở tại
ḷng của chính ta. V́ mê muội
nên Cực Lạc nơi tâm ta c̣n tăm
tối, v́ c̣n các tà niệm trong
tâm che chắn làm mờ tánh giác.
Các niệm vào đường súc sanh, ngạ
quỷ đang hoành hành, ta phải ra
sức dọn dẹp nơi tâm đă có niệm
sáng suốt là
đấu chiến thắng Phật, giúp
ta có sức mạnh giác ngộ tại tâm,
để trang nghiêm quốc độ, trang
nghiêm Tịnh độ.
Ngài Pháp Tạng Tỳ kheo học từ
đức Phật Thích Ca, Phật là bậc
Đạo Sư, tất cả chúng ta đều là
học tṛ, là đệ tử của đức Phật
Thích Ca, ta tu học theo giáo lư
từ nơi kinh nghiệm trí huệ của
Ngài giáo dỗ cho ta nương theo
để thành Phật như Ngài. Pháp
Tạng Tỳ kheo cùng chúng ta đều
là học tṛ của đức Phật Thích
Ca, cũng học từ 48 đại nguyện,
ai cũng phải thọ tŕ, mà Ngài
Pháp Tạng tỳ kheo đă đỗ đạt đầy
đủ từ nguyện lực thành chánh
giác có Phật hiệu A Di Đà nhờ
thực hành 48 đại nguyện. Vậy
trong tất cả chúng ta nếu phát
bồ đề tâm, bồ đề nguyện muốn về
Cực Lạc, thành bậc Thượng Thiện
Nhân không c̣n tâm cực ác, không
c̣n là người ác, được thân cận A
Di Đà th́ phải thực hành thông
suốt kinh nghiệm mà Phật đă chỉ
dạy, tu theo đúng chơn lư, tu
ngay hành vi sai phạm chính ḿnh
sẽ TRI KIẾN PHẬT, sáng suốt nhập
vào tự tánh A Di Đà chính tại
tâm ta vậy. Nên có vô số Đức A
Di Đà đă đỗ đạt thành Phật, vô
lượng vô biên đức độ A Di Đà
được chánh giác gọi là vô lượng
Phật. Ta hăy dùng pháp thế gian
mà nói rằng, nếu kinh nghiệm qua
trí thông minh của người học về
kinh nghiệm trị bệnh, thân được
mệnh danh là bác sĩ, th́ những
người theo học từ kinh nghiệm
trị bệnh này khi đầy đủ sáng
suốt qua nhiều kinh nghiệm thực
hành có thể trị bệnh làm lợi ích
cho mọi người, đều được mang
danh là bác sĩ, dù tên tuổi mỗi
người mỗi khác nhưng đều mang
một khẩu hiệu chung danh từ là
bác sĩ giống nhau. Đức Phật
Thích Ca là bậc Đạo Sư, là vị
Thầy dạy ta trị bệnh tâm, dạy
khắp trời người tu hành sẽ thành
Phật tương lai. Cũng như vị giáo
sư bác sĩ dạy khắp mọi người,
nếu ai tự nguyện học kinh nghiệm
bác sĩ đều thành bác sĩ tương
lai, không phân biệt giàu nghèo
hay nam bắc. Ta học Phật mục
đích là thành Phật, thành hằng
hà sa số Phật. Học bác sĩ thành
bác sĩ nên có hằng hà sa số bác
sĩ tương lai, chớ không chỉ một
người được làm bác sĩ. Vậy pháp
Tạng Tỳ kheo học Phật hiệu là A
Di Đà th́ chúng ta học Phật cũng
trở lại sự thanh tịnh giác ngộ
tự
tánh A Di Đà vô biệt niệm. Vô
biệt niệm là không c̣n niệm phân
biệt duyên theo pháp thế gian,
thật sự sống
với tánh giác hiệu là A Di Đà
nên có chư Phật hiện khắp 10
phương thế giới.
Nguyện thứ sáu
dân lành quốc độ
Thương kính nhau quư tợ ruột rà
Không lời qua lại bất ḥa
Không ganh, không ghét hóa ra
tranh giành.
Thiên nhăn
thông là thông suốt các cơi từ
cơi trời đến trời hữu đảnh.
Thiên là trời, là có thiên nhăn,
mắt thấy được cơi trời, tự quán
sát thấy lại tâm ta là Quán Tự
Tại Bồ Tát có tu giới thập thiện
có giữ được 10 giới hay không?
Có thấy được cơi trời tại tâm
không? Hay tâm ta c̣n chứa toàn
niệm địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh, là tham, sân, si. Tất cả
niệm là do hoàn cảnh chuyển, nếu
tâm ta có trời th́ không sát
sanh, trộm cướp, tà gian, không
nói dối, không chơi bời chè
rượu, đàn ca xướng hát, không
phấn son, lụa là, gấm vóc, không
mê vàng bạc nữ trang. Nếu thanh
tịnh được những điều này th́ cơi
trời trong tâm hiện tại có các
chư Thiên do các niệm ô nhiễm
trong tâm đă trong sạch nên
thành tựu được phas1p giới đó là
cơi trời. C̣n những thói quen
độc ác, sân si, tham lam là tà
niệm th́ không thấy được chư
Thiên.
Thiên nhăn
thông là đă thông được cơi trời,
đă bỏ được các điều ác, không
c̣n niệm vào cơi ô uế, sống với
tâm trong sáng giống như các chư
Thiên ( các tâm niệm đă đồng ḥa
), tuy thân c̣n ở Ta bà nhưng
tâm đă an ổn, hưởng phước báu
b́nh an của cơi Trời sáng suốt.
Dù chưa trọn vẹn như Phật nhưng
đă đến được cơi trời sắc giới và
vô sắc giới đó là Thiên Nhăn
thông, đă thông được cơi trời,
tự tâm đây là tầng trời thập
thiện, nhục nhăn không thấy được
cơi này. Các cơi đang chứa ở tại
ḷng ta sẽ bị chướng ngại khi
các cơi khác (
niệm khác ) che khuất nên
không thông suốt. Nếu ta tự thấy
được ta th́ sẽ thấy được người
khác, đây là sự vi diệu của chơn
tâm. Người tu tâm không nh́n vào
sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp,
không duyên theo h́nh sắc bên
ngoài, chuyên chú nh́n vào tâm
sẽ thông thấu rơ ràng, đó là
thiên nhăn thông.
Nguyện thứ bảy
dân sanh trong nước
Không có ḷng uế trược, dâm ô
Cũng không có tiếng tục thô
Cùng là nóng giận hồ đồ ngu si.
Nguyện có thiên nhĩ thông,
lỗ tai phải thường nghe kinh
nghe pháp, nghe bài, nghe vào
tâm trí đặng hay sửa ḷng. Nếu
ta tu mà không thông được căn
trần, không sáng suốt th́ không
phải là đệ tử Phật, phải có đủ
ba thông thiên nhăn, thiên nhĩ,
tha tâm thông.
Túc mạng thông
là biết được đời quá khứ vô
lượng kiếp đến nay, thấy tâm ta
vẫn c̣n tham sân si, phiền năo,
ích kỷ, hẹp ḥi, ta phải nguyện
rằng từ đây và măi măi không c̣n
sanh những tâm niệm này trở lại
nữa. Phải thực hiện cương quyết
biết được quá khứ, hiện tại, vị
lai ; phải nghe thấy biết tại
tâm thiện ác như thế nào hiện
giờ ra sao? Phải nghe vào tâm,
không thích nghe chuyện bên
ngoài, coi lại nơi tâm có bao
nhiêu pháp thiện, bao nhiêu pháp
ác, có ḷng thương người, thấy
biết nghe được như vậy nhăn nhĩ
đều thông, không nghe ngoại cảnh
duy tŕ sự tranh đua hơn thiệt,
xấu xa tội lỗi. Ta không theo mà
nghe lại trong tâm coi việc ǵ
khổ, việc ǵ vui, việc nào từ
xưa nay làm ta khổ đó là niệm
của luân hồi sanh tử, nếu nghe
rơ như vậy là thiên nhĩ thông.
Nếu tu được ba thông này sẽ về
cảnh giới sáng suốt, an trú trí
huệ Phật. Người đệ tử Phật tâm
thường như nơi A-Lan-Nhă là chỗ
vắng người để tự nghe thấy tại
nơi ḷng ḿnh, v́ ḷng ḿnh là
quốc độ là pháp giới. Nếu pháp
giới, quốc độ ở đâu th́ ta ở đó.
Ta không sống vào quốc độ của ai
được, tại sao? V́ không ai tu
dùm ai được, ai ăn nấy no, ai tu
nấy sáng, tự ta phải trang
nghiêm sửa sang lấy quốc độ tại
tâm ta. Quốc độ ta tự cai quản
giữ ǵn lấy. Nếu không c̣n vướng
bận các pháp huyễn hóa tâm thật
sự an ổn, thanh tịnh được gọi là
Thế Gian Định Tự Tại Vương Như
Lai. Nếu không giữ ǵn được quốc
độ tại tâm th́ luôn niệm vào sự
đau khổ vô cùng.
Nguyện thứ tám
chuyên tŕ tụng niệm
Cứ đường ngay tiệm tiệm bước đi
Nếu ai muốn nói chuyện ǵ
Người kia hiểu ư tức th́ khỏi
phân.
Nguyện thứ chín,
nguyện tha tâm thông.
Ở thế gian
có đời sống b́nh thường hằng
ngày và đời sống tu tập, ta sống
như thế nào? Sống bằng ǵ? Nếu
cho là sống bằng tiền bạc, của
cải, t́nh cảm th́ cũng đúng,
nhưng chưa đúng hoàn toàn v́ đó
chỉ là đối đăi thế gian. Kinh
Phật dạy tâm niệm ta thường chảy
như bộc lưu, nghĩa là tâm thường
khởi hết niệm việc này đến niệm
việc kia, liên tục ngày đêm
không ngừng nghỉ. Trong giấc ngủ
vẫn c̣n niệm nhớ sanh chiêm bao
mộng mị. Cho đến khi bỏ thân xác
vẫn tiếp tục niệm, niệm sự khổ,
niệm sân giận, niệm phiền năo,
niệm oán hận, niệm tiếc nuối, vô
h́nh vẫn niệm. Thú người đều có
niệm, niệm niệm măi dù hữu h́nh,
vô h́nh đều niệm măi v́ chấp có
thân nên thú người đều có niệm.
Khi bỏ xác thân th́ ta niệm
chết, niệm ta thành ma, niệm
thành quỷ, dù sợ sệt nhưng vẫn
niệm niệm niệm tương tục không
ngừng. Trong cuộc sống hằng ngày
không ai dứt niệm được cả, cho
nên đă tu mà cứ niệm xe cộ, niệm
thấy nhà cửa, niệm thấy vật chất
sở hữu của ta, người thân của
ta, đó là chấp trước. Người tu
phải bố thí xả bỏ các niệm v́ đó
là ngoại đạo phải nghe văn mà
nhập quán. Phải chọn lựa tâm
niệm của ḿnh. Nếu niệm vào thù
hận là cơi địa ngục. Nghĩ niệm
đến việc ác, hành động nói năng
đều nhớ về sự độc ác đó là tự
khởi niệm sanh vào cơi ác,
thường niệm không chuyển gọi là
địa ngục vô gián (
không gián đoạn ). Trong các
quốc độ tại tâm, nếu sáng suốt
biết rằng giờ phút nào cũng
niệm, nếu ta thấy được đang niệm
ǵ gọi là kiến tánh. Người tu mà
không thấy tánh th́ không ích
lợi ǵ. Nên Ngũ Tổ dạy “Nếu
tu mà không thấy được nguồn tâm
th́ học đạo vô ích”. Thấy
được tâm niệm lần lần chứng được
các thông của đức Phật dạy, biết
được tất cả niệm là chứng đắc
túc mạng thông, thiên nhăn
thông, thiên nhĩ thông, biết
được tâm niệm của người là tha
tâm thông, phải đủ thần thông
mới thành Phật được. Tha tâm trí
thông là trí biết rơ các niệm,
biết loại bỏ những niệm giận
hờn, phiền năo phàm tục, ghen
ghét, không c̣n vang dội ra vô
trong trí nhớ nữa. Những thói
quen xấu ác không c̣n, trí thông
cảm sẵn sàng yêu thương, tha thứ
mọi người, có ḷng giúp đỡ dù
rất khó nhưng nguyện sẽ làm
được.
Tự tánh là
chơn như, dù bị vô minh che lấp
nhưng vẫn c̣n măi măi đời này
đến đời sau, ta phải cương quyết
tu, tu măi dần dần sẽ trong
sạch.
Đường đi khó,
Không khó v́ ngăn sông cách núi
Mà khó v́ ḷng người ngại núi e
sông.
Đức Tự Tại vương Như Lai nói
rằng, dùng một gàu lớn tát măi
có ngày sẽ cạn, dù ngày đêm
không ngại biển sẽ vơi dần. Vậy
sông sầu, biển khổ của ta nhứt
định tát măi có ngày sẽ cạn. Nếu
có chúng sanh nào sáng suốt, trí
tuệ, có tha tâm trí biết được
tâm niệm của mọi người và luôn
cả ḿnh, biết họ cần ǵ? Bệnh
ǵ? Th́ mới có thể giáo hóa họ
được. Dù cách xa mười muôn ức
cơi vẫn có tha tâm thông, tha
tâm trí hiểu người, biết người
rơ căn cơ mà chỉ dạy. Dù cho tâm
họ là quốc độ xa cách muôn ngàn
dặm đức Phật cũng có thần thông
mà giáo hóa. Nếu không quyết
ḷng tu th́ tham sân si, khổ
đau, vui buồn,
thương ghét tràn đầy, nếu chưa
kiến tánh th́ không thành Phật
được. Ai cũng có sẵn tánh Phật,
ta tu để trở về tánh Phật thật
khó vô cùng, ta tu cũng phải
phát nguyện thành Phật.
Người kiến
tánh là duyên thành Phật, không
c̣n chạy theo h́nh tướng bên
ngoài, không theo nhân quả tham
sân si, mạn ; sự vô h́nh có vô
lượng phiền năo, bên ngoài có sự
cám dỗ của cuộc đời đều phức tạp
là cạm bẫy, hầm lửa đều là hiểm
nạn, nếu không trí huệ sẽ sa đọa
măi càng tăng trưởng vô minh.
Trong ngoài đều có phiền năo,
không muốn ai tu hành luôn phá
hoại, cản trở hảm hại cần sám
hối. Không theo sự đẹp, xấu,
thương yêu, hận thù, không chạy
theo lục dục thất t́nh. Nếu học
Phật phải thấy ma hiện tiền mà
tự giác không sanh tâm sợ hăi,
thối lui, dù khó khăn phải tinh
tấn vượt qua là giúp ta tiêu
nghiệp.
Kinh Kim
Cang dạy ta thọ tŕ đọc tụng.
Thọ tŕ là thực hành theo lời
dạy. Nếu bị người lăng nhục,
khinh bỉ ta phải thương xót cho
họ, t́m cách khuyên giải v́ mê
muội nên họ có hành động độc ác
sẽ rơi vào ác đạo. Ta phải quay
về sống với tâm niệm tự nơi
ḿnh, không đua đ̣i theo sắc
tướng bên ngoài, gọi là kiến
tánh hay c̣n gọi là thấy tâm. V́
măi chạy theo bên ngoài tiền
của, vật chất đó là theo cảnh
quên tâm, thấy cảnh mà không
thấy tâm. Ta tu hăy quên cảnh để
trở về với tâm. Tại sao? V́ bất
cứ sinh vật nào sống ở thế gian,
nói chung là muôn loài đều sống
bằng tâm. Muốn ăn, muốn đi, muốn
nghĩ, tính toán làm bất cứ điều
ǵ đều từ tâm niệm khởi xuất. Ta
phải biết vạn pháp đều do tâm
khởi, điều này mọi người quên
lăng, thường không chú ư đến.
Nếu ta có duyên gặp thiện tri
thức giảng dạy, phải thật sự
sống bằng tâm. Khi bắt đầu sống
được với tâm, gọi là thấy tâm
hay thấy tánh (
kiến tánh ) hay là thấy Phật
(
đă giác ), tại sao? Trong
kinh Phật nói rơ rằng “Phật
tức tâm, tâm tức Phật”,
chớ không nói con người này, mặt
mũi này,
giọng nói âm thanh này tức Phật.
Chỉ có tâm tức Phật, Phật tức
tâm. Nếu ta trở về chọn tâm
trong sạch thanh tịnh là sống
với chánh mạng, đó là đă
thọ
dụng được
pháp thân Phật, sống bằng tự
tánh Phật. C̣n nếu bỏ tâm chạy
theo hoàn cảnh giàu, nghèo,
buồn, khổ là đă bỏ Phật quên
tâm. Ta biết quay về với Phật
tâm chính ḿnh là đă trở về quy
y chánh pháp. Nếu càng chạy theo
danh lợi vật chất bên ngoài là
theo sự đau khổ, phải sáng suốt
dùng trí huệ nhận định mọi việc
trong cuộc sống, hành động thế
nào, nói năng chơn chánh, ăn ở
như thế nào đừng vướng bận vào
tâm, niệm niệm đều bằng sự buông
xả. Nếu niệm Phật phát hiện tâm
lung tung, nhiều vọng niệm th́
đó là thấy được tâm đang bất an.
Từ xưa nay không để ư vào tâm,
măi phóng túng nên không thấy
tâm điên đảo. Thấy được sự điên
đảo đó chính do niệm khởi sanh
tâm, phải cần quan sát cảnh giác
niệm khởi, tự giữ ǵn giáo hóa.
Khi hết điên đảo tâm dừng là
định, giác hết tất cả niệm là
Phật không xa. V́ biết tâm điên
đảo không niệm theo là sáng
suốt, trí huệ. Ta măi thấy giả
tướng bên ngoài là vật chất,
tiền tài, người thân đều chấp
thật cho là của ta, là theo giả
cảnh bỏ chơn tâm. Đây là chỗ bắt
đầu vào cửa Phật, nên mới thấy
được Phật tâm ta đang rối bời mà
tu sửa lại cho thanh tịnh. Ta
đừng sợ hăi mà cần nh́n tâm thật
rơ, coi kỹ lại c̣n vướng bận
điều ǵ, tự ta xả bỏ dần dần sẽ
an ổn. Ta măi niệm việc thế gian
tranh giành, hơn thua, tiền của,
niệm hoàn cảnh khổ, vui, giàu,
nghèo, địa vị v.v… những niệm
bên ngoài là tà niệm, không chấp
thật măi duyên theo. Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni dạy chúng ta lời
nguyện thứ 18 là chuyên tŕ niệm
nhớ hồng danh A Di Đà, nghĩa là
niệm nhớ lại tự tánh A Di Đà sẵn
có tại tâm ta, đó là chánh niệm.
Niệm sáng suốt vô lượng quang là
Nhiên Đăng cổ Phật. Đèn trí huệ
sáng suốt tự nhiên từ vô lượng
kiếp, vô thủy vô chung vẫn c̣n
măi măi v́ mê muội bị bụi trần
lao làm mờ quên lăng.
Niệm lại tánh Phật sáng suốt trí
huệ, tự tại giác ngộ giải thoát
chính nơi tâm ta. Tâm niệm Phật,
Phật niệm tâm, thông suốt không
gián đoạn gọi là THỰC TƯỚNG
NIỆM PHẬT.
Nguyện thứ chín
chúng dân từ thiện
Tai chẳng nghe những chuyện
không lành
Có đâu sự ác tự hành
Mấy điều nghiệp chướng đă thành
vô danh.
Nguyện thứ 10,
nguyện
Thần túc thông.
11 nguyện
giáp cúng dường chư Phật.
“Khi
con thành Phật” ta đọc lên
lời này nên nhận định chính xác
rơ ràng do chính từ miệng ta
đọc, tâm ta nguyện, lời nguyện
này là chính ta thọ dụng từ lời
dạy của đức Phật Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni đă dạy cho Ngài Pháp Tạng
Tỳ kheo và cả cho ta, hiện ta
đang tu học theo giáo pháp của
Ngài. Ta chú ư rằng vua Vô Tránh
Niệm là tiền thân Ngài Pháp Tạng
Tỳ kheo, gặp thế gian Định Tự
Tại Vương Như Lai đă phát 48 đại
nguyện (tâm
định là Vua Tự Tại, là pháp lớn
nhất rất thù thắng đưa ta đến
trạng thái an lạc tại thế gian
nên gọi là Thế Gian Định Tự Tại
Vương Như Lai). “Nếu
có chúng sanh nào ở cơi con”,
nếu trong tâm ta c̣n một niệm
nào xấu ác, bất nhân ( là c̣n
chúng sanh ở cơi con ), nếu c̣n
ở cơi ta (
tâm ta ) là c̣n đọa trong ác
đạo. “Được
thần thông tự tại ba-la-mật-đa”,
nghĩa là trong tâm ta đă an ổn,
vui vẻ, sáng suốt, không vướng
bận, có suy nghĩ điều ǵ cũng
không làm hại ai, gây buồn
phiền, khổ sở cho ai, với ta
cũng chẳng c̣n niệm nào buồn
phiền, ta đang hân hoan, sáng
suốt trí tuệ đầy đủ, đó là những
nghĩ nhớ, là những chúng sanh (
niệm ) đang sống trong trạng
thái an lạc. Ba-la-mật-đa là
không c̣n sự ǵ ràng buộc, là
giải thoát, nếu niệm A Di Đà
Phật mà nghe tâm hạnh phúc an
lạc, vui sướng, không giận
trách, hờn, buồn, dù trước kia
đă có nhưng bây giờ không c̣n
niệm nhớ nữa tất cả đều quên, đó
là các niệm trong tâm, là những
chúng sanh trong tâm ta đă an
lạc. Phật gọi tâm đó là cơi nước
hay quốc độ, “Trong
khoảnh khắc đi trăm ngàn vạn ức
cơi Phật để cúng dường”. Nếu
thật tâm phục vụ chúng sanh,
không cầu danh lợi cho ta tức
cúng dường chư Phật, có nghĩa là
nếu ta lo được cho mọi
người, cho
chúng sinh là cúng dường chư
Phật. Mọi người dù mê muội nhưng
ai cũng có Phật tánh sẽ thành
Phật khi giác ngộ. Từ lúc ta
biết niệm Phật thấy rơ từng
niệm, từng niệm biết tâm được
hạnh phúc, vui vẻ, không thắc
mắc, giận trách, oán ghét ai cả
là ta đă cúng dường chư Phật
khắp 10 phương. Mỗi niệm không
loạn là giác (Phật) đă thành
Phật, là một vị Phật. C̣n ngược
lại măi hận thù, tranh chấp, là
đọa vào ác đạo, là nuôi dưỡng
chúng dạ xoa, v́ ta niệm dạ xoa,
không phải là niệm Phật. Nếu xem
kinh mà không sáng suốt được lư
kinh, không có hào quang trí tuệ
thông được lẽ thật theo ư chỉ
của Phật th́ cũng như ta đọc
kinh ngồi trong bóng tối không
thấy được ǵ cả. Trí huệ là đèn
(
nhờ đèn trí huệ quang minh soi
đường ). Nếu tâm ta chưa
được thần thông tự tại là c̣n
chấp kẹt vào việc thế gian, c̣n
giận, buồn, bực bội, nóng nảy
th́ không đền ơn cha mẹ, Cửu
Huyền Thất Tổ chư Phật khắp 10
phương. Ta không nên có tư tưởng
tự định đoạt cho rằng Phật ở
trên trời v́ đó chỉ là sự tưởng
tượng hoặc ở Niết Bàn v́ đạo
Phật rất đơn giản, không cầu xin
mà được, không đổi chát bằng một
h́nh thức nào v́ đây là lời phát
nguyện chính ta chớ không riêng
đức Di Đà. Đức Thích Ca đă khéo
léo dùng phương tiện huyền biến
dựng lên đức A Di Đà để chỉ tự
tánh ta, nếu bất cứ ai thành tựu
được điều này th́
liền có A Di Đà tại tâm (Phật
tại tâm) sẵn sàng cùng ta về
Tây phương Cực Lạc.
Cực Lạc nào ở đâu xa
Cực Lạc ḍng giống tâm ta vẹn
toàn
Cực Lạc là cái tâm vàng
Bên ngoài vướng bận khó sang vô
cùng
Bây giờ ta đă ngồi chung
Hăy về Cực Lạc ở chung một nhà
( nhà Như Lai )
Tạm đây là cơi Ta bà
Mà ṭa Cực Lạc gọi là tâm như
Đạo th́ đừng có riêng tư
Một ḷng tu niệm như Bổn Sư lúc
nào
Tu sao trên dưới một màu
Tu hành là đạo bước vào Phật
tâm.
Nguyện thứ 10
chúng sanh đều ví
Huyễn thân là mộng mị mà thôi
Vậy nên ḷng chẳng nhiễm đời
Tánh không ham muốn khắp nơi vui
cười
Nguyện giáp khắp cùng cúng dướng
chư Phật.
Ta phải dùng
huệ nhăn đi ṿng khắp trong tâm
ta, xét thấy không c̣n điều ǵ
nhơ bẩn, không c̣n điều xấu xa
tội lỗi, không c̣n độc ác đó là
cúng dường chư Phật khắp 10
phương.
10 phương ở đâu?
Ta phải hiểu trong kinh Phật dạy
có tám phương : Đông, Tây, Nam,
Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc, Đông
Nam, Tây Nam, trên một phương,
dưới một phương là 10 phương, mà
tâm ta đều chứa đủ 10 phương. Ta
hăy cúng dường chư Phật bằng
tánh trong sạch thanh tịnh sáng
suốt là khắp 10 phương, ta phải
tự phát nguyện với chính ta. Nếu
như ta lầm lỗi với cha mẹ, người
thân của ta muốn được tha thứ
tội lỗi, phải tự nguyện chừa lỗi
sửa sai, nguyện bằng thật tâm,
quyết định chừa bỏ không sanh
lại niệm cũ nữa, phải chặt chẽ
nơi ḷng thật cương quyết chớ
không thể đến trước Tam Bảo cầu
xin sám hối với tượng Phật mà
tâm không từ bỏ sự sai quấy th́
không phải nguyện chơn chánh
theo ư Phật dạy.
Nguyện mười một
tiên người tuy khác
H́nh dung đồng một sắc vàng y
Mặt mày nghiêm chỉnh phương phi
Trong ngần đẹp đẽ không chi sánh
bằng.
Nguyện 12,
nguyện quyết định thành bậc
chánh giác “Khi
con thành Phật nếu có chúng sanh
về cơi con”, nghĩa là nếu
c̣n những suy nghĩ, tính toán
trong tâm con, tâm con là quốc
độ tại tâm, thế giới tại tâm, v́
ngoài tâm không có thế giới quốc
độ nào khác. Nên Lục Tổ dạy “Trong
tâm có tất cả”, đức Phật
muốn chỉ tạng bí yếu sâu kính vô
cùng cho tất cả mọi người nếu đủ
duyên sẽ biết xa ĺa phân biệt.
Tâm không c̣n phân biệt, theo
Phật dạy không phải tâm lờ đờ
chết ai nấy chịu, bỏ mặc việc
đời, bi quan yểm thế, không phải
là không biết, không nghe, không
thấy, không cho rằng phân biệt
tôi giỏi, tôi đẹp, tôi giàu, tôi
hay, tôi đắc đạo, tôi tài, anh
xấu, anh nghèo, anh hèn hạ,
không kỳ thị phân biệt với nhau,
tất cả đều b́nh đẳng, tự tánh là
thanh tịnh b́nh đẳng giác kinh.
Tất cả chúng sinh đều có tánh
Phật đồng nhau nhưng chưa đủ
duyên để giác ngộ, nếu chỉ sống
với tâm bên ngoài là c̣n phân
biệt. “Khi
con thành Phật nếu có chúng sanh
vào nơi cơi con mà c̣n phân biệt
giàu nghèo, sang hèn, tốt xấu là
con không được chánh đẳng chánh
giác”. Ta đối với tất cả mọi
người giỏi, kẻ dở, dù sang hèn,
mê hay ngộ đều không phân biệt
v́ họ cũng như ta đều có cơ hội
chuyển đổi được, cũng có thể
giác ngộ. Nếu ta không c̣n tâm
phân biệt th́ sẽ thành Phật. Ta
không c̣n chấp ngă cho là ta tài
giỏi hơn người hay không cho
người khác là hèn hạ ngu si v́
tâm Phật là b́nh đẳng giác. “Các
căn tịch tịnh”
mỗi
người đều có sáu căn, mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ư, đều phải
TỊCH TỊNH. Nếu ta tu có ư trốn
bỏ thế gian t́m nơi yên tĩnh mà
ở th́ không có tâm thương yêu
chúng sinh. Tu là phổ độ chúng
sinh, ta vẫn ở trong cuộc đời
nhưng thấy vàng, bạc, của tiền,
tài sản, vật chất, món ngon vật
lạ, sắc đẹp uy quyền là thật, mà
hăy xét vào tâm không có niệm
ham muốn tâm vẫn b́nh yên, an
ổn, tự nhiên, khi đối diện các
pháp không duyên theo, không
khởi một cảm thọ nào đó là TỊCH
là TỊNH. Nếu nghe âm thanh dịu
ngọt, dễ yêu, dễ mến mà tâm
không rộn ră, không rối loạn là
tâm TỊCH TỊNH. Mắt tai mũi lưỡi…
trước kia đ̣i hỏi, ham muốn bây
giờ không c̣n nữa đó là TỊCH
TỊNH. Ăn chỉ vừa đủ no, mặc vừa
đủ ấm, không đ̣i hỏi, không khổ
sở là sáu căn đă TỊCH TỊNH.
Không đua đ̣i sự sống bên ngoài,
luôn luôn thức tỉnh bằng tâm
giác ngộ đó là TỊCH TỊNH. Tâm
dối với sáu trần không nhiễm,
không ái lúc nào cũng thường
sống với trí huệ sáng suốt,
không sống với tâm mê chạy theo
hoàn cảnh dục vọng ham muốn bên
ngoài ô nhiễm nữa nên “người
sống trong nước con sáu căn đều
TỊCH TỊNH”, “Nếu
chẳng an trụ trong Niết Bàn thề
không thành chánh giác”. Tâm
cứ măi lăng xăng,
đảo lộn, hễ nghe khua động đồng
tiền, sửa ngay ra dại chẳng
kiêng chút nào, mắt thấy sắc
không mê sắc, tai nghe âm thanh
không mê âm thanh,
miệng ăn chất
thơm ngọt
mà không đắm, không mê, thân
chạm xúc sự êm ấm, sang đẹp
không nhiễm là đă định tụ. Nếu
tu mà tâm lăng xăng, ham muốn,
đ̣i hỏi đủ điều th́ khó về quốc
độ Cực Lạc. Người tâm đă định tụ
được các pháp thế gian gọi là
đại Niết Bàn, không c̣n khổ đau
lo sợ không đau thương oán
trách, nên tâm hiện tại là trạng
thái đại Niết Bàn, chơn tâm
thanh tịnh đă hiển hiện, “nếu
không được như vậy thề không
thành chánh giác”.
Nguyện mười hai
mười phương thế giới
Thiên nhơn cùng các loại chúng
sanh
Hóa thân về cơi lạc thành
Chứng ngôi duyên giác Thinh Văn
dễ đồng
Ngồi thiền tọa tấm ḷng TỊCH
TỊNH
Hiệp cùng nhau tính tuổi ít
nhiều
Chẳng hề biết đặng bao nhiêu
Ngàn muôn ức kiếp số nhiều khó
phân.
Nguyện 13 và 14,
nguyện ánh sáng vô lượng nguyện
quang minh chạm được an lạc.
“Khi
con thành Phật có quang minh
chiếu khắp 10 phương”, khi
ta xem kinh không
được
sáng suốt, buồn ngủ, dă dượi là
không có trí tuệ quang minh làm
sáng được ư kinh tối
tăm gọi là
không có ánh sáng quang minh.
C̣n người có hào quang trí tuệ
coi đến đâu đều sáng, đều hiểu,
càng thâm nhập kinh, tinh thần
càng minh mẫn gọi là quang minh,
c̣n tăm tối lừ đừ gọi là vô
minh. Quang minh vô lượng chiếu
khắp mười phương, là trong tâm
bừng sáng rực rỡ, xem kinh đến
đâu càng thông suốt, hiểu biết
mật ư của Phật dạy. Mỗi lời kinh
là vô lượng nghĩa, là ánh sáng
vô lượng dẫn dắt ta về thế giới
Cực Lạc an lành, đó là hào quang
chư Phật rọi khắp mười phương.
C̣n tâm vẫn u tối là ta vẫn c̣n
ở trong lục đạo luân hồi, v́
không có ánh sáng quang minh nào
rọi vào lục đạo cả. Hào quang
sáng vô lượng gấp ngàn vạn lần
mặt trời, mặt trăng. Nếu đọc
kinh hay tự quán xét tâm mà thấy
được các cơi nơi tâm th́ ánh
sáng này sáng hơn mặt trời, mặt
trăng không hề bị ngăn ngại. Dù
mặt trời, mặt trăng có rọi cũng
không thấy được các cơi trong
tâm v́ ánh sáng này chỉ có giới
hạn ; c̣n hào quang là đại quang
minh chiếu xuyên suốt thấy hết
các cơi mười phương thế giới. Dù
đèn pha có rọi vào kinh mà người
xem kinh đần độn cũng không nhờ
đèn mà hiểu được. C̣n hào quang
sáng suốt trí tuệ sẽ chiếu sáng
vô lượng rọi vào kinh sẽ thông
suốt mật ư mà Phật muốn truyền
đạt. Nếu thông được kinh như ăn
được món ăn tinh thần được quang
minh chiếu khắp 10 phương. Hào
quang này trong kinh nói là SIÊU
NHẬT NGUYỆT QUANG NHƯ LAI. Nếu
có chúng sinh nào thấy hay chạm
ánh sáng với hào quang trí tuệ.
Nếu có chúng sanh nào nghe thấy
hiểu biết lời khai thị, được
nghe giảng dạy cho họ mà người
nghe hiểu được là họ đă chạm vào
được ánh sáng trí huệ vô lượng
của người giảng, th́ từ nơi tâm
địa người nghe cũng có sự sáng
suốt thanh tịnh bay vọt ra an
lạc, thông suốt vô cùng, sự hạnh
phúc qua trạng thái tuyệt vời
khi được chạm vào ánh sáng quang
minh. Tu là phát sinh trí huệ
làm lợi ích cho ḿnh và cho
người. Nếu người sờ đụng ánh
sáng tức là nghe, thông, hiểu
đều sáng suốt tự tâm an lạc vô
cùng, sẽ khởi
niệm thiện lành khi ánh sáng từ
bi chạm đến. Khi nghe giảng dạy,
khai thị từ sự bí yếu, vi diệu
của tự tánh ta liền giác ngộ
buông bỏ vạn duyên, biết pháp
đời là giả tạm, là vọng huyễn,
biết giữ ǵn ngũ giới, tu tứ đế,
tu thập thiện chứng quả Thinh
Văn, giác ngộ hết vô minh, biết
rơ duyên là tan hợp bởi luân
hồi, v́ mê lầm nên sanh tâm đau
khổ. Khi giác ngộ nhân duyên ta
trở lại tâm niệm thiện lành,
biết rơ sự luân chuyển sanh diệt
của thập nhị nhân duyên, phát
tâm bố thí. Thí ngoại tài là san
sẻ áo cơm, tiền bạc là điều tốt
ở thế gian, làm tất cả việc lành
nên không c̣n vô minh lao vào
tội lỗi nữa. Nội tài là bố thí
tất cả tài sản v́ mê muội chứa
giữ vào tâm như tham, sân, si,
phiền năo, tự cao, ngă mạn, chấp
thân là thật, bảo thủ, ích kỷ,
tranh giành v.v… đó là những tài
sản đă làm khổ ta nên phát tâm
bố thí tất cả, thí không thấy
người cho và không thấy người
nhận là đại bố thí. Quyết ḷng
tu học chơn chánh thành Phật
giải thoát, là làm tất cả việc
lành, không c̣n vô minh tội lỗi
nữa, ta phải nhận rơ việc này,
ánh sáng vô lượng là sáng nơi
tâm, sáng nơi trí huệ.
“Nguyện
chạm quang minh được an lạc”.
Nếu ta chạm được quang minh,
được phước duyên gần gũi chạm
vào người trí huệ khuyên nhắc,
dạy dỗ đó là thiện tri thức nên
ta được an lạc b́nh đẳng giác
giống như trí huệ quang minh của
chư Phật vậy.
Phật tử nghe thầy nhắc nhở
Biết bao lâu mới nở được sen
ḷng
Sen này tu học rất dày công
Hết ḷng v́ Phật đạo, hết ḷng
v́ trần gian
Tự nhiên phiền năo tiêu tan
Bước dần vào trí huệ vẻ vang vô
cùng
Bên ngoài sắc đẹp h́nh dung
Rọi vào trí huệ sáng bừng mười
phương
Bây giờ hạt giống ḿnh ươm
Gieo vào tâm nội ta ươm quả Niết
Bàn
Gieo vào tâm đạo sự b́nh an
Gieo vào tâm đạo thế gian vui
mừng
Tự nhiên sáng suốt vô cùng
Vui mà c̣n đẹp vui cùng khắp nơi
Vậy gọi rằng Phật tử của Thầy ơi
!
Hăy về cùng Phật rạng ngời từ
nay
Nghiệp trần nhất định không vay
Sống bằng Phật trí ngày nay hẳn
ḥi
Tự nhiên túc một tiếng c̣i
Gọi kêu Phật tử giống ṇi là
Phật tâm
Nguyện rằng giác ngộ không lầm
Ta về với Phật cho tâm sáng ngời
Tu hành chớ đợi chiều mơi
Sống đời giác ngộ thảnh thơi an
nhàn.
( Thích Minh Đức )
Người chịu
học ham tu có trí huệ gọi là
chạm được quang minh, tâm an lạc
v́ không c̣n chất chứa sầu năo
đă thật sự b́nh an. An lạc không
là cảnh an ổn, vắng vẻ để lẫn
tránh cuộc đời, hay nghe thấy sự
vừa ư, vừa ḷng mà đắc ư. Phải
an lạc trong mọi hoàn cảnh bất
cứ như thế nào, được, thua, vừa
ḷng, không thích cũng không
sanh niệm phiền năo, đau khổ ;
ưa thích hay vui vẻ mà tâm luôn
an định tự tại khi đối diện các
pháp, sự an lạc thật sự là ta,
người, vật hoàn cảnh đều tự tại.
Người đă quyết chí tu học đối
với giáo lư nhà Phật mỗi câu,
mỗi nghĩa là vàng, là châu ngọc,
là tài sản vô giá mới có thể vào
ḍng Thánh quả được v́ chúng
sanh đă lạc lầm từ vô lượng
kiếp. Vô lượng kiếp có 2 nghĩa :
1- Thời gian
rất dài phải vượt nhiều tiểu
kiếp đến đại kiếp.
2- Tướng
là dăi đăi, hôn trầm, phóng dật,
thùy miên, biếng nhác, không
chăm. Người tu phải tinh tấn
vượt qua mọi nạn kiếp (
từng tà niệm ) mà trong kinh
Tổ nói “Nhảy
khỏi đầu sào trăm trượng”.
Nếu măi ở trong dục lạc tham cầu
không thể an lạc được, đây là
đại nguyện do đức Phật Thích Ca
Mâu Ni dạy cho vua Vô Tránh Niệm
tức Ngài Bảo Tạng tỳ kheo và cho
tất cả chúng ta thảy đồng phát
nguyện tu hành để trở lại Di Đà
tự tánh thanh tịnh b́nh đẳng
giác. Ta phải hết ḷng tha thiết
mà phát nguyện, đó là lời thề
tận đáy ḷng trước Phật, tâm
kiên cố không thối chuyển,
nguyện khắc phục sửa sai, chấm
dứt mọi mê lầm bởi vọng tưởng
điên đảo, phải phát tâm thực
hành cho chứng quả Thánh. Không
nguyện đẩy đưa ngoài miệng lấy
có, gọi là trả nợ th́ không ích
lợi ǵ cả. “Khi
con thành Phật sống lâu vô lượng”
kinh dạy rằng “Kiến
Phật dứt sanh tử”, nghĩa là
thấy Phật (
tánh Phật ) sống lâu vô
cùng. Kiến Phật là thấy Phật
thấy tánh. Thấy tánh là ta buồn
th́ thấy tánh ta đang buồn, giận
th́ thấy tánh ta đang giận, tham
là thấy tánh ta đang tham, sân
si th́ thấy tánh ta đang sân si,
mê muội th́ tánh ta đang tối
tăm, ganh tỵ th́ tánh ta đang
ganh tỵ, tự ái tự cao tánh ta
đang tự ái tự cao… đó là những
bệnh hoạn của tâm người, khi
những niệm này xuất hiện làm
chơn tánh ch́m vào quên lăng, ta
phải tự giác sửa ngay v́ phiền
năo tức bồ đề. Trong phiền năo
có sẵn bồ đề, chỉ cần phát hiện
đó là tâm phiền năo liền giác
sửa ngay, tự chuyển hóa, buông
bỏ, niệm phiền năo lập tức là bồ
đề. Phật dạy rằng, nguyện độ tất
cả chúng sanh trong tự tánh (tâm)
thành chánh giác, nếu vừa khởi
tham sân si th́ niệm ta là Bồ
tát liền giáo hóa các chúng sinh
mê muội tại tâm, ta là Bồ tát độ
các niệm cứu chúng sinh nơi địa
ngục, ngă quỷ, súc sinh, nguyện
dẫn dắt tất cả niệm mê là các
chúng sanh tại tâm thoát khỏi
cơi đọa tam đồ khổ, ta phải độ
tất cả chúng sinh tại ḷng. Kinh
nói rằng “độ
hết thảy chúng sanh, nhưng không
có chúng sanh nào được độ cả”,
ta phải tự giảng giải cho ta (
chúng sanh trong tâm ) bằng
quang minh sáng suốt.
Quang minh vân đài biến pháp
giới
Cúng dường tam bảo khắp mười
phương.
Tánh dục là
ham muốn nếu không được như ư sẽ
khổ, lường lận gian dối sẽ khổ,
sân hận oán thù sẽ khổ, những
niệm tưởng này luôn xúi dục ta
buồn khóc, chửi mắng, hại người,
hơn thua. Ta dạy chúng sanh
trong tâm cũng giống như dạy dỗ
con cái trong nhà, không để
chúng tự do mà phạm pháp. Con
khổ th́ cha mẹ cũng khổ, trong
tâm ta có đủ niệm súc sinh là
rắn rít, cọp, beo, trâu, chó là
những niệm độc ác cần phải tự
dọn dẹp. Phật dạy tu là buông,
là xả cho sạch những tư tưởng
này để cơi tâm trở thành hoàn
toàn là thế giới quốc độ của bậc
Thánh nhơn. Chư Thiện nam tử,
Thiện nữ nhơn là những người
nam, người nữ đă hoàn thiện pháp
tu đă tự giác, là chư Thượng
Nhân, biết thân sống giữa cuộc
đời mà tâm là Tây phương Cực
lạc, đó là giáo hóa tất cả chúng
sanh thành chánh giác.
Tâm si từ
nơi tham mà ra, v́ tham không
thỏa măn nên sân si, hờn oán v́
sự tối tăm dốt nát, si là ba con
rắn độc, tham là rắn hổ mang,
sân là rắn hổ lửa, si là rắn hổ
gầm là tam độc. Hiện ta thường
nuôi dưỡng trong tâm hằng ngày
v́ si mê nên không phát hiện.
Phật dạy phải thấy tánh để nhận
rơ điều này mà tu tập. Tu là
thường giác, không bỏ rơi tánh
giác chết lịm v́ si mê. Khi tham
sân si nổi lên phải thường thấy,
tự ta chuyển hóa thành niệm
giác. Phật dạy “mê
không sợ, chỉ sợ giác chậm”,
phải thường cảnh giác trong cuộc
sống lúc nào cũng có tánh giác
theo kèm bên khi các niệm sanh
khởi. Giác là ta phải tự giữ lấy
niệm khởi chính tại tâm ta. Muốn
làm Phật cũng ta, làm ma cũng tự
nơi ta, giác mê tự ở ḷng ta.
Phật ma gần nhau như chuyển hơi
thở. Phật nói “Khảy
móng tay sẽ tới Tây phương”.
Nếu măi chạy theo niệm mê muội
th́ Ta bà cách Tây phương mười
muôn ức cơi. Tất cả chúng sanh
chư Phật đều ở trong thập pháp
giới, chỉ là mê ngộ thôi. Vẫn có
ngạ quỷ, súc sanh đây chỉ là do
niệm khởi, nếu tâm khởi niệm
Phật là Phật, khởi niệm mê là
ma, ta thường sống trong tánh
giác nên Phật vẫn là Phật,
thường sống trong dục vọng là
nuôi dưỡng ma. Kinh nói rằng “Phàm
Thánh đồng cư độ”, ta cùng
Phật không khác, vẫn có đầy đủ
các niệm tham, sân, si nhưng
khác chỗ Phật th́ sử dụng trí
huệ sáng suốt, thương yêu, cứu
giúp muôn loài, sống với ḷng từ
bi hỷ xả, đem an vui, hạnh phúc,
tốt đẹp đến mọi người, không bám
níu vào các pháp giả tạm. Ma th́
sử dụng tánh phàm phu mê muội,
tối tăm, tự tư, tự lợi cho cá
nhân, không màng đến sự đau khổ
của muôn loài. Phật cũng là một
con người nhưng biết sống bằng
trí huệ nên gọi là Phật. Ta cũng
là con người v́ sống trong vô
minh tham, sân, si nên gọi là
chúng sanh, phàm phu mê đắm.
Trong tự tánh Phật và phàm phu
đều có đủ giống như nhau, nhưng
Phật chọn những pháp thiện lành
là chánh pháp làm mạng sống, gọi
là pháp thân Phật. Chúng sanh mê
đắm dục lạc, cứ chọn tà pháp
tham, sân, si làm mạng sống gọi
là tà mạng, tu học cần thông
suốt điều này, kinh dạy :
Phật chúng sanh tánh thường rỗng
lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang
sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.
Nghĩa là tánh sẵn có chúng sanh
là tự nhiên rỗng lặng, không
thiện, ác v́ niệm phân biệt,
không ngă nhơn chúng sanh thọ
giả, chấp vào tướng nên sinh ra
có các cơi. Giác là Phật, mê là
chúng sanh. Tự tánh vốn như
không, giác không mê, không
chơn, không vọng, tự tánh như
trên gọi là rỗng lặng. Tánh
thường rỗng lặng nếu có những
duyên tự kết hợp mà thành tựu
các pháp, các pháp đều cảm thông
nhau tùy duyên đến tùy duyên đi.
Phật dạy khổ tập diệt đạo là
pháp bảo, là mạng lưới sáng suốt
của bậc giác ngộ, giúp người tu
tập thông hiểu được tứ khổ, biết
được pháp
bằng trí tuệ, gọi là bảo châu,
là đạo tràng nhờ ánh sáng quang
minh dẫn ta đến bờ giác ngộ,
sáng suốt khắp mười phương.
Phải
thường nuôi dưỡng thánh thai,
nuôi dưỡng tự tánh trí huệ tỏ
rơ. Tu là nuôi thánh nhơn thành
thánh quả cho lớn, có vô số
Thanh Văn, Trời, Người trong
nước đều thọ mạng vô lượng. Khi
quán sát tự tánh ta hăy nhớ lời
Phật dạy, thế gian có tứ diệu đế
là tứ khổ (khổ,
tập, diệt, đạo). Nghe Phật
dạy ta biết rằng tham thân là
khổ, thân già th́ khổ, thân đau
bệnh th́ khổ, nhớ đến thân sẽ
chết th́ khổ, v́ vô minh tưởng
thân là thật có, tham thân chấp
chặt cho thân là thật của ta,
quên mất tánh giác. Phật dạy
đừng mê thân, chỉ tạm nương thân
mà tu hành. Bậc Thanh Văn biết
thân này v́ tham sân si, ích kỷ,
hẹp ḥi đang mang nặng liền có
chánh tri kiến, đă thấy rơ sáng
suốt. Nếu không chánh kiến chỉ
biết sử dụng ngôn ngữ phàm phu
là lời nói từ niệm tham sân
si, phiền năo, mạn nghi, ác
kiến, tà kiến, kiến thủ, giới
cấm thủ v.v…
Muốn vào ḍng thánh nhơn phải bỏ
những niệm phàm phu này, dẹp cho
rỗng lặng các tà niệm đă làm ô
nhiễm tâm. Nếu muốn vào hàng
Thánh Nhơn mà c̣n mê đắm th́
không là Thánh Nhơn được. Kinh
Thủ Lăng Nghiêm dạy nếu người tu
miệng niệm Phật mà tâm niệm vào
lục đạo luân hồi, c̣n lăng xăng,
niệm chạy theo vọng tưởng mê đắm
cuộc đời là c̣n sống bên ngoài
tư tưởng đó tại tâm là tà niệm,
là tẩu hỏa nhập ma, lầm cho ta
là Thánh Nhân mà tâm c̣n tham
sân si, lừa đảo. Hăy trực nhận
tại tâm, biết đó là ma đang nhập
tâm, chớ không cần xưng danh vị
ǵ. Không xưng Tiên, Phật, Thánh
nhưng giác ngộ nh́n vào đời
sống, nh́n vào hạnh tu qua hành
động, lời nói, không tham sân
si, các niệm xấu ác không c̣n,
ta có thể kết luận người đó là
bậc Thánh Nhơn đang ở trong
Thánh quả. Nên cơi Cực lạc có vô
số Thanh Văn, khi phát nguyện
muốn về cơi Phật ở an nơi này
phải sống bằng hạnh Thanh Văn,
các niệm mê lầm đă chuyển hóa
khi giác ngộ v́ đă phát nguyện
theo lời Phật dạy gọi là có vô
số Thanh Văn ở cơi Cực lạc, tức
là có vô số niệm giác, thông
hiểu pháp tứ đế đă giác ngộ về
cơi Phật. Nếu hằng ngày thường
sống trong niệm sáng suốt th́
Trời người đều có thọ mạng. Ta
giữ được năm giới, mười giới
không phạm là đă thường sống với
tánh giác. Đây là giới từ tánh
giác giữ giới bằng tâm tự nguyện
quyết không lầm lỗi, không v́ sợ
tội mà giữ bên ngoài. Giữ bên
ngoài chỉ là giới tướng, c̣n
giới tánh tự nơi tâm ǵn giữ
không sai phạm, tự ta trong sạch
lấy để làm người xứng đáng trong
cơi Phật, Thanh Văn trong cơi
Phật, Trời trong cơi Phật, luôn
luôn mạng sống là giới thanh
tịnh, tự ta thanh tịnh lấy tâm
ta. Thanh tịnh hay không tịnh,
tự tịnh, không ai thanh tịnh ai,
tự ta thanh tịnh lấy ta. Tự ta
thanh tịnh không cần giữ giới
cho ai thấy v́ đó tu c̣n vướng
vào danh. Ta tu cho chính ta, bỏ
hẳn phiền năo, bực bội, cuồng
loạn, si mê, hung ác … những
chướng loạn này giết cuộc
đời ta, hại ta đau khổ chết đi
sống lại nhiều lần trong vô
lượng kiếp, hiểu được như vậy tự
ta khắc phục lấy, không tu
biểu diễn cho ai nh́n ngắm cả.
Nếu tụng kinh nhiều, gơ mơ
nhiều, niệm Phật nhiều, làm
thiện nhiều mà trí huệ không
sáng suốt, thanh lọc được tâm
cho trong sạch, th́ tham, sân,
si, hỷ, nộ, ái, ố vẫn chứa đầy
chất ngất nơi tâm là chưa tu
được chút ít nào cả.
Tụng kinh
gơ mơ, niệm Phật, tu thiền mục
đích là thâm nhập lời dạy của
Phật để sửa tâm, niệm Phật để
dừng vọng tưởng trở lại chánh
niệm, tu thiền cho tâm an định
sáng suốt sinh trí huệ, không
làm được điều này th́ chẳng ích
lợi ǵ cho tâm cả. Không sinh
trí huệ th́ không thể chạm vào
quang minh nên không an lạc
được. Bên ngoài là gió bát phong
: lợi, hại, nên, hư, khen, chê,
tốt, xấu đó là duyên gặp nhau
chỉ thổi phớt qua không thật, tu
phải hiểu được điều này tự sửa
chữa tâm không c̣n vướng bận.
Khen cũng không màng, tâm vẫn
b́nh thường, chê cũng không khổ
; khen là nịnh bợ, chê là đạp
đỗ, tự tánh là hằng giác nên
biết lợi hại là lẽ tự nhiên
trong đời, không cho là hên xui,
chỉ là gió thoảng không quan
trọng. Tiếng nói âm vọng cũng là
gió ta không chạy theo mà đau
khổ, phải trở về thực tướng
thanh tịnh là chơn tâm, phải xa
ĺa vọng tâm là giả tướng. Tu
phải nhận rơ điều này (
học đạo mà không thấy nguồn tâm
là vô ích ). Ngũ Tổ Hoàng
Nhẫn dạy, hành đạo mà không dụng
được tâm là trở thành vô ích, tu
bao nhiêu cũng vô ích không lợi
lạc ǵ cho Phật tâm cả. Mặc dù
là Thanh Văn, Trời, Người chưa
thành Phật quả mà thường xét
thấy tâm tánh của ḿnh, luôn
luôn giữ giới chơn chánh, khi
gặp buồn phiền nóng nảy, si mê,
c̣n niệm giết hại hăy coi lại
tâm c̣n có niệm sát không? C̣n
mê sắc dâm dục không? Phải nh́n
rơ các tướng đều là không thật
tướng, tất cả là giả tạm không
thật tướng. V́ tâm mê vọng nên
không sống được với chánh tướng,
chơn tướng. Phật dạy quán bạch
cốt bên trong lớp da chỉ là
xương. Quán thân bất tịnh là
thân này sẽ tan ră, hôi thúi
không có ǵ tốt đẹp cả. Ta cứ
dựng lên cho là ngă. Sắc thọ
tưởng hành thức là ngũ uẩn vốn
giai không, mọi thứ đều vô
thường, sẽ tan hoại khi
hết
duyên. Nếu c̣n mê thân, mê vật
chất, tiền của là c̣n mê ngoại
đạo không vào được Phật đạo.
“Giả
như có ba ngàn đại thiên thế
giới chúng sanh đều thành duyên
giác trong trăm ngàn kiếp, cùng
nhau tính đếm, nếu biết số lượng
ấy, không thành chánh giác”,
nghĩa là trong tự tánh có vô số
chúng sanh đều có thể giác ngộ
được. Muốn giác ngộ thấy nhân sẽ
biết quả, hằng ngày ta nói ǵ ?
Nghĩ ǵ ? Làm ǵ ? Hành động ǵ
? Quán xét nhân sẽ biết quả. Có
vô số điều tức là vô số pháp ở
thế gian để được chứng ngộ. Khi
tâm nổi giận ta xét lại sự giận
kéo dài bao lâu, đau khổ bao lâu
ra sao? Người đối diện khổ như
thế nào? Những điều thiện lành
tốt đẹp, điều nên hư ta đă làm,
xét lại tâm cảm nhận sự an lạc
của các việc làm ra sao? Hạnh
phúc thế nào? Ta đem cho người
sự an lạc vui vẻ như thế nào? đó
là niệm đă giác ngộ. Trong tâm
ta có vô số niệm, xưa nay ta
thường sống bằng niệm
tiền, niệm tài sản, niệm nhà
cửa, niệm đất vườn, niệm oan
trái, niệm đẹp,
niệm sự
sang quư, niệm phải, niệm quấy…
toàn
sống với niệm, với suy nghĩ, tư
tưởng mà ta nào biết, luôn luôn
biến hóa theo tâm phàm tục đó là
tư tưởng phàm nhơn. Nếu không
thấy được cứ chạy theo vô minh,
tăm tối là không thấy đường đi.
Ta phải biết rơ lúc nào ta đang
giận, ta đang mê, ta đang buồn,
ta đang khổ, ta đang tốt … đó là
những tư tưởng vô h́nh, niệm
niệm liên tục không bao giờ
ngừng nghỉ. Người làm chủ tâm là
sắp xếp được tư tưởng chính
ḿnh, người không làm chủ được
niệm, bị tư tưởng mê hoặc cứ
chạy theo danh lợi, sắc, tài,
măi lạc vào rừng mê, tánh giác
bị che khuất, trí huệ lu mờ.
Người trí huệ làm chủ được các
niệm tại tâm ḿnh, từ niệm tưởng
sẽ phát sinh lời nói. Nếu các
niệm không chơn chánh, tánh giác
không làm chủ được th́ nguyện
không thành Phật. Nếu làm được
những điều này, thực hành được
điều này mới có khả năng xứng
đáng là người giác
ngộ. Nếu tu lâu năm mà không
được niệm giác th́ chỉ hoài
công.
“Nguyện
thọ mạng vô lượng”, người tu
không nghĩ đến sự chết. Nếu niệm
chết là
c̣n nghĩ nhớ đến thân, nghĩ đến
cái chết sẽ niệm đến sự bỏ của
cải, tài sản, bỏ con, bỏ vợ
chồng, nên Phật dạy ĺa các
tướng mới là chơn thật tướng.
Mắt, tai, mũi, lưỡi đụng chạm
sanh cảm xúc là tướng của sáu
trần. Nếu biết buông xả liền
nhập vào tánh giác vô lượng thọ,
tức là măi măi không gián đoạn.
Nguyện theo thần lực Tam Bảo,
theo trí tuệ Phật làm người
thiện lành, phải luôn sống với
tự tánh giác ngộ các pháp. Nhơn
thiên là niệm thường sáng suốt
giữ ǵn thập giới thanh tịnh,
tạo những điều ích lợi cho mọi
người mà vẫn thường ở trong tánh
giác. Đến các bậc duyên giác là
các tâm niệm giác, biết rơ sự
vận hành luân chuyển của thập
nhị nhân duyên, ngộ tất cả pháp
đều do duyên sanh, cũng do duyên
diệt, lúc nào cũng ở trong tánh
giác, ǵn giữ mỗi niệm sáng
suốt, thanh tịnh liên tục nên
nói có vô số Thanh Văn. Trong
nước có vô số Thanh Văn, Duyên
Giác, các hàng Trời,
Người đều vô lượng, người kiến
tánh không xa ĺa trí huệ. Tổ
dạy niệm niệm mà vô niệm, ta
đừng lầm lẫn vô niệm
là không có niệm. Đó chỉ là danh
từ, ta không lệ thuộc vào văn tự
mà nên chứng ngộ pháp tu. Vô
niệm là không duyên theo niệm,
không bám víu vào phân biệt, so
sánh gọi là vô biệt niệm. Phật
dạy tất cả giọt nước mắt đều có
vị mặn, máu con người đều đỏ,
không phân biệt giai cấp nào cả,
ai cũng là con người, đều có
Phật tánh giống nhau. Không phân
biệt đó là vô biệt niệm, không
c̣n suy nghĩ niệm như thế này,
việc như thế nọ, thế kia, không
cố chấp vào bè phái, không cho
rằng cao thấp, khôn dại, nên hư,
được thua, riêng tư gọi là bất
tùy phân biệt, đó là niệm vào sự
vô phân biệt. Sống với tánh giác
là thường sửa sang từng tâm niệm
gọi là phân biệt trí.
Thời đức
Phật lúc ngồi thiền trong rừng
tu pháp quán tâm, có Dạ xoa hiện
ra (
Dạ xoa là nói đến niệm mê chấp
c̣n trong tâm ) nói với Phật
một bài kệ ca ngợi về pháp
thế gian, đức Phật liền đọc một
bài kệ giảng giải về chơn lư,
nghe xong Dạ xoa liền biến mất.
Câu chuyện
trên đây chỉ đến những niệm mê
muội, thấp hèn, độc ác tại tâm
con người, các niệm đó được
tượng trưng là dạ xoa. Bồ tát tự
tâm là niệm sáng suốt, trí tuệ
tại tâm liền giảng cho Dạ xoa (
tự niệm tâm ta ) nghe rằng:
“Này
hỡi ác nhơn, từ lâu nay những
niệm ác do tâm tạo ra, như lửa
cháy đốt cả cuộc đời, ngươi hăy
tự sửa chữa tự cứu lấy” th́
Dạ xoa liền biến mất (
niệm xấu ác trong tâm tự mất
), đó là các niệm trong tâm tự
sinh khởi biến ra dạ xoa. Khi ta
sáng suốt giác ngộ làm chủ được
sẽ tự biến mất tại tâm v́ tánh
giác đă phát hiện Dạ xoa là tham
sân si có sẵn trong tâm, nếu
không cảnh giác thường hiện ra,
ta hăy dùng trí huệ có sẵn làm
nhiệm vụ Bồ tát thường giáo hóa
chúng sanh, giảng dạy cho các
niệm Dạ xoa tự
biến mất v́ đă chạm vào trí huệ
quang minh của A Di Đà. Các
chúng sanh mê muội trong tâm từ
vô lượng kiếp măi khổ đau v́
không được Bồ Tát sáng suốt d́u
dắt, giáo hóa nên măi chịu luân
trầm trong ác đạo.
Lúc đó có
những hàng chư Thiên từ hư không
bay tới nói với Phật rằng : “Tôi
sống an lạc ở cơi Trời rất hạnh
phúc và hứng thú”, Phật trả
lời rằng “Dù
cho có an lạc ở trong phước
nhưng không bền, không chắc,
không tự giải thoát, phước đó
chỉ giới hạn, không được vô
lượng, đừng nên cố chấp, các
niệm luôn biến hiện theo sự ham
muốn mà quyến rũ ta”. Đức
Phật sáng suốt trí huệ nên
thuyết pháp bằng cách nh́n vào
tự tâm nói về khắp các cơi v́
trong tâm có đầy đủ tất cả,
trong tâm chứa muôn pháp.
Lúc 49 ngày ngồi thiền định dưới
cội Bồ đề, các niệm trong tâm
Ngài sinh khởi tự biến hiện.
Ngài nhớ đến người thân là công
chúa Da-du-đà-la, La-hầu-la
tượng trưng niệm tham ái, nhớ
đến cung tần mỹ nữ là niệm ái
dục nên gọi là ma nữ. Niệm nhớ
vật chất của cải, ngôi vị vua
chúa là ma, danh lợi, tất cả
pháp đều là hoàn cảnh bên ngoài
tạo thành tâm dục vọng, là niệm
biến hiện tại tâm Ngài. C̣n niệm
lai văng sự luân hồi của các tà
niệm chưa quá văng vẫn c̣n sanh
khởi, các pháp vọng tưởng là giả
tạm chợt hiện
đến, các
niệm này đă thành tựu trong thời
gian Ngài
đă tiếp xúc cảm thọ vào tâm, đó
là nghiệp của thế gian c̣n tồn
tại bởi thói quen huân tập, biến
thành từng niệm nghĩ nhớ về quá
khứ. Nên khi thiền định các niệm
xưa cũ quay lại quấy nhiễu, ngăn
che sự thanh tịnh, giác ngộ đó
là chúng ma : ma t́nh ái, ma
tiền tài, ma danh vị, ma sắc
dục, biến hóa bằng tâm niệm để
dẫn dắt tái sanh luân hồi về
niệm cũ. Nếu không tự giác sẽ là
nghiệp, dẫn ta luân hồi vào ác
đạo. Đức Phật là bậc Thiên Nhơn
Chi Đạo Sư, thường sống hào
quang đại quang minh trí huệ,
chiếu soi khắp mười phương các
cơi trong tâm, có trí lực biết
rơ nguồn gốc các pháp, biết chắc
chắn đó là mê vọng của vô minh,
đă hằng gạt gẫm chúng sanh đọa
vào ác đạo, nên đức Phật ung
dung tự tại giải thoát, v́ đă
giáo hóa các tà niệm hùng dũng
giữa chúng ma không c̣n niệm
nghĩ nhơ, dứt khoát xa ĺa với
hào quang tự tại. Phật chỉ nhập
định tọa thiền tại chỗ, thân
chẳng di chuyển đi đâu, không
cầu cúng van xin, không nương
vào các pháp thế gian, Ngài giác
ngộ tất cả các niệm mê lầm điên
đảo, tự độ hết chúng sanh trong
tâm thành chánh đẳng chánh giác,
tâm không c̣n ô nhiễm, sáng suốt
rộng lớn chiếu soi vạn pháp.
Ngài đă là bậc chánh đẳng chánh
giác nên ma Vương tức là các
niệm trong tâm đă khuất phục
trước sức mạnh của định lực tự
giác. Ta phải thường độ chúng
sanh nơi tâm đắc thành Phật quả.
Nếu không
độ được chúng sanh trong tâm cứ
dẫn ta đến sự nói dối, lừa đảo,
giận hờn, la hét, phá hoại chơn
lư của ta. Ta học Phật pháp để
làm ǵ? Để độ để giáo hóa chúng
sanh tự tâm, được giác ngộ,
không c̣n tự tung tự tác phá
hoại đời ta. Vậy ta nguyện là
quyết ḷng phấn đấu, tinh tấn độ
tất cả chúng sanh trong tâm
không vào địa ngục. Ta phải tự
phát nguyện rằng “nếu
trong tâm ta c̣n một chúng sinh
( một niệm mê ) mê muội thệ
không thành chánh giác”. Tâm
có đủ Trời, Người, Thanh Văn,
Duyên Giác tất cả đều được tánh
giác giáo hóa đến chơn như, như
thường, như nhiên, như như,
chẳng
động, ngửa
nghiêng
bên nào. Mọi người làm điều ǵ
sai đúng ta đều nghe biết hết
nhưng không chấp giữ để vào tâm,
v́ đă sống được với bản thể chơn
như, đó là chơn tâm bất sanh bất
diệt. Ai đều tự có duyên nấy,
mọi pháp tu khác nhau tùy căn cơ
tùy tâm lượng, không chấp vào sự
tướng mà chê bai phỉ báng. Bổn
phận người hướng đạo là nhắc nhở
cho ta hết ḷng, c̣n sự tu học
c̣n tùy ở mỗi con người, không
muốn, không cầu, không sợ chi
cả. Ta không sống với tâm sanh
diệt luân hồi, v́ nó đă che lấp
chơn tâm. Kiến tánh làm chủ được
sanh già bệnh chết v́ kiến tánh
là sống được với tự tánh sáng
suốt. Mê muội th́ sống với xác
thân ngũ uẩn, tứ đại, ăn uống,
ngủ nghỉ. Nếu cứ chạy theo thân
tứ đại, th́ có sanh già bệnh
chết vô cùng khổ sở. Sống với tự
tánh là thường thấy các niệm,
nếu sống với niệm nào phải biết
rơ, thường niệm khổ, niệm buồn,
niệm vui, niệm phiền năo ta đều
thấy thật rơ ràng mới có thể
giáo hóa các niệm trở thành
chánh niệm. Lúc nào cũng ở trong
chơn chánh mà giáo hóa những
niệm sai lầm, nếu được vậy th́
tất cả chúng sanh trong tâm và
chúng sanh ngoài thế gian đều an
ổn hạnh phúc, đều trọn thành đạo
quả. Phải theo dơi giáo hóa
những tư tưởng sai lầm, xây dựng
những tư tưởng này trở nên chơn
chánh là chánh
niệm. Phải xây dựng những niệm
xấu xa, phiền năo, sân si trở
nên tốt đẹp, thành những lâu đài
Bồ đề mà cơi Cực lạc đức Phật đă
từng diễn nói. Không theo cảnh
mà bỏ tâm v́ cảnh là sanh diệt,
tâm là ṿi vọi muôn đời không
mất, vạn kiếp cũng là tâm. Nên
con người có tâm mà lại bỏ tâm
là quên bỏ chính ḿnh. Ta thường
săn sóc tắm rửa thân xác, c̣n
tâm thanh tịnh là Phật mà không
hề để ḷng dọn dẹp, chùi lau, để
tâm phải chịu lu mờ bởi bụi trần
làm ô nhiễm.
Niệm Phật
phải niệm bằng tánh giác, nếu
chỉ niệm bằng miệng mà tâm rối
bời, điên đảo, măi niệm nhớ vọng
tưởng buồn vui, thương giận,
ghét, ghen, đau khổ, mê muội,
phải dùng tánh giác sửa soạn hết
những niệm này cho trong sạch
mới đúng là thực tướng niệm
Phật. Miệng niệm Phật mà tâm
không sửa th́ tâm vẫn c̣n mê v́
miệng niệm Phật mà tâm niệm vào
lục đạo luân hồi, phải biết tự
biến hóa phiền năo tức bồ đề mới
là quang minh trí huệ. Tánh giác
là biết sửa soạn các niệm hoàn
mỹ tốt đẹp, chuyển hóa chúng
sanh mê muội thành trí huệ. Tâm
phải có đầy đủ từ bi hỷ xả mới
là chơn niệm Phật, nếu không
niệm trần lao th́ chứng thánh
quả.
Nguyện mười ba
thiên nhơn trên giải
Hiệp cùng nhau đến măi dân cư
Không hề biết rơ số dư
Tại An Dưỡng Quốc nhiều như cát
Hằng.
Nguyện mười bốn dân hằng quốc độ
Thảy thảy đồng trường thọ miên
miên
Không sao biết đặng số niên
Sống lâu vô lượng, vô biên kiếp
đời.
Nguyện mười lăm
dân thời thanh tịnh
Trụ vào ngôi chánh tín tự nhiên
Ly chư loạn tưởng đảo điên
Đắc vô phân biệt chứng duyên
Niết Bàn.
Nguyện mười Sáu
Lạc bang dân chúng
Vui vẻ mà thọ dụng đủ điều
Thảy đồng với các Tỳ kheo
Chứng phần vô lậu chẳng theo sự
đời.
Nguyện mười bảy
chư Phật
xưng tán.
Tự tánh là
tánh vua, cai quản tất cả các
pháp, phàm phu chúng ta v́ mê
lầm, bỏ vua theo khách bên
ngoài. Tự tánh là vua tất cả các
pháp, vua của thế giới mười
phương, vua của vạn vật. Sống
với tự tánh là trở về nguồn gốc
vua, nguồn gốc của chính ta gọi
là Điều Ngự Trượng Phu nên tất
cả chư Phật đều tánh thán v́ tất
cả Phật đều trụ ở Phật tánh.
“Khi
con thành Phật có vô số chư Phật
ở vô lượng cơi ở mười phương thế
giới, nếu không khen ngợi tên
con, ở quốc độ con thề không
thành chánh giác”. Nếu thành
Phật không ai có thể ĺa tánh
giác mà thành Phật được, chắc
chắn như vậy. Dù có làm phước
bằng trời, dù dời non lấp biển,
xây cất vô số chùa chiền đi nữa
cũng phải sống với tánh giác mới
là bậc chánh giác.
Người giác
ngộ tự tánh biết có các cơi mười
phương đều từ tự tánh mà có ;
nếu không tự tánh th́ không nói
phương nào cả ; không tự tánh
th́ không nói tốt xấu nên hư,
không có chúng sanh, không Trời
Người, không nói Thinh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, Phật nào cả.
Phật dạy khi giác ngộ có vô số
Phật trong cơi mười phương thế
giới khen ngợi tên con, nghĩa là
hết thảy tâm niệm nơi tự tâm con
người đều trở về tánh giác. Tức
là xưa kia có niệm tham bây giờ
đă giác, không c̣n tham v́ các
niệm đó đă tự giác (
thành Phật ). Hết thảy niệm
mê, niệm ích kỷ, niệm hẹp ḥi,
niệm giành giựt, niệm danh lợi,
niệm hận thù, niệm ghen ghét
v.v… hằng hà sa số vô lượng, vô
biên niệm nhiều như số các sông
Hằng, tất cả đều là niệm chúng
sanh không c̣n sanh nữa. Ngày
nay đủ duyên trở về tánh giác
sáng suốt, được giáo hóa chuyển
đổi các niệm chúng sanh tự tâm
không c̣n mê muội, niệm niệm đều
tự giác thành Phật. Các niệm đă
hóa Bồ tát chúng vô cùng, vô
biên, đă tự giác chuyển hóa hằng
hà sa số vô lượng, vô biên niệm
giác gọi là chư Phật hiện khắp
mười phương cơi nước, hằng sa
quốc độ, là vô lượng tánh giác
khắp mười phương gọi là vô lượng
chư Phật đều xưng tán tên con.
Vậy tên con là tên ǵ? Tên con
là TỰ GIÁC, tất cả niệm đều tự
giác, đều thành Phật nên nghe
đến tên TỰ GIÁC, hết thảy chư
Phật đều xưng tán. Tự giác là tự
ta giác ngộ trở về tự tánh đă
thanh tịnh, sẽ giáo hóa chúng
sanh là giác tha. Tự sửa chữa
những niệm khởi do tính toán sai
lầm của tự tâm từ xưa nay được
giác trí huệ sáng suốt, tất cả
các niệm nơi tâm đều thanh tịnh
b́nh đẳng giác, gọi là giác hạnh
viên măn. Đă không c̣n niệm si
mê cố chấp, hẹp ḥi th́ lúc đó
dù c̣n đang mang thân tứ đại,
cho rằng bất cứ ở nơi đâu th́
trong tâm đă có vô số niệm đă
giác, nên nói là vô số chư Phật
hiện khắp mười phương đều xưng
tán v́ đă có vô lượng công đức
không thể nghĩ bàn. Chúng sinh
mê th́ sống với vô lượng phiền
năo, vô lượng tội lỗi. Khi trở
về tánh giác đă tự tu sửa th́ vô
lượng công đức, vô lượng trí
huệ, vô lượng hào quang, vô
lượng thọ, vô lượng an lạc cho
tất cả thế gian làm được
vô lượng lợi ích cho chúng sanh,
không thể nghĩ bàn. Vậy ta hăy
trở lại tu ngay tánh giác, đừng
chạy đua bên ngoài, bỏ qua cơ
hội làm người,
là
bậc thang sẵn sàng đưa ta đến
con đường giác ngộ giải thoát.
Đừng chạy theo đau khổ, đừng
chạy theo cái tạm giả điên đảo,
vọng tưởng bên ngoài, phải chịu
luân hồi đày đọa trong tam ác
đạo.
Công đức tánh
giác thật vô lượng, nên người tu
xuất gia được mọi người xá lạy.
Ư nghĩa của sự xá lạy là tôn
kính sự khắc phục được tâm niệm
đă tự giác trở về tự tánh, quy y
tánh giác, lạy các niệm giác, đă
sáng suốt, đầy đủ đạo đức của
hào quang vô lượng ; lạy tâm
hạnh xuất thế mà phàm phu chưa
làm được. Nếu tự xét thấy tự tâm
có được các niệm giác đó là
Phật, nếu vẫn c̣n niệm vô minh
là ma vẫn c̣n cư trú, không đáng
là bậc được người đời tôn kính
xá lạy không gọi là Thế Tôn.
Nguyện mười bảy
khi tôi thành Phật
Sẽ giảng kinh thuyết thật độ
sanh
Làm cho sở nguyện đắc thành
Công tôi giảng đạo trọn lành hơn
ai.
Nguyện mười tám,
nguyện 10 niệm được văng sanh.
Nếu làm
chủ được mười niệm (
không phải niệm A Di Đà Phật đếm
từ 1 đến 10 lần ). Vậy mười
niệm là ǵ? Là niệm tham, niệm
sân, niệm si, niệm phiền năo,
niệm ngă mạn, niệm nghi, niệm ác
kiến, niệm tà kiến, niệm kiến
thủ, niệm thân kiến là thập ác,
thập kiết sử, nếu ĺa được mười
niệm này tất cả đều được văng
sanh. Không c̣n sanh khởi niệm
nhớ lại trong tâm, các ác niệm
đă được chuyển hóa thành thập
thiện, gọi là các niệm đă chết,
đă văng sanh Tịnh độ. Chỉ cần
nhớ lại tánh Phật thật sâu sắc,
trở lại tánh giác bỏ hẳn mười
niệm là Thập Kiết Sử th́ liền
nhập vào tánh giác (
chơn tâm ). Vậy đă bỏ niệm
ma ta liền niệm Phật, đă dẹp
được mười Kiết Sử ngu muội, gồm
độn sử và lợi sử.
Độn sử là thập ác nếu không c̣n
th́ c̣n thập thiện. Nếu đă buông
xả được các
niệm ác,
tâm sáng suốt tất được văng
sanh. Nói đến danh từ Phật,
“rước” có nghĩa là tự trở về
với tánh giác, các niệm giác
thanh tịnh ở tự
tâm đă
thành Phật (
giác ), thành Bồ Tát sẽ rước
các niệm mê vừa tự chuyển hóa
nên đă giác, đó là Bồ đề quyến
thuộc tại tâm, tất cả niệm giác
đều là Thánh chúng Bồ tát đồng
cùng nhau trực văng Tây phương.
“Khi
con thành Phật chúng sanh nghe
danh hiệu con” là nghe được
niệm giác chính tâm ta hết ḷng
tin tưởng sẽ thành chánh giác,
khi hết mê chắc chắn là đă giác,
là Phật là tâm b́nh đẳng.
“Ngoại
trừ những kẻ ngũ nghịch phỉ báng
chánh pháp” giết cha, giết
mẹ, giết A-la-hán, làm cho Phật
chảy máu, phá ḥa hợp Tăng là
người không trọng kính Phật.
Người không thấy tánh nên không
kính trọng Phật tánh chính ḿnh,
không thương Phật chảy máu. Việc
làm qua hành động, ta đem Phật
kinh doanh, dùng lời dạy trong
kinh Phật để đổi lấy tiền, lợi
dụng h́nh tướng Phật làm việc tà
bậy mê tín dị đoan, tự tư lợi
riêng cho bản thân là làm thân
Phật chảy máu ; v́ không giác
ngộ hại cha mẹ thất vọng, đau
khổ mà chết, cha mẹ hiện thời
cũng là Cửu Huyền Thất Tổ, là Sư
Trưởng là Thầy Tổ nhiều đời
nhiều kiếp từ xưa đến nay ; phỉ
báng chánh pháp là không nghe
không tin chân lư giác ngộ,
không trở lại tánh giác đă chỉ
chú trọng vào tánh phàm phu, ham
lợi dưỡng, nên trừ những hạng
người này. Nếu phá tan được thập
kiết sử ĺa các tướng sẽ thành
chánh giác đó là nguyện thứ 18,
nguyện 10 niệm tất được văng
sanh.
Nguyện mười tám hóa
thai khỏi dục
Người người đều đắc túc mạng
thông
Biết hồi tiền kiếp xa trông
Hằng hà sa kiếp thảy đồng kim
sanh.
Nguyện 19,
nguyện nghe danh phát tâm.
Khi đă kiến tánh giác ngộ các
pháp thế gian không c̣n sử dụng
phương tiện nghe của lỗ tai phàm
phu, không nghe tiếng của những
âm thanh phàm phu, phải dùng trí
huệ bằng cách quán sát tâm nghe
bằng tánh giác, nghe thật lắng
sâu vào tâm, “Nếu
có chúng sanh nào nghe diễn
thuyết bằng tự tánh Phật, hết
ḷng kính tin thực hành tốt được
văng sanh”. Khi người chửi
mắng mà ta nghe bằng tánh giác
sẽ thành Phật v́
nhân là
giác,
quả là
Phật. Nghe
bằng tánh phàm phu th́ thành ma
; nghe âm thanh nặng nhẹ, chửi
mắng, nói xấu ta nên nh́n thẳng
vào tự tánh ta thấy ḷng thương
cho họ v́ mê muội nên tối tăm.
Cũng miệng lưỡi đó ngày xưa của
Như Lai mà ngày nay biến thành
miệng lưỡi của ma, ta phải t́m
cách đem duyên thiện lành giác
ngộ giúp đỡ giảng giải cho họ
thức tỉnh. Ta không khởi niệm
sân si, thù hằn họ, phùng mang
trợn mắt trả đủa lại, nói lời
hơn thua là ta đă hiểu biết nghe
bằng tánh giác, không c̣n sống
với niệm vô minh gọi là vô minh
diệt, vô minh tận.
“Khi
con thành Phật chúng sanh khắp
mười phương phát tâm bồ đề”
nghĩa là tự thấy khắp cả các
niệm trong tâm đều an vui, hạnh
phúc. Phát tâm niệm bồ đề, là đă
phát bồ đề tâm “tu
các công hạnh ba la mật”,
ḷng không c̣n chấp vào tướng,
hoan hỷ bố thí, xả bỏ danh lợi,
sống bằng tâm viên măn nhẹ nhàng
gọi là bố thí ba-la-mật, là bố
thí
pháp kiên cố không lùi lại. “Nguyện
đem các căn lành hồi hướng,
nguyện sanh về cơi nước con”,
sự giác ngộ của tự tánh vốn
không lùi v́ biết các pháp thế
gian sinh diệt vô thường, v́
không trí tuệ chấp thật nên vui
th́ nghe ḷng an ổn, ưa thích ;
buồn th́ chán nản, bỏ liều.
Người kiến tánh th́ tâm bất thối
chuyển, không trụ vào hoàn cảnh
vui buồn, vươn ḿnh sống với
tánh giác, đối trước các pháp
sinh diệt tâm vẫn tự tại, b́nh
an. “Một
ḷng nghĩ đến con ngày đêm không
dứt”, đêm ngày lúc nào ta
cũng nhớ đến tánh giác không
ngừng nghỉ, đó là thường niệm
Phật (
niệm giác ), là thường nghĩ
đến tên con, phải nhớ rơ là tánh
giác có sẵn nơi mỗi con người. “Lại
đem các căn lành hồi hướng,
nguyện sanh về nước con, một
ḷng nghĩ đến con ngày đêm không
dứt, đến khi mạng chung không
c̣n đọa vào ba đường ác, Thánh
chúng Bồ tát đều đón rước”.
Mạng chung là mất, mạng là tánh
ngă mạn, tự cao, ích kỷ, hẹp ḥi
đă mất. Các niệm khởi của thập
kiết sử là tham, sân, si, tự
cao, ngă mạn… đă chuyển hóa
thành niệm của Bồ tát. Thọ mạng
mê muội của các kiết sử từ xưa
nay đă mạng chung, đă quá văng
hết, đă văng sanh không c̣n sanh
khởi lại nên có các niệm Thánh
Chúng, các Bồ Tát chờ tại tâm ta
tiếp đón rước ta về thế giới Tây
phương Cực lạc. Nên trong tâm
tất cả các niệm đều thanh tịnh
an lạc, là Niết Bàn do tâm tạo.
“Khoảnh
khắc sanh về nước con” nghĩa
là vừa bỏ niệm mê th́ liền giác
tức khắc, bỏ phiền năo tức bồ
đề, bỏ tâm sân hận liền có tâm
thanh tịnh, thanh lương, bỏ ma
th́ có Phật, bỏ ác th́ đă thiện
lành, nếu đă chấm dứt phiền năo
sân si thường sống với tánh giác
nhanh chóng như khảy móng tay v́
đă giác (
Phật ) nên Phật nói Ta bà
cách Cực lạc mười muôn ức cơi,
nhưng khi đă giác th́ nhanh như
khảy móng tay th́ tới Tây
phương. Người giác ngộ không lùi
bước trước mọi hoàn cảnh, cảnh
chỉ là ngoại cảnh bên ngoài, nếu
không tham trụ th́ không hề
chướng ngại tự tâm, nếu không
được như nguyện thề không thành
chánh giác.
Nguyện mười tám
hóa thai khỏi dục
Người người đều đắc túc mạng
thông
Biết hồi tiền kiếp xa trông
Hằng hà sa kiếp thảy đồng kim
sanh.
Nguyện 19
nghe danh mà phát tâm. Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh
sáng suốt trí huệ vô lượng nên
khi nghe danh hiệu này phải
quyết định tu hành, đừng t́m cầu
đâu xa, nên phát tâm tại nơi sự
sáng suốt tự ta sẵn có, phát tại
tâm, thành Phật tại tâm.
Nguyện 19
chúng sanh vạn vạn
Đều đặng rồi Thiên nhăn tịnh
quang
Thấy toàn vũ trụ mười phang
Trăm ngàn muôn ức thế gian cũng
tường.
Nguyện 20
lâm chung được tiếp dẫn.
Lâm chung
là hết, là chấm dứt phiền năo,
tham, sân, si ; chấm dứt thập
ác, hết tất cả mạn, nghi, ích
kỷ, hẹp ḥi. Tất cả đều mạng
chung, đă chấm dứt, không c̣n
lai văng ở tự tâm. Có câu rằng “Phàm
tâm tử, đạo tâm sanh”, phải
phá nát vô minh, khi hết niệm
trần lao ô uế th́ các niệm trong
sạch tự sanh ra, nghĩa là trở về
với Tịnh thổ, trở về thế giới
Cực lạc. Trở về Tịnh độ nơi tâm
địa gọi là về với Phật tánh sáng
suốt, trí huệ. Tất cả ác niệm,
tà niệm nơi tự tâm đă mạng
chung, vô minh đă mạng chung nên
tánh giác hiện tiền tiếp dẫn
không c̣n tái sanh lại nữa nên
gọi là TỰ TÁNH DI ĐÀ VÔ BIỆT
NIỆM, hào quang vô lượng quang
minh đă tiếp dẫn, không c̣n sa
vào các niệm, đọa vào lục đạo
luân hồi. Bất cứ lời dạy nào ta
cũng nên sáng suốt tư duy, xem
xét điều đó có đem lợi ích an
lạc cho ta và mọi người không.
Dù cho đó là những tập tục, nghi
lễ cũng nên quán xét cho thật
kỹ, những ǵ ta học có làm lợi
lạc an ổn cho tâm đó mới là chơn
lư giải thoát, không để lầm lạc
cần ḍ xét cho chính chắn.
Nói về Cực
lạc ta phải biết rơ ràng có hay
không? Trong kinh diễn tả cơi
Cực lạc có ao thất bảo, có xa
cừ, san hô, hổ phách, vàng ṛng,
đường đi lót bằng vàng có hay
không?
Có phải hiểu
có như thế nào, nếu tất cả những
ǵ mà có sắc, có tướng Phật nói
đều là hư vọng, như huyễn, như
sương, như bọt, như điện chớp,
như bào ảnh, như mộng. Thấy bằng
sắc tướng là sự thấy bằng mắt
phàm tục rơ ràng là có tướng,
nhưng những ǵ có tướng đều hoại
diệt vô thường, không thật, nên
cơi Cực lạc không phải bằng sắc
tướng mà bằng hào quang sáng
suốt vô tướng. Các vật thế gian
như nhà cửa, xe cộ, con người,
thân quyến đều là tướng, gọi là
pháp tướng.
Con người
được thành tựu là duyên từ năm
giới. Năm giới được giữ ǵn toàn
vẹn không sai phạm th́ đời sau
lục căn đầy đủ, nếu khiếm khuyết
không tṛn giới đức th́ sau này
làm người nhưng khuyết tật. Nếu
hiện tại ta làm người mà không
giữ được năm giới th́ đời sau
không được là người toàn vẹn v́
thân người được hợp thành bằng
đức độ của năm giới, đó là pháp
giới. Vậy cơi Cực lạc cũng tạo
bằng pháp. Đức Phật A Di Đà cũng
xây dựng bằng pháp, là pháp thực
hành 48 lời nguyện, là pháp giới
thanh tịnh mới thành tựu Tịnh
độ. Muốn về cơi Cực lạc phải
hoàn thành 48 đại nguyện th́
được chánh đẳng chánh giác, tất
cả cảnh giới cơi Cực lạc được
xây dựng bằng pháp kết tựu bằng
48 lời nguyện. Ta phải hiểu biết
cảnh giới Đức Phật và các cảnh
giới khác bằng trí, cũng như ở
thế gian tất cả sự vật được xây
dựng nên cũng bằng pháp và bằng
trí. Ta phải biết tất cả đều
bằng trí, không thể nh́n bằng
mắt phàm phu. Ta tu cũng bằng
trí, nếu thấy Phật, thấy cơi Cực
lạc bằng mắt, bằng trí phàm phu
là tà ma, ngoại đạo, phải thấy
biết bằng tuệ giác, phải thấy
pháp nào xây, pháp nào thành tựu
Đức Phật? Pháp nào thành tựu con
người? Pháp nào thành tam đồ địa
ngục? Pháp tham, sân, si, phiền
năo, ác kiến, tà kiến, kiến thủ,
thân kiến v.v… đều là nguyên
liệu dành để xây dựng nên cảnh
giới địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh. Những tánh chất này là
nguyên liệu ở tại trong tâm ta,
tự tâm xây dựng lấy v́ trong tâm
chứa muôn pháp, pháp nào cũng
đều sử dụng được cả. Như lục độ
ba-la-mật là giới của Bồ tát
hạnh ; ngũ giới của con người ;
thập thiện thành tựu chư Thiên ;
250 giới thành tựu quả đức Tỳ
Kheo; 348 giới quả vị của Tỳ
Kheo Ni. Thành Phật là giác hạnh
viên măn được thành tựu bằng Tam
tạng kinh điển. Tất cả đều có
đủ, mọi người
đều
thọ dụng được v́ vô minh không
trí tuệ nên măi chạy theo vật
chất, quyền lợi, cá nhân. Những
thứ này muốn thành tựu có được
cũng bằng pháp, xây dựng nên sự
giàu sang cũng bằng pháp, nên Tổ
dạy “Vạn
pháp đều do tâm tạo”, hết
thảy các pháp từ địa ngục lên
tới Cực lạc đều do tâm tạo. Nếu
không khai thông trí huệ hiểu
biết điều này măi măi đi t́m Cực
lạc, Niết Bàn bằng vọng tưởng,
không thế thấy biết được chơn lư
của Phật, măi lạc loài nơi vô
minh chịu luân hồi trong mê tối.
Thời đức
Phật có câu chuyện, có người hỏi
Phật rằng “Bạch
Thế Tôn, con đă đào sâu vào ḷng
đất, thật sâu nhưng không hề
thấy địa ngục, ngó thật xa lên
trời con cũng không thấy Niết
Bàn”. Đó là người ấy muốn
thấy địa ngục, Niết Bàn bằng mắt
phàm phu.
Vậy địa ngục có thật không? Niết
Bàn có thật không? Phật trả
lời không phải có cũng chẳng
phải không. Người đó hỏi Phật,
đạo Phật khó như vậy sao ? Phật
trả lời chơn lư ta rất khó, kẻ
ngu mê si không thể biết, chỉ có
người trí mới biết được. Vậy ta
hăy tự xét lại ta là người ở
trong tŕnh độ căn cơ nào? Người
tu học phải biết dùng trí tuệ,
các pháp đều thành tựu từ địa
ngục đến Niết Bàn, nếu không
hành pháp th́ không thành tựu
được vật nào. Phật dạy ta phải
quy y Phật, quy y pháp, quy y
Tăng. Theo Lục Tổ dạy, quy y
Phật là quy y GIÁC, quy y pháp
là quy y CHÍNH, quy Tăng là quy
y TỊNH. Muốn thành tựu Phật phải
có pháp nên gọi là Phật pháp.
Không có Phật tướng chỉ là đức
tánh, tu là hành tŕ pháp, nên
hiện nay muốn thành Phật mọi
người phải nương vào pháp niệm
nhớ, hướng vào pháp môn NIỆM
PHẬT mà hành tŕ. Thành tựu mọi
kinh nghiệm cuộc đời cũng bằng
phương pháp, dùng pháp không cầu
xin van lạy ai cho ta cả, phải
tự lực, tự học có được kinh
nghiệm bằng trí. Quy y pháp,
phải có ḷng tin ở pháp. Pháp
Phật là vô lượng vô biên, vô
cùng vô tận, vô sở đắc, v́ có
đắc là niệm vào pháp tự măn, tự
cao ta phải tu măi.
Người bị
mù nên không biết đường đi,
nhưng khi sáng suốt (
giác ) sẽ tự đi trong sự
sáng suốt, trí tuệ, niệm sáng
suốt sẽ tiếp dẫn những niệm mê
lầm được chuyển hóa bởi sự tự
giác. Nếu cứ cho rằng đức Di Đà,
Quán Âm, Đại Thế Chí từ đâu bay
xuống rước người niệm Phật khi
bỏ xác thân thật là sự hoang
tưởng vô cùng mê muội. Thật ra,
có vô số Thinh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát là các niệm sáng suốt,
trí huệ tại tâm ta, đă tự giác
ngộ chơn lư Như Lai, đă đủ định
lực, sẵn sàng tiếp dẫn bằng hào
quang trí huệ do vô lượng công
đức tu tập, hành tŕ đă tự xây
dựng bằng pháp Như Lai mà thành
tựu tại tâm. Ta đă tự độ, tự dứt
khổ, tự văng sanh Cực lạc tự ở
tại tâm,
Ta bà Cực Lạc chỉ là mê và
ngộ không hai, không khác. Nếu
ta cứ măi van cầu, lạy lục h́nh
tướng bên ngoài mà không chịu
sửa tâm, dưỡng tánh, h́nh tượng
là vô t́nh, vô giác không cứu
được ta. V́ h́nh tượng bên ngoài
được con người tạo nên chỉ là
hóa Phật tạo phương tiện, dùng
làm sự tướng, tạm mượn h́nh ảnh
làm bằng chất liệu thế gian vẽ
ra có vô số hóa Phật, vô số
Thinh Văn, Duyên Giác, có cơi
Cực lạc, là h́nh ảnh tượng trưng
biến hóa chỉ cho vô số niệm
thiện lành đă trong sạch, sáng
suốt tại tâm. Người tu niệm Phật
tự tiếp dẫn bằng hào quang trí
huệ là NIẾT BÀN DIỆU TÂM VÔ
TƯỚNG NHƯNG THẬT TƯỚNG tự nhiên
tự tại, ḥa vào sự an lành thế
giới Cực lạc. Có danh từ Thinh
Văn, Duyên Giác, Bồ Tát cũng do
đức Phật hóa ra, tạm mượn danh
từ chỉ về các niệm, hóa Bồ Tát
chúng vô cùng vô biên, nguyện
sanh 48 lời nguyền, cùng lên
chín phẩm đồng lên giác ngàn,
liền nghe lời chú thuyết rằng,
độ tha tất cả khắp cùng thế gian
hết thảy có tướng là cho ta làm
phương tiện tu học. Nói là h́nh
tượng cũng nhờ các pháp đó giúp
người sơ cơ mới có thể phát tâm
tín ngưỡng, khi đủ duyên gặp
thiện tri thức khai ngộ thấy lại
tự tánh mà nuôi dưỡng tánh linh
sẵn có do mê lầm cuộc đời bị bụi
trần lao che khuất. Khi mê muội
niệm niệm trần lao chấp thật nên
đau khổ, trở lại tánh giác niệm
niệm là từ bi hỷ xả, niệm niệm
là giác ngộ, niệm nào cũng tốt
đẹp. Niệm Phật là bỏ tất cả
phiền năo trần lao, không c̣n
niệm nhớ nghĩ lại các pháp thế
gian mới là chơn thật niệm Phật.
Chữ A Di Đà Phật là ta tạm mượn
danh hiệu để nhớ lại tự tánh A
Di Đà chơn thật của ta. Nhờ A Di
Đà là pháp mới có thể duy tŕ
lâu dài, chờ dẫn dắt mọi niệm
khởi của vọng trần qua bờ giác
ngộ. Nhờ niệm A Di Đà Phật là
Phật hiệu, giúp ta nương vào
trực nhớ lại A Di Đà là tự tánh
vô lượng quang.
Vậy Phật là ǵ?
Là tự tánh, là giác. Ta cũng
không có quyền bỏ câu A Di Đà
Phật hiệu v́ khi miệng niệm lên
tâm phải giác, phải dụng pháp A
Di Đà, pháp là mẹ sinh ra chư
Phật. V́ Tâm ô nhiễm bởi tội
lỗi, vô minh nên phải dùng pháp
niệm A Di Đà để chuyển hóa niệm
vô minh thành niệm A Di Đà, gọi
là giáo hóa chúng sinh tự tâm
đang mê muội, nhờ tánh giác giáo
hóa tâm ta tự thanh tịnh. Phật (giác)
từ trong trí sinh ra, c̣n mượn
câu A Di Đà Phật là nương pháp
nên gọi là pháp môn Tịnh Độ mà
các pháp đều như huyễn. Nếu măi
niệm Phật mà tâm vẫn chưa an ổn
v́ chưa giáo hóa được các niệm
mê thành giác ngộ.
Nguyện hai mươi
Tây phương dân chúng
Vui vẻ mà thọ dụng đủ điều
Thảy đồng với các Tỳ Kheo
Chứng phần vô lậu chẳng theo sự
đời.
Nguyện 21
“Khi
con thành Phật, chúng sanh trong
mười phương nghe danh hiệu con
nhớ nghĩ nước con, phát tâm bồ
đề kiên cố không thối lui, trồng
các căn lành, hết ḷng hồi hướng
sanh về cơi Cực lạc đều được
toại ư. Nếu có ác nghiệp đời
trước nghe danh hiệu
con hết ḷng sám hối làm các
điều lành lại tŕ kinh giữ giới,
nguyện sanh về nước con mạng
chung, nếu không an lạc c̣n đọa
vào ba đường ác nếu không được
như vậy thệ không thành chánh
giác”.
Sám hối là người phải thấy tánh,
vậy thấy tánh là sao?
Ta phải xét lại ta có phải là
người tu thấy tánh chưa? Khi
giận phải thấy tánh tôi đang
giận, buồn phải biết tánh tôi
đang buồn, khi khổ tôi biết tánh
tôi đang khổ v.v…. sự biết này
gọi chung là tánh tôi đang phiền
năo. Trong kinh dạy, bỏ phiền
năo tức bồ đề, tự ta biết thấy
ta đang phiền năo, phải thấy
trực chỉ vào tâm. Kiến tánh tu
tại tâm hiện tiền này chấm dứt
được các niệm sanh tánh sai lầm,
không c̣n niệm nhớ đến nữa, lập
tức c̣n lại tâm an định đă sáng
suốt thấy pháp tánh. Sự thấy
pháp, biết pháp là trí huệ tự
có, đó là chơn tâm tự tánh hiển
lộ (
kiến tánh ). Nhờ thấy được
tánh đang tội lỗi ta sửa sang,
khắc phục tâm, dần dần trong
sạch, đây là pháp sám hối thực
tướng, cứ lạy măi mà không chịu
sửa tâm th́ không sáng suốt ǵ
cả. Hằng giờ, hằng phút đều phải
thấy tâm niệm của ḿnh biết đang
khởi niệm xấu vội sửa th́ đă
giác, tánh mê th́ sửa chuyển hóa
thành tánh giác. Ta phải sám hối
bằng tánh giác, bằng sự tự
nguyện chân thành, không sám hối
bằng lời nói suông, lời nói bên
ngoài, chỉ hứa suông như gió
thoảng không thật.
Trong
chuyện nhà Tổ kể rằng : lúc Lục
Tổ nói với Ngũ Tổ “để
con đưa Thầy qua sông”. Ngũ
Tổ nói “đáng
lẽ ta đưa con mới phải”,
nhưng Lục Tổ nói
“Bạch Thầy, khi con c̣n mê th́
Thầy độ, khi con giác ngộ rồi tự
tánh giác con độ lấy con”.
Ta phải dùng tánh giác tự độ
tánh mê lầm ngu muội. Nếu tu mà
bỏ tánh giác th́ dù làm bất cứ
điều ǵ, h́nh tướng ǵ cũng
không gọi là người tu. Người
sáng suốt rồi phải tự dùng tánh
đă giác tự độ lại tánh ḿnh. Ta
cần thông suốt điều này, người
thấy tánh mới thấy được công ơn
của đức Phật, thấy tánh rồi mới
thấy được tội lỗi mà tự sám hối.
Ta chưa hề bỏ tham, sân, si nên
giờ phút nào cũng sống với tam
độc tham, sân, si là pháp xây
dựng, tạo lập nên cảnh giới địa
ngục tại tâm người tự tạo mà có.
Dù giữ được năm giới mà tâm chưa
trọn vẹn, c̣n tham cảnh sắc
giới, vô sắc giới, dục giới. Nếu
ở trong ba cảnh này c̣n tham mà
ta không tự sửa chữa th́ nhất
định vẫn ở trong ác đạo. Nếu
được làm con người vẫn c̣n ở
trong lục đạo luân hồi, đời đời
kiếp kiếp v́ tham không như ư
sinh ra sân si, cáu gắt, nóng
nảy, thiếu trí huệ nên gọi là si
mê. Nếu giác là bậc trí v́ không
c̣n tham đắm. Người vô trí dù
học hết kinh điển tâm c̣n tham
vẫn là kẻ ngu dốt, mê si là vô
trí. Ta phải dùng trí tuệ để
nhận xét con người, chớ không
dùng học thức mà biết được. Dù
học thức, học Phật đến bao nhiêu
mà tâm không bỏ được niệm tham
sân si th́ vẫn đọa lạc trong tam
ác đạo, đều uổng phí công tŕnh,
tánh tham sẽ giết chết chư Phật
ở tâm ta.
Cái tham bao thuở đă rồi
Cái mê một phút tỉnh hồi là xong
Dă tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán
ǵ.
Kiến tánh sẽ
thấy được sự mê muội của tánh
tham sân si, phiền năo… đều ở
tại tâm, giác ngộ cũng ở tâm,
những niệm xưa nay nhiều vô số.
Ta cứ nghĩ đức Phật là người tốt
tâm không c̣n chứa điều xấu ác,
hoàn toàn không có niệm ǵ, đó
là tư tưởng không đúng. Ai ai
cũng có niệm buồn, vui, khổ,
phiền năo, thương ghét … vẫn có
đủ, nhưng bậc đă giác ngộ kề bên
lúc nào cũng có tánh giác theo
kèm, sát xao liền bên nên dễ
dàng giáo hóa các tà niệm trở
nên thanh tịnh.
C̣n những
niệm giận buồn của ta khi sanh
khởi, chỉ có tánh ngu mê theo
sát nên tối tăm, ngu si chạy
theo, không chuyển hóa được. Nếu
có ai làm không vừa ư th́ sanh
tâm nóng giận, phải liền có tánh
giác nhắc nhở. Nên Phật nói
trong tâm ta cũng có địa ngục
nhưng luôn có các Bồ Tát (
tánh giác ) theo giáo hóa,
có Bồ Tát Địa Tạng tại tâm sáng
suốt vớt liền các niệm sai quấy,
lúc nào cũng có Bồ Tát Địa Tạng
ở địa ngục tại tâm sẵn sàng cứu
chúng sanh, nên nói rằng “Nếu
địa ngục chưa trống không thệ
không thành chánh giác”, Bồ
Tát đó chính tự nơi tâm niệm
trong ta thường giác, đó là
trong tâm có tất cả.
Ta không
nên ngă mạn, tự cao cho là
tâm
ta đă tốt hoàn toàn, chỉ nhờ có
tánh giác (Phật).
Trong kinh Phật dạy “Phục
vụ chúng sanh tức cúng dường chư
Phật”. Phục vụ thực tướng
Bát Nhă là mỗi niệm sanh khởi
nơi tâm đều sẵn sàng phục vụ,
giáo hóa các niệm mê si lầm lạc.
Các niệm thập ác nhờ Bồ Tát giáo
hóa trở nên thập thiện, tức đă
cúng dường các niệm, đă trở
thành chư Phật tại tâm ta, đó là
cúng dường chư Phật, chư Bồ Tát,
cúng dường vô úy không thấy
người cho và không thấy người
nhận là vô úy thí. Hạnh đức của
Quán Âm Bồ Tát giáo hóa các
chúng sinh gọi là độ tha, đều
thành Phật quả, đều trọn thành
Phật đạo, là chư Phật hiện toàn
thân cùng khắp mười phương các
cơi tự tâm ta, giác hạnh đă viên
măn, nếu giáo hóa được chúng
sanh tự tâm th́ thành chánh
giác. Phải kiên cố mà dạy dỗ v́
ta với nó không khác, tuy hai mà
một, chỉ một tâm mà sinh ra. Đây
là sự vi diệu của tâm, nên nói
chơn không mà diệu hữu. Phải
thường theo dơi mà săn sóc tâm
như săn sóc thánh thai, nếu xấu
mà biết sửa chữa sẽ thành tốt,
tốt mà tự cao ngă mạn sẽ thành
xấu. Không ỷ lại chức quyền địa
vị thế gian, phải tự là Bồ Tát
giáo hóa chúng sanh khắp mười
phương thế giới nơi tự tâm ta.
Câu chuyện
vào thời đức Phật, có một đệ tử
cùng Thầy đi khất thực, đang
cùng đi trên đường bỗng vị Thầy
dừng lại, đứng yên một hồi lâu,
rồi tiếp tục đi nữa. Lúc về nhà,
người đệ tử thắc mắc hỏi Thầy,
tại sao đang đi mà Thầy dừng
lại? Vị Thầy trả lời rằng, v́
lúc đó Thầy thấy chúng sanh
trong tâm đang niệm điều sai
quấy, tà bậy, khó dạy nên ta
dừng lại để giáo hóa dạy dỗ
chúng nó, mới được an ổn thành
vị Thanh Văn. Ta thường giáo hóa
các niệm chúng sanh thuần thục
th́ khi vừa khởi lên liền sáng
ngay, không c̣n kéo dài niệm mê
muội được giáo hóa nhanh chóng,
ta không sợ mê chỉ sợ giác chậm.
Giác chậm v́ nghiệp chướng quá
sâu dày, cũng như những cái
ghiền ở thế gian v́ biết không
lợi ích ta vẫn muốn bỏ nhưng rất
khó khăn, phải kiên tŕ nhẫn
nại, quyết chí, chí nguyện phải
lớn, nguyện tu phải lập chí vững
chắc nên gọi là Đại Thế Chí.
Hạnh đức này luôn luôn có sẵn
trong tâm ta (
chí lớn ở thế gian ), niệm
niệm khởi đều thấy được để tu
sửa, là thật tướng sám hối. C̣n
chỉ nguyện suông trước Tam Bảo
là hữu tướng sám hối hay là tŕ
danh sám hối, không bằng thực
tướng sám hối, ta phải sám hối
bằng tự tánh.
Tự tánh
gồm đủ tất cả mười phương “nhớ
nghĩ đến con”, là nhớ nghĩ
đến sự sáng suốt, trí tuệ v́ tự
tánh là quốc độ, là cơi giới “phát
bồ đề kiên cố không thối lui”.
Nên ta nghe Phật dạy biết được
tự tánh mà lâu nay ta chưa từng
giáo hóa, th́ phải nhất quyết
giáo hóa, ǵn giữ, không thối
lui là Bồ Tát bất thối. “Trồng
các căn lành hết ḷng hồi hướng
về Cực lạc”, phải nuôi dưỡng
giáo hóa đến khi trong tâm hết
sân si sinh khởi, biết được các
niệm này đă thanh tịnh “đều
được toại ư, nếu có ác nghiệp
đời trước, nghe danh hiệu con
hết ḷng sám hối” nghĩa là
nhớ đến Tự tánh Di Đà vô biệt
niệm phải hết ḷng sám hối, hết
ḷng giáo hóa “làm
các điều lành tŕ kinh giữ giới”.
Ta phải xem kinh Phật, tự tư duy
; người thường xem kinh là niệm
pháp, niệm niệm luôn hướng về
lời dạy của Đức Phật đó là điều
kiện t́m hiểu, là phương pháp để
tu học. Ta măi chạy theo việc
hơn thua thế gian cũng là niệm
pháp nhưng đó là niệm pháp thế
gian, không tu học được. Kinh là
pháp của Phật để lại gọi là pháp
bảo, là tài sản quư báu, nếu ta
thờ ơ, xem thường th́ không giữ
được một vốn liếng nào để xây
dựng sự nghiệp Phật pháp, măi
măi là nô lệ cho cuộc đời. V́
thường niệm pháp thế gian, phục
vụ nuôi dưỡng Ma Vương, măi măi
là chúng ma không thoát được
sanh già bệnh chết. Kinh nghiệm
của Phật sẽ giúp ta phát sinh
trí huệ v́ đó là tài sản vô giá
của chư Phật ba đời (
duy tuệ thị nghiệp ) nếu xa
ĺa kinh, xa ĺa pháp bảo sẽ bơ
vơ kinh hoảng. Tổ dạy :
Bàng hoàng giữa chốn rừng mê (vô
minh)
Không ai dùm chỉ đường về cho
con
Ngây thơ (mê muội) trí nhớ đâu
c̣n
Lại thêm nạn chướng giết ṃn
tánh linh
Đồng thời nhiều kẻ chung quanh
Rủ con vào nghiệp tử sanh luân
hồi (lục đạo).
Ta phải
thường tŕ kinh giữ giới, kinh ở
đâu th́ pháp Phật ở đó. Nếu ta
thường xem kinh, thường niệm
pháp, sống với kinh pháp th́
kinh và pháp Phật thường ở trong
ḷng, trong tâm ta, là mạng sống
ta, ta đă chuyển hóa thân phàm
phu trở thành pháp thân Phật,
nên được Thiên Long Bát Bộ
thường giữ ǵn kinh Phật. Người
tŕ kinh cũng được chư Thiên
Thần Hộ Pháp bảo hộ v́ đó là
pháp bảo được người hộ tŕ, diễn
nói bằng hào quang trí huệ. C̣n
trong tâm măi ôm giữ pháp thế
gian là thập ác, th́ sẽ sa đọa
vào ác đạo v́ măi duyên theo
nghiệp vô minh sẽ triền miên khổ
ải.
Kinh là
mạng mạch của chúng Tăng, là
mạng sống của trí huệ, xa ĺa
kinh là mất mạng sống trí huệ “nguyện
sanh vào nước con mạng chung,
không lạc vào ác đạo”, phải
hằng nhắc nhở tâm, hiện giờ đến
lúc bỏ thân xác nguyện không
khởi một niệm ác, dù trong hoàn
cảnh nào cũng theo dơi từng niệm
khởi, t́m hiểu tư duy kinh điển,
chắc chắn không khởi vọng niệm
đọa vào đường ác. Nếu bỏ kinh
pháp, bỏ tâm niệm, không ǵn
giữ, măi chạy theo pháp thế
gian, là theo cảnh bỏ quên tâm.
“Liền
sanh về nước con, nếu không được
vậy thề không thành chánh giác”,
nếu muốn thành Phật mà không
thực hiện được phương pháp giáo
hóa tâm niệm, không tự nguyện
sửa các niệm sai quấy th́ không
thể an lạc được. Phải hội đủ sự
thành tựu từ các duyên lành là
sám hối ; tŕ niệm kinh Phật
giáo hóa chúng sanh mới thường
sanh trí huệ ; tâm an lạc, trí
huệ sáng suốt mới thành chánh
giác, phải đầy đủ pháp mới thành
Phật quả. Pháp nào là Bồ Tát,
pháp nào là sự giác ngộ của
Duyên Giác, pháp nào là tự giác
của Thinh Văn, pháp nào là người
chơn chánh phải thành tựu các
pháp. Bồ Tát là 58 giới gồm 10
giới trọng 48 giới khinh ; chư
thiên là bát quan trai gồm 8
giới, thập thiện đạo là 10 giới
; loài người là 5 giới; ngạ quỷ,
súc sanh địa ngục là tâm buông
lung không giữ ǵn giới, nên có
huệ nhăn nh́n vào con người sống
với pháp nào, thành tựu pháp
nào, hăy tự chiếu soi để tu tập.
Vậy Cực lạc có nhưng do pháp mà
thành tựu, xây dựng, kiến lập
nên tại tâm của con người. Ai
thành tựu pháp nào sẽ về cơi đó,
phải thấy pháp bằng trí tuệ mới
kiến lập được Cực lạc. Ta phải
theo dơi từng niệm mà tự sửa
chữa gọi là sám hối tại tâm, có
Cực lạc tại tâm, thành Phật tại
tâm, tự giác tại tâm, giải thoát
tại tâm v́ Niết Bàn vô sanh diệt
là vô tướng.
Nguyện hai mươi mốt
nhơn thiên trong nước
Tha tâm thông biết được chẳng
sai
Những điều tâm niệm mỗi loài
Muôn ngàn thế giới không ngoài
tánh linh.
Nguyện thứ 22, nguyện thứ 23
“Nguyện
chuyển thân nữ thành nam”, “khi
con thành Phật cơi nước không có
phụ nữ”. V́ chỉ là pháp nên
không có nam hay nữ, có tướng là
tùy nghiệp, tùy niệm sanh diệt
mà thể hiện tướng h́nh. Đại thừa
là vô lượng nghĩa, mỗi niệm sai
được sửa chữa là phần giác, tự
chứng phần là trí tuệ Phật. Trí
tuệ Phật thông biết qua nhiều
căn cơ tŕnh độ. Pháp cũng vậy,
nói đến danh từ không có phụ nữ,
đàn bà là muốn chỉ đến những
niệm ích kỷ, nhỏ hẹp, thấp hèn,
sự nói năng, ngôn ngữ đều không
minh bạch, không cao thượng nên
phải tự xét lại coi tâm niệm ta
có phải là bậc quân tử hay hạng
tiểu nhân. Nếu là quân tử th́
không nhỏ mọn, bỏn xẻn, ích kỷ,
hẹp ḥi, ganh tỵ, soi mói, chấp
nê mới là tâm là niệm của bậc
thiện nam tử. Ư kinh nói đến
pháp thấp hèn, ích kỷ giống như
phái yếu. Thân người nữ cũng là
sắc pháp, v́ tâm đă b́nh đẳng
giác không hề phỉ báng một pháp
nào cả “nếu
có người nữ nghe danh hiệu con
phát tâm bồ đề chán ghét thân nữ”,
không chê pháp người nữ nhưng
không hành pháp yếu hèn nữa,
phải bỏ niệm hẹp ḥi, không sử
dụng đă chuyển đổi đă tự giác
liền biến thành nam, là sử dụng
pháp của người nam mạnh mẽ. Tất
cả đều là pháp, chỉ tạm dùng
phương tiện mà chỉ về tánh giác,
không chấp tướng thật mà luận
giải phân biệt được. “Mạng
chung liền hóa thành nam sanh về
nước con”, ư nói quy y Phật
là trở về tánh giác đă là bậc
quân tử không c̣n hẹp ḥi. “Các
loại chúng sanh ở thế giới mười
phương sanh về nước con đều hóa
sanh trong hoa sen thất bảo”,
nghĩa là niệm trong sạch trí huệ
không c̣n niệm ô nhiễm bởi tham
lam của thói hư tật xấu nên gọi
là hoa sen, không ô nhiễm bùn
nhơ nên thành chánh giác. Phải
kiểm lại tâm c̣n pháp thấp hèn,
yếu đuối nào giống nữ nữa không?
Phải thường giáo hóa các niệm
chúng sanh. Tu là giáo hóa tự
độ, sáng suốt giúp đỡ mọi người
là độ tha. Tâm niệm hẹp ḥi gọi
là chúng sanh hay gọi là niệm
của nữ nhơn, phải nương tựa vào
niệm quân tử, tượng trưng niệm
tự giác, gọi là bậc giác ngộ,
gọi là Vô Thượng Sĩ (tâm
cao thượng), Điều Ngự Trượng
Phu (bậc
lớn làm chủ các pháp). Với
pháp niệm này Phật mượn h́nh
tướng Di Đà để dạy tất cả chúng
sanh, cùng 48 lời nguyện là pháp
thành tựu A Di Đà tự tánh.
V́ thấy
tâm niệm chúng sanh ích kỷ, bỏn
xẻn, hẹp ḥi nên Phật dạy ta tự
giáo hóa tâm là chuyển mê ra
ngộ, chuyển Phàm thành Thánh.
Mượn tướng người nữ để chỉ niệm
nhỏ hẹp, thấp hèn, tự chuyển đổi
thành niệm sáng suốt, rộng răi
là tướng người nam. Nên nói “nguyện
chán thân nữ” là không c̣n
đeo đuổi, nhàm chán sự giả tạm,
tham sân si, phiền năo. Tàm quư
là biết xấu hổ, danh từ “chán
thân nữ” chuyển niệm xấu ác,
hèn mọn thành thiện lành trong
sạch. “Nguyện
chán thân nữ chuyển thân nam”
đă kiến tánh thấy niệm nhiễm ô
là trần lao, ô trọc, nghiệp
chướng nên không khởi niệm. Đă
vô lượng kiếp v́ nghiệp chướng
sâu dày, thường sống với niệm vô
minh trần lao bỏn xẻn nên nguyện
chán thân nữ (niệm)
chuyển (niệm)
thân nam.
Kinh pháp
Hoa nói đến Long Nữ là loài súc
sinh. Long nữ là loài rồng sống
dưới nước, nơi ở là đáy biển, là
chỗ sâu, ư này chỉ chúng sinh
thường sống trong hầm sâu vô
minh tăm tối, đó là những niệm
thấp hèn sâu kín, từ lâu đọa
trong biển nghiệp của tâm súc
sinh, niệm niệm vô minh. Khi ấy
Ngài Trí Tích Bồ Tát (trí
huệ sẵn có) hỏi ngài Văn Thù
Sư Lợi rằng “Ngài
qua cung rồng hóa độ được bao
nhiêu chúng sanh?”. Ngài Văn
Thù Sư Lợi nói “Tôi
giáo hóa ở biển ( Ta bà ) việc
như thế đó, có con gái vua rồng
là Long Nữ mới tám tuổi, có căn
tánh lanh lẹ, có trí huệ khéo,
biết căn tánh hành nghiệp của
chúng sanh, đặng pháp tổng tŕ,
biết các tạng pháp rất sâu kín
của Phật nói điều có thể thọ tŕ
sâu mầu vào thiền định (thấy rơ
các niệm trong tâm), rơ thấu các
pháp, tâm bồ đề bất thối chuyển,
nàng thương chúng sanh như con
đỏ ( thương các niệm thấp hèn
trong tâm ), công đức đầy đủ,
ḷng nghĩ miệng nói pháp nhiệm
mầu, rộng lớn, từ bi, nhơn đức,
khiêm nhường, ư chí ḥa nhă,
nàng ấy có thể đến bồ đề”.
Long Nữ là
loài rồng, lại c̣n mang thân nữ
là loài thú tuổi c̣n nhỏ, mới
tám tuổi vẫn có thể thành Phật
được chánh giác. Tự tánh đă sẵn
có trí tuệ tuy mang tướng súc
sinh, chỉ v́ nghiệp hoặc v́ thị
hiện nguyện độ chúng sinh mà
hiện tướng, nếu giác ngộ th́ bất
luận nam hay nữ đều chứng quả.
Nh́n vào tướng th́ có nam hay nữ
nhưng khi giác ngộ th́ tánh giác
vốn b́nh đẳng, khi kiến tánh đă
bỏ các thói quen, tội lỗi, xấu
xa, thấp hèn đều giác ngộ thành
Phật. Cho nên những niệm thấp
hèn của cơi súc sanh, ngạ quỷ,
tất cả gọi là ở trong biển
nghiệp bao la sâu kín tận cùng
v́ vô minh. Nếu biết giáo hóa
bằng trí (
tượng trưng ngài Xá Lợi Phất là
bậc đại trí huệ ) cũng
chuyển hóa thành Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, tất cả
đều được thành chánh giác, nghĩa
là bỏ niệm nữ nhơn thấp hèn
chuyển thành tâm niệm của bậc
đại trượng phu nam tử th́ phiền
năo tức bồ đề, ĺa bến mê qua bờ
giác.
Nguyện hăm hai
chúng sanh quốc độ
Thần túc thông đắc ngộ dong chơi
Bao hàm thế giới nơi nơi
Vượt qua khắp hết mau thời hơn
bay.
Nguyện 23,
nguyện liên hoa hóa sanh.
Khi tánh đă trong sạch không c̣n
ô nhiễm pháp thế gian là tham
sân si dù ở trong cuộc đời mà đă
gạn lọc các niệm ác trở nên
thanh tịnh. Ví như sự tinh
khiết, đẹp đẽ của hoa sen dù ở
nơi bùn lầy hoa vẫn tỏa hương
thơm, đậm sắc màu tươi tốt. Nếu
chạy theo vật chất thấy sắc cũng
mê, rượu chè cũng mê, danh lợi
cũng mê… th́ đó là nhiễm trần
lao, như sen bị nhiễm bùn. Người
sáng suốt dù ở Ta bà mà vẫn có
niệm làm lợi ích cho chúng sanh,
không mê đắm các pháp thế gian,
chạy theo dục vọng ham muốn gọi
là Liên Hoa hóa sanh.
Trong kinh
Phật dạy, Cửu Phẩm Liên Hoa là
có ba đường ác, địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh. Nếu đă giác nên
sáng suốt giáo hóa các tà niệm
dần dần trong sạch gọi là hạ
phẩm hạ sanh. Quả Thanh Văn
chứng Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-la-hán là ba phẩm trung sanh.
Đến hàng Bồ Tát Sơ Địa, Bồ Tát
Thập Địa là cửu phẩm Liên Hoa.
Tất cả đều từ tâm niệm trong tâm
trong sạch dần. Sự trong sạch
cũng tùy tâm địa, căn cơ, cũng
có cao, có thấp gọi là hạ phẩm
hạ sanh, trung phẩm trung sanh,
thượng phẩm thượng sanh. 3 lần 9
là 27 nên là 27 phẩm sen vàng.
Gọi là Liên Hoa Hóa Sanh, là đă
trong sạch các niệm tại tâm
ḿnh.
Sự diễn bày
của đức Phật dùng tướng để chỉ
tánh nơi tự tâm mỗi người, ta
phải thật lưu ư để tránh sự lầm
lẫn, lầm chấp vào tướng.
Nguyện hăm ba
tôi nay thành Phật
Danh hiệu tôi rơ thật mười
phương
Phật và đại chúng tán dương
Dân tôi quy phục lại thương tôi
hoài
Thiên nhơn với các loài súc vật
Niệm danh tôi cho thật chí thành
Sanh ḷng vui vẻ hiền lành
Lâm chung sẽ đặng hóa sanh sen
vàng.
Nguyện hai mươi bốn
ánh quang minh chiếu
Nơi đầu tôi tuyệt diệu rỡ ràng
Mặt trời cùng ánh mặt trăng
Tuy là sáng tỏ chẳng bằng Phật
quang.
Nguyện 25 nguyện 26 nguyện 27
25 nguyện
thiên nhơn lễ kính.
26 nguyện
nghe danh hiệu được phước.
27 nguyện
tu thù thắng hạnh.
“Khi
con thành Phật, chúng sanh khắp
mười phương nghe danh hiệu con
đều vui mừng tin tưởng, nhất tâm
lễ kính quy mạng”. Khi tâm
không c̣n các niệm phiền năo khổ
đau th́ ta an lạc, hạnh phúc,
hoan hỷ, vui mừng. Khi nghe được
danh hiệu tự giác (Phật)
(
danh hiệu A Di Đà tự tánh ),
khi các niệm phiền năo ở đâu
niệm giác liền theo đó th́ các
niệm vô minh đều tự lễ bái quy
phục, quy mạng lễ (
niệm mê đă tự giác đă quy phục
nên sáng suốt gọi là Bồ Tát
). Các niệm sai quấy không c̣n
hoành hành, tự tung tự tác đấu
tranh, sân si vẽ vời được nữa.
Đă giác ngộ quy phục tánh giác,
phải điều phục tất cả niệm chúng
sanh bằng tánh giác. V́ không
hoan hỷ với tâm ḿnh, không tự
tin chính ḿnh nên măi đi t́m
kiếm sự van xin, cầu khẩn, mê
tín bên ngoài, cầu xin Thần
Thánh pḥ hộ. Tất cả niệm say
mê, lầm lạc đă trở thành Bồ Tát
nên gọi là quy mạng. “Đem
tâm thanh tịnh tu hạnh Bồ Tát”,
thường theo hạnh Bồ Tát, khởi
ḷng giáo hóa chúng sanh gọi là
Bồ tát hạnh, “chư
thiên người đời hết ḷng cung
kính”. Nếu tự chuyển hóa
được tâm niệm này th́ trời người
đều an lạc, hạnh phúc nên trời
người đều cung kính ( cung kính
tánh giác ). “Nếu
nghe được danh con sau sanh vào
nhà tôn quư”, nhà tôn quư là
nhà Như Lai, là đất Phật “các
căn đầy đủ”, sáu căn đều
giác sáng suốt, không sa đọa, mê
lầm v́ tăm tối, đầy đủ trí huệ
Phật. Mắt là sự thấy sáng suốt
là giác, mắt Phật là Phật nhăn,
mũi giác, tai giác, lưỡi giác,
thân giác, ư giác, không sử dụng
căn phàm nên Phật dạy vô nhăn,
nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ư. Sáu căn
đều giác ngộ nên gọi là các căn
đầy đủ tánh giác “thường
tu thù thắng phạm hạnh”. Tâm
ta tự sáng suốt, tâm niệm là trí
huệ, không giả dối bên ngoài, tự
tâm luôn quyết định, không lệ
thuộc đua đ̣i theo ai cả gọi là
phạm hạnh. Ǵn giữ mọi hành động
đều thanh tịnh là nguyện nghe
danh hiệu được phước, nguyện tu
thù thắng hạnh vượt bậc, đặc
biệt hơn tất cả tuyệt diệu cao
siêu nếu không được vậy thề
không thành chánh giác. Chúng
sanh nào hiểu được tự tánh th́
phước đức vô lượng v́ không c̣n
niệm vào phiền năo, tinh tấn
vượt qua là tu thù thắng hạnh.
Người giác ngộ tự tâm thường có
vô số tâm niệm Bồ Tát giáo hóa
chúng sanh ; nghe bằng tánh giác
trí huệ, tánh giác đang nghe tự
thổn thức, các tâm niệm si mê mà
giáo hóa th́ được phước vô cùng,
vô tận. Thiên nhân lễ kính là
trời người lễ kính, chỉ có Phật
(
giác ) mới được trời người
lể kính (
Thiên Nhơn Chi Đạo Sư ) xứng
đáng là Thầy trời người.
Tham sân
si là si độn, nếu không xa ĺa
th́ không sanh trí tuệ. Lễ là sự
khuất phục, tự tôn kính các điều
khuất phục là hạnh nhẫn nhục từ
trí tuệ rất lớn v́ trời người
đều lễ kính sẽ nhận được tất cả
phước báu, nếu không sẽ mất tất
cả phước báu. Ta phải tự xét
lại, nghe ḷng ấm áp v́ đức từ
bi trí tuệ hạnh phúc, lắng nghe
được sự hoan hỷ với đức tánh đạo
đức của chính ḿnh, vừa khởi
niệm sai
phạm
th́ lập tức thỉnh mời niệm sáng
suốt là Bồ Tát tại tâm liền hiện
tiền để giáo hóa. Bồ Tát ta phải
tự thấy tánh ta đang nóng giận,
tâm ta đang bực tức, đừng bào
chữa dung túng, bênh vực nó,
phải thường dạy dỗ các niệm mê
này tức thời niệm mê chuyển
thành niệm giác, lúc nào cũng có
tánh giác của Bồ Tát kề bên
khuyên dạy dỗ, gọi là Bồ tát
thường giáo hóa chúng sanh. Nếu
giữ năm giới chơn chánh sẽ có 25
vị thần sáng suốt tại tâm nhắc
nhở thường xuyên. Nếu nghe được
danh hiệu (hiệu
giác) th́ các niệm Thanh
Văn, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền
sẽ hộ tŕ. Ta hăy nh́n vào tự
tánh t́m cho gặp đức Quán Thế Âm
Bồ Tát nhờ Ngài giáo hóa mỗi khi
chợt khởi niệm tội lỗi, độc ác.
Trong sự tư duy bằng trí tuệ ta
sẽ dùng thiên nhĩ mà nghe Bồ Tát
Quán Âm dạy dỗ từng pháp, giáo
hóa từng tâm niệm. Bồ Tát tự tâm
đến cơi nào th́ cơi đó sẽ được
sáng suốt, an vui, hạnh húc,
nghe được danh hiệu Phật ( giác
) sẽ thành chánh đẳng chánh
giác. Khi khởi niệm, sinh ra
hành động làm điều ǵ sai phạm,
bất chánh tạo tội lỗi, sẽ thể
hiện tướng sợ sệt, run rẩy, lo
lắng, bất an, kinh hoàng, hốt
hoảng, mặt biến sắc, sáu căn đều
động đậy, mắt tai mũi lưỡi đều
biến đổi, đó là sự báo động của
các cơi, ngầm bảo với nhau nên
t́m lối thoát v́ biết đă phạm
vào pháp giới, nếu bất chợt gặp
người chơn chánh th́ tâm này
cũng cúi mặt, lấm lét, tránh né,
lo rầu v́ biết đă gây nên tội,
v́ vậy lúc nào ta cũng phải sống
với sự cảnh giác, luôn có tánh
giác kề bên các niệm, để không
tạo những hành động độc ác, sai
phạm, độc hại do thân miệng ư
gây nên. Trong tâm có tất cả đầy
đủ chư Thiên Thần hộ tŕ khi tâm
niệm ta biết chuyển đổi, khi các
Bồ Tát nghe tiếng gọi của ḷng,
biết sám hối sẽ giáo hóa hết
thảy chúng sanh thành chánh
giác.
Người tu
hạnh lắng nghe sẽ có thiên nhĩ
thông, nghe được danh hiệu của
chư Thanh Văn, Duyên Giác, chư
Bồ Tát tự tâm. Nếu pháp xuất
hiện là khổ sở năo loạn tùy
duyên đến với ta, phải nhớ lại
hướng thẳng vào tâm, thỉnh mời
t́m Bồ Tát Quán Tự Tại bằng cách
miệng niệm, tâm lễ bái, trí nhớ
tha thiết đến Bồ Tát Quán Thế
Âm, niệm Nam mô Quán Thế Âm Bồ
Tát sẽ có hào quang sáng suốt
của Bồ Tát tự tại hiện ra giáo
hóa, khởi lên giáo hóa bằng sự
suy nghĩ tại ḷng, nhắc nhở niệm
sai quấy của ta bằng sự tuyệt
diệu của hào quang trí tuệ. Cách
buông bỏ, hoan hỷ, sẽ an lạc đó
là Bồ Tát Tự Tại sáng suốt ở tâm
ta nguyện
tự
độ ta. Nếu nghe danh y giáo
phụng hành th́ sẽ đắc phước tại
nơi ta. Nếu không học hạnh từ bi
hỷ xả th́ nhân bất học bất tri
lư, người không học không thể
tri t́m được chân lư, không sanh
trí huệ. Ta không nên mê muội,
biếng nhác. Nếu không lo tu tâm,
sửa tánh, măi mang tư tưởng cầu
xin, van lạy sẽ bị ngoại đạo lừa
đảo, gạt gẫm đưa ta đến con
đường mê tín dị đoan, phải sống
trong vọng tưởng điên đảo. Dù
van lạy, cầu xin bao nhiêu cũng
không sinh trí tuệ, phải tự tu
tâm an định, xả bỏ mọi xấu xa,
sai lầm, mê muội mới hiển lộ sự
sáng suốt thanh tịnh, trí huệ
được. Nếu cúng heo gà vịt nầy nọ
mà được th́ đó là tư tưởng hối
lộ có qua có lại. Phật Thánh
Tiên không nhận vật thế gian v́
các pháp là huyễn, là ô nhiễm.
Khi nghe lại trong tâm có những
niệm sáng suốt, giải thích theo
chân lư sáng suốt, ngưng nghỉ
các niệm ác, đó là lời Bồ Tát
Quán Âm tầm thinh cứu khổ đang
giáo hóa chúng sanh thế gian,
gọi là lương tâm tự xét lấy, đó
là vô số các Bồ Tát trong tự
tánh hằng dạy dỗ giáo hóa chúng
sanh.
Nguyện hăm lăm
hào quang tôi chói
Khắp cùng nơi chỗ tối khúc quanh
Thiên Nhơn cùng các súc sanh
Thấy liền đặng khởi ḷng thành
quy y.
Nguyện hăm sáu
bất kỳ nhơn thú
Trong thập phương vũ trụ vân vân
Nhờ hào quang chiếu đến thân
Từ ḥa tâm tánh hơn dân cơi
trời.
Nguyện hăm bảy
Tiên người phát ư
Tâm bồ đề tŕ chí giới trai
Lục ba-la-mật quảng khai
Làm nhiều công đức, chẳng sai
một th́
Khi thọ mạng tới kỳ viên măn
Có tôi và các hạng Tăng lành
Phóng quang tiếp dẫn bàng sanh
Đặng làm Bồ Tát tại thành lạc
bang.
Nguyện 28
“Nguyện
nước không có tên bất thiện”.
Sự lừa đảo, xảo huyệt, tranh
giành tranh đấu, hơn thua tính
toán, tư lợi là những niệm nhớ
đến tâm bất thiện, không được
tin tưởng “nguyện
trong nước con” v́ ngoài tâm
không có cơi nước nào khác cả (nhất
thiết do tâm tạo).
Nước con là tâm ta, là niệm
ta, mà sanh ra cơi nước (
vạn pháp quy tâm ), chỉ một
tâm này mà có tất cả, ngoài tâm
không có quốc độ nào khác. Thế
giới nước
ta
chính tại tâm ta, nếu c̣n niệm
đến tam độc là c̣n nhớ đến ba
điều ác th́ không gọi là giác
được. Ác là tham sân si, ta hăy
tự xét lại tâm c̣n chứa điều này
không? Nếu chưa dứt được các
niệm ác tại tâm, dù có đổi h́nh
tướng là mặc áo Như Lai mà ḷng
chưa thanh tịnh, miệng khuyên
mọi người tu mà ta chưa tu, đó
là âm thanh ngoài miệng, là danh
từ bên ngoài, chưa đủ nguyện lực
độ chúng sanh, đó là lừa dối
chúng sanh, tự ta gạt gẫm ta và
mọi người th́ không thoát được
niệm lừa đảo. Chỉ trong năm giới
ta đă phạm vào tội vọng ngôn là
giới nói dối, tự dối ḿnh, dối
người, không thành chánh giác
được. V́ không chánh ngữ, xét
tột cùng tâm ta c̣n tà ma làm
sao dạy dỗ giáo hóa tà ma được.
Giảng kinh là nói về chánh giác,
nếu tâm ta chưa giác th́ pháp
hành không chơn chánh, v́ Phật
tại tâm mà tâm không phải là
niệm giác th́ không là chánh
pháp được. Phải xét lại coi tâm
c̣n tham sân si, phiền năo, là
có tên bất thiện trong nước, mù
không dắt người tăm tối được.
Nếu nhà ta là địa ngục (
tâm ta ), ngạ quỷ, súc sanh
th́ không thể có nhà Như Lai để
dẫn ai vào được cả. Phật dạy
rằng, người nói pháp Như Lai
phải mặc y Như Lai, nói pháp Như
Lai ngồi ṭa Như Lai, vào nhà
Như Lai.
Y Như Lai
là y tâm, là y theo pháp chơn
chánh mà thực hành tại nội tâm ;
không chấp vào tướng là sự thanh
tịnh ; nhu ḥa, nhẫn nhục là
pháp hạnh Như Lai, là pháp giải
thoát, từ bi hỷ xả. Ṭa Như Lai
là pháp không c̣n vướng bận vào
cuộc đời, vào các pháp mê đắm
thế gian, tâm đă sáng suốt an
định. “Chúng
sanh nào ở nước con đều được trụ
vào chánh định”, tâm ta
không c̣n một niệm điên đảo,
không c̣n niệm ham muốn, đ̣i hỏi
không c̣n niệm tham sân si, đó
là thường ở trong thiền định,
sáng suốt vô cùng, là đèn trí
huệ thường ở trong giới định
huệ. Nếu thường thấy niệm là
thường giác, tâm bồ đề phải kiên
cố, không sống với thập kiết sử,
tâm sẽ thường chánh định. Nếu
tâm không c̣n niệm ác là không
sanh vào ba đường ác, không có
cơi địa ngục, ngạ quỷ súc sanh,
đă trở về hạng Người, Trời Thánh
nhân, chư Thiên, tâm đă tự định,
khi thấy biết ác niệm sai lầm là
trí huệ. Nếu học kinh thuyết
giảng mà trong tâm c̣n thập kiết
sử, không kiến tánh, sự việc này
là kiến thức thế gian chưa ngộ
tánh. Đi vào biển thức mà không
thấy pháp tánh, quốc độ tại tâm
chưa thanh tịnh, gọi là tu ngoài
tâm, là ngoại đạo, là đạo c̣n ở
bên ngoài v́ ngoài tâm không có
Phật nào khác, chỉ tu cho pháp
biểu diễn bên ngoài, rọi vào tâm
vẫn c̣n đầy ấp nghiệp chướng của
cuộc đời, gọi là nghiệp kiến
đài. Phải dùng nghiệp kiến đài
là gương ḷng trí huệ thấy được
các nghiệp của vọng trần mà tự
tu sửa. Khi tâm khởi niệm làm
lợi ích chúng sanh, muốn tin
chắc điều đó phải dựa vào kinh
Phật có đúng niệm của ta không.
V́ kinh Phật là tha lực, nếu cứ
theo niệm khởi của ta mà không
chơn chánh như chơn lư, đem ra
giảng giải giáo hóa mọi người,
nghe phải theo y tâm ḿnh, ràng
buộc trong bảo thủ. Phải y pháp
bất y nhân, phải so tâm niệm của
ta cùng giáo lư Phật dạy, có
đúng không gọi là khế lư khế cơ,
xét căn cơ hiểu biết của ta có
đúng chơn lư Phật không? Tŕnh
độ ta hiểu biết là tŕnh độ của
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát,
xem kỹ hiểu biết của ta đang ở
tŕnh độ, quốc độ nào? Nếu cứ
bừa băi theo ư ḿnh, nào là cúng
kiến, coi bói, xin xăm, trị bệnh
là giới cấm thủ y chỉ của Phật
theo hạnh nguyện tu hành giác
ngộ thoát luân hồi sanh tử. V́
theo đường lối sai lầm tự ta bày
vẽ không đúng với đường Phật
dạy. Nếu tu bên ngoài, theo tự
ngă, dù làm nhiều việc bao nhiêu
mà tâm niệm c̣n sai lạc th́ càng
nhiều kiêu căng, ngă mạn càng
thêm lớn v́ tự cho rằng ta đă tu
nhiều, bên ngoài cho là Phật, mà
ḷng chứa toàn niệm ma ngoại
đạo, đó là luôn niệm sự lợi ích
riêng ḿnh.
Nguyện hăm tám
Thiên nhơn vũ trụ
Nghe danh tôi sắm đủ bỉ bàng
Hương,
đăng, hoa
chúc
huy hoàng
Tràng phan, bảo cái cúng dường
Như Lai.
Tạo tháp tự, tŕ trai thanh tịnh
Làm việc lành tâm định tưởng tôi
Tưởng luôn trọn một ngày thôi
Chắc sẽ đặng nước tôi về liền.
Nguyện 29,
trụ vào
định tu.
Nguyện 30,
nguyện vui
như Tỳ Kheo sạch hết các lậu.
Nguyện 31,
nguyện không tham chấp thân trụ
là không tan, ở an trong chánh
định; không tan hoại liên kết
lại thành khối gọi là định thành
khối ; luôn luôn ở trong chánh
định, không bị những niệm dục
vọng ham muốn, đ̣i hỏi, đă làm
chủ được các pháp gọi là pháp
chủ ; không bị vô minh rù quến
mà chạy theo gọi là không bị đọa
vào, tâm đă là Thế Gian Định Tự
Tại Vương Như Lai ; niệm đă tự
tại không c̣n lệ thuộc vào các
mê vọng thế gian, định tất cả
các pháp không c̣n phân biệt
tham đắm, chấp nhiễm là Định Tự
Tại Vương Như Lai, đó là thần
lực sáng suốt của đức Thích Ca
hóa hiện, dùng tướng, mượn danh
từ có tên người để giáo hóa cho
vua Vô Tránh Niệm đă sẵn có Đức
Tánh Di Đà Thanh Tịnh, cùng tất
cả chúng ta hiện nay đều nương
theo quay về tánh giác là đức
tánh tự có, tự lực, là vua các
pháp, dẫn độ ta vào Cực lạc Tây
phương. Nếu ta nhất quyết nương
trí lực này th́ trong khoảnh
khắc sẽ trực văng Tây phương (
chỉ trong giây phút thảy đồng về
Tây ). Nói xuất gia là tâm
niệm không c̣n niệm vào các pháp
thế gian, không c̣n vướng bận
chi cả. Tuy bên ngoài vẫn đối
đăi làm tất cả việc nhưng không
dính mắc một niệm đắm nhiễm sa
đọa, không tạo sự trói buộc vào
tâm. Xuất gia là ra khỏi nhà
phiền năo, việc ǵ cũng là tâm,
không quan trọng v́ các duyên
đều là hoàn cảnh vô thường mà sự
tu giác ngộ là đại sự nhân
duyên, là việc lớn nhất của con
người, không thể xao lăng. Tu là
chánh giác thành Phật, không v́
việc thế gian vướng mắc mà làm
gián đoạn được, phải xứng đáng
là con người tu hành chơn chánh
“không
c̣n nhiệt năo, hưởng thọ an lạc,
tâm an mát mẽ”.
Nhiệt năo
là nóng giận, phiền năo, tham si
nguyện dứt ĺa. Dứt không phải
là chết, mà có nghĩa vừa khởi
niệm tham sân liền theo tánh
giác dạy dỗ y giáo phụng hành,
tức thời niệm quấy sẽ dứt niệm,
không sanh nữa, định tu chơn
chánh tự tại b́nh an. Giống như
trẻ con vừa khởi lên đ̣i hỏi vật
lạ, khóc la, nếu có cha mẹ rầy
dạy, liền nín khóc nghe theo, đó
là y lời dạy, chấp nhận, không
ngoan cố dai dẳng, nghe được
niệm lành giáo dạy liền bỏ thói
hư không tái phạm “tâm
được mát mẽ”. Tâm không sân
si, đ̣i hỏi nên nhẹ nhàng thoải
mái mát mẽ. Ăn cũng thoải mái,
không đ̣i món ngon vật lạ, mặc
cũng b́nh thường không v́ bất
như ư mà giận dỗi, buồn phiền.
Tất cả niệm v́ đ̣i hỏi mà sanh
xúc thọ, mắt thích đẹp xúc thọ
sanh ham muốn ; tai nghe êm dịu
thích thú hương vị thơm, ngon;
thọ vị ăn ngon
ngọt sanh thèm khát. Tu là không
bị cảm xúc khống chế, không v́
trạng thái thay đổi cho là chứng
đắc. Từ bên ngoài đến nội tâm
cũng không cầu đắc, gọi là vô sở
đắc cố bồ đề tát đỏa, v́ vô sở
đắc nên nói là vô lượng vô biên.
Những tâm định tu cứng chắc như
Kim Cang, gọi là Kim Cang bất
hoại nên đức Phật Thích Ca phát
nguyện “dù
thịt nát xương tan nếu không
chánh đẳng chánh giác thề không
đứng dậy”, tại cây bồ đề lúc
thiền định 49 ngày là định kiên
cố, không lay động, gọi là Như
Lai (
không đến không đi như như bất
động ). Không pháp nào quyến
rũ được, không đắm đọa vào sắc,
thọ, tưởng, hành, thức “nguyện
vui như Tỳ Kheo dứt sạch các lậu”.
Lậu là tham lam, hẹp ḥi, nhỏ
mọn, phiền năo, bực bội… nếu
không c̣n các niệm này là dứt
sạch các lậu. Hoàn cảnh nào cũng
an lạc, bằng ḷng, không khổ sở
; nếu măi đ̣i hỏi, ham muốn mà
không được như ư th́ khổ vô cùng
; nếu đă dứt sạch các lậu, tâm
đă thanh tịnh sáng suốt, trí huệ
mới được mệnh danh là Tỳ Kheo.
Nếu tướng là Tỳ Kheo mà tâm c̣n
chứa niệm phiền năo, tham, sân,
si đố kỵ, tranh giành, chỉ là sự
bên ngoài c̣n vướng trụ, chưa
đúng là tâm Tỳ Kheo. Nếu tâm đă
sạch các lậu hoặc là chứng được
lục thông, không c̣n phiền năo
gọi là lậu hoặc. “Hưởng
thọ an lạc” mọi hoàn cảnh
buồn vui, vừa ư, bất như ư đều
an lạc bằng ḷng. Nghèo cũng an
ổn, giàu cũng an ổn v́ biết
phước họa do nhân, kết quả các
pháp thể hiện trên đời đều do
nhân mà thành quả tốt xấu, ở bất
cứ nơi nào cũng an lạc, gọi là
thọ lạc là thường lạc. “Nếu
c̣n khởi niệm tham đắm, tưởng
nhớ thân sau”, là vẫn c̣n
tiếp tục tham thân, cho là thân
hiện tại không xứng đáng, quyết
ḷng làm nhiều phước để hưởng
thân sau đẹp đẽ, sang trọng,
quyền quư, nên kinh dạy nếu khởi
niệm tham đắm thân sau thề không
thành chánh giác. Phải tùy
duyên, dù thân nào cũng nguyện
giáo hóa chúng sanh không thối
chuyển, có vô lượng Bồ Tát ở
trong tâm thị hiện qua nhiều
h́nh tướng.
Đức Phật
qua nhiều kiếp hiện thân khỉ,
nai, dă can, chim anh vũ nhưng
thân nào cũng giáo hóa chúng
sanh. Ta không đ̣i hỏi thân nào,
không chấp vào tướng, chỉ sống
với tánh giác. Nếu cần độ nơi
nào th́ hiện thân nơi đó nên đức
Bồ tát Quán Thế Âm thị hiện
tướng Quán Âm Đại Sĩ mọi người
thường gọi là ông Tiêu chuyên
giữ cửa chùa (
cửa tâm ), canh chừng tà ma
quấy nhiễu, tượng trưng tại tâm
ta có Quán Âm Đại Sĩ hằng canh
giữ cửa tâm không để niệm tà ma
quấy nhiễu, các niệm mê quyến rũ
vào lục đạo. Muốn trưởng giả thị
hiện thân trưởng giả, cư sĩ hiện
cư sĩ, đồng nam hiện đồng nam,
trời rồng, càn thát bà, dạ xoa…
thân nào cũng nguyện độ khắp
chúng sanh. V́ không tự ngă, ta
không là thân nào cả nên gọi là
tự tại thế gian. Thành Phật là
tự giác, là thành tựu các pháp
viên măn giác ngộ giải thoát.
Các pháp đều do nhiều duyên kết
hợp mà thành, có danh từ Bồ Tát
là kết hợp bởi các pháp giác
ngộ, thường giáo hóa làm lợi ích
chúng sinh nên được có danh là
Bồ Tát thường giáo hóa tâm niệm
chính ḿnh. Vừa nghe có niệm
nóng giận, sân si, liền giác,
giáo hóa trở lại sự b́nh an, an
ổn, từ các niệm tại tâm đó là Bồ
Tát tự độ, tự giác giúp người
được sáng suốt là giác tha. Ta
có thân là do tứ đại hợp thành
nên lớn vô cùng vô lượng, không
giới hạn cho nên khi niệm vô
minh sanh khởi nó cũng trùm
khắp, tối tăm, trong tâm toàn sự
ngu muội, không được một ánh
sáng chơn lư nào chuyển hóa được
gọi là cố chấp. Nên ta không
chấp thật thân này là của riêng
ḿnh, là của đại thể vũ trụ sơn
hà rộng lớn vô cùng, trùm khắp ;
khi niệm vô minh sanh khởi th́
âm u tất cả, lúc thanh tịnh th́
trùm khắp quang minh ; chung
quanh ta đất nước gió lửa là tứ
đại, nhưng cũng có kiến đại,
không đại và thức đại lớn vô
lượng vô biên, rộng khắp bao
trùm pháp giới. Vậy tứ đại không
chỉ riêng ai, không của cá nhân
nào. Ta phải biết thân đang ở
cơi Ta-bà là thân huyễn, không
thật là sắc pháp.
Tất cả 48 lời
nguyện trong phẩm Vô Lượng Thọ
nói về bậc Bồ Tát, chỉ đến người
tu kiến tánh thật rơ ràng, một
ḷng tự tu sửa tâm niệm, không
mê đắm các pháp thế gian, không
trói buộc vào một tâm niệm sai
quấy nào, biết thật thân này do
huyễn hóa tạo thành bởi các pháp
si mê, ái dục, lầm lạc mà thành.
C̣n bậc Bồ Tát vẫn có thân nhưng
do phát nguyện độ chúng sinh mà
thành. Cũng như vua Vô Tránh
Niệm, do 48 đại nguyện mà có
tánh đức A Di Đà, ta tu theo
tánh đức A Di Đà cần phải biết.
Dĩ kiến sắc cầu ngă, dĩ âm thanh
cầu ngă, thị nhơn hành tà đạo,
bất năng kiến Như Lai.
Nếu thấy thân là ta, vật chất là
ta, ta hay, ta giỏi, tiền bạc,
nhà cửa, vợ chồng, con cái của
ta, thương ghét, vui buồn là của
ta, là người đó hành tà đạo,
không thấy được tánh Phật. Các
pháp đều do tâm niệm mà thành,
người si mê do niệm sai quấy ;
người ham tu do niệm sáng suốt
mà sinh trí huệ. Có tâm niệm sám
hối là biết chuyển hóa sẽ giác
ngộ. Tu th́ phải thấy ta sẽ niệm
ǵ, nhớ ǵ, nghĩ ǵ? Đó là nghi
t́nh, phải thấy thân tứ đại
không thật, là bùn đen, ô trược,
nhơ bẩn. Trong pháp tứ niệm xứ
Phật dạy quán thân, thân là
phương tiện, là phân bón cho sen
nở (
sen vàng ), nhờ nương vào
thân bùn sịn vượt qua các pháp
thế gian mà hoa trí huệ được nở.
Hiểu biết sáng suốt như vậy tự
nhiên tâm thanh tịnh, tâm định
sẽ có huệ, biết tứ đại là trùm
khắp, nơi nào cũng có không mất
đi đâu, không sanh già bệnh
chết, các pháp vốn tùy duyên,
không đến không đi th́ an lạc
giải thoát, nguyện nào cũng
trọng về phần độ sanh, nếu tu mà
không giác là chúng sanh chưa
được độ. Những niệm tăm tối là
vô minh ở trong ngục thép rất
kiên cố (
chỉ đến sở chấp ), không có
ánh sáng chơn lư giác ngộ nào
lọt vào soi rọi cả ; sở chấp
kiên cố này gọi là ngục a-tỳ ở
tại niệm ngu muội. Thân là
huyễn, thọ th́ khổ, nếu có thân
mà tâm mê muội th́ khổ sở vô
cùng, bị các pháp bức ngặt, tâm
si mê nên lúc nào cũng đau khổ,
năo loạn như bị đày đọa, như tội
nhân ở trong tù ngục. Khổ v́
sanh già bệnh chết, đau đớn, khi
tứ đại bất ḥa ; khổ đau khi vợ
chồng phản bội nhau ; đau buồn
v́ con cái ngỗ nghịch, chết chóc
; các pháp thế gian đều năo
loạn, tâm mê ở trong thân ngũ
uẩn như tù ngục. Vậy mà khi sắp
bỏ thân trả về cho tứ đại, cũng
giống như được măn tù đày, mà
lại tỏ ra sợ sệt, than khóc,
không chịu thoát cảnh tù tội đă
được ân xá, giải thoát, thậm chí
c̣n van lạy, cúng heo, gà, cầu
được ở lại ngục tù để chịu đọa
đày khổ sở, c̣n dùng tiền bạc
mướn thầy làm phù phép để ở lại
ngục tù. Điều này chỉ có bậc
giác ngộ nhận biết thân là giả
tạm, bị giam hăm nơi tù ngục. Ta
không c̣n chấp vào tứ đại huyễn
giả, là nguyện không tham chấp
thân, nếu c̣n tham chấp thân vẫn
c̣n phiền năo, không thành chánh
giác.
Nguyện hăm chín
thiện nhơn mười cơi
Nếu dốc ḷng qua khỏi bến mê
Hiệu tôi thập niệm chuyên bề
Lâm chung sẽ đặng sanh về Lạc
bang
Trừ những kẻ hung tàn hỗn tạp
Cùng những người Phật pháp dễ
khinh
Ai mang tội ấy vào ḿnh
A-tỳ địa ngục thọ h́nh chung
thân.
Nguyện ba mươi
thiên nhơn cầm thú
Trong thập phương vũ trụ khôn
lường
Trước đà tạo tội thường thường
Sau nghe danh Phật tỏ tường cung
khai
Cầu sám hối tŕ trai giới sát
Nguyện làm lành nước Phật mong
sanh
Lâm chung sẽ đặng an lành
Khỏi tam đồ khổ hóa sanh liên
đài.
Nguyện băm mốt
Tiên Người mười cảnh
Nghe danh tôi đảnh lễ theo về
Vui mà tu hạnh Bồ đề
Người người cung kính một bề tán
dương.
Nguyện 32, nguyện 33, nguyện 34
“Khi
con thành Phật, chúng sanh vào
nước con được vô lượng căn lành,
thân thể vững chắc như kim cang
bất hoại, thân tâm đều có hào
quang chiếu sáng, thành tựu hết
thảy trí huệ biện tài, không
cùng tận, rộng nói các pháp bí
yếu, giảng kinh thuyết pháp
tiếng như chuông vang, nếu không
được vậy nguyện không thành
chánh giác”.
Nguyện được
Na-la-diên thân : Cơi Tiên có vị
Tiên tên là Na-la-diên, sức mạnh
bằng bảy con voi, tượng trưng
người tu có năng lực là sức mạnh
như voi. Nói về pháp là nói đến
nguyện lực, niệm lực, định lực,
huệ lực, tinh tấn lực là sức
mạnh của trí tuệ ; nghĩa là khổ
khó, gian nan nào cũng có khả
năng chịu được, luôn vượt lên
mọi khó khăn, khổ đau đó là nội
lực của người tu ; sức định niệm
rất kiên cố, dù sang trọng, sung
sướng, uy quyền danh lợi thế nào
cũng không đắm nhiễm là định
lực.
Huệ lực là
sức mạnh, sự sáng suốt không bị
sức hút của bả lợi danh thu hút,
làm mê đắm. Nguyện được
Na-la-diên thân là nói sức mạnh
định lực tu hành kiên cố như bảy
con voi, vượt qua tất cả tà
pháp, đạp phá mọi thành tŕ,
vượt qua đầm lầy ô nhiễm, cám dỗ
dục vọng thế gian, mà vô lượng
kiếp v́ mê lầm, ta đă từng xây
dựng kiên cố nơi tâm. Là những
niệm điên đảo loạn cuồng, thói
quen của niệm sai lầm do huân
tập, nhờ sức mạnh này phá hủy,
chấm dứt mọi vô minh phiền năo.
Nếu xưa nay măi niệm sống vào
thập kiết sử v́ ngu si tham đắm,
th́ sức mạnh Na-la-diên thân sẽ
là trí huệ phá tan tất cả xiềng
xích, trói buộc bởi vô minh. Nên
có h́nh ảnh trong tranh minh họa
đức Phật dùng hai tay đưa tảng
đá lớn thẳng cao lên khỏi đầu là
nói đến định lực của sức mạnh
trí huệ không thể nghĩ bàn này.
Dù cho tham sân si, phiền năo,
ngă mạn, tự cao rắn chắc như thế
nào, sức mạnh này cũng đạp phá
tan nát, c̣n như yếu hèn không
thể thành chánh giác. Dù cho
thân có già nua, yếu đuối nhưng
tinh thần vẫn mạnh mẽ, cứng rắn,
mạnh dạn sẽ chà đạp được tất cả
phiền năo, tham sân si, hủy diệt
vô minh không c̣n tái sanh nữa,
đó là định lực sức mạnh của trí
tuệ sẽ phá tan. Với thân kim
cang, trí tuệ biện tài, đầy đủ
vô lượng, đă chứng ngộ pháp
Phật, không c̣n sợ điều ǵ ở
cuộc đời. Dù cho lời nói cao
thấp, hơn thua, sâu sắc thế nào
cũng đều biết đủ, thông hết,
biết họ đang niệm vào cơi nào,
họ là chủng tử loài nào, nên gọi
là đa văn trí tuệ biện tài. Dù
việc đời như thế nào cũng đều
thông sáng, niệm họ ra sao, họ
sẽ về đâu, biết rất tường tận.
Với trí biện tài nói rất đúng
pháp, không ngăn ngại, không sợ,
nói chính xác, không nói sai,
không nghĩ sai, không làm sai,
đều y chánh pháp gọi là trí tuệ
biện tài, là nguyện quang minh
trí tuệ biện tài, thành tựu biện
tài không cùng tận. Người tu
theo chơn lư Phật, phải thường
đọc tụng kinh điển, nếu không
học Phật, thông hiểu giáo lư, dù
làm bất cứ phước nào ở thế gian
đều là ngoại đạo v́ kinh điển
phát xuất từ kinh nghiệm, từ trí
huệ Phật, được kết tập lại để
giáo hóa chúng sanh. Phải tu
đúng theo ư Phật, các pháp đều y
giáo phụng hành mới đúng theo
tông chỉ Như Lai. Trong kinh
dạy, phải nhất tâm niệm Phật.
Vậy nhất
tâm niệm Phật là thế nào?
Khi muốn suy
nghĩ điều ǵ, nói điều ǵ, làm
điều ǵ, trước khi phát xuất ra
hành động, phải nhớ lại trong
kinh, xét kỹ rằng, Phật có dạy
điều đó không, nhớ đến công hạnh
Phật gọi là niệm Phật. Nếu nói
đại, làm càng, th́ càng chạy
theo niệm bên ngoài, phải thường
xem kinh để thâm nhập thông suốt
kinh điển, gặp hoàn cảnh nào
cũng nhớ lời Phật dạy, đem ra áp
dụng thực hành. Nếu sử dụng phàm
tâm, khi gặp điều bất như ư sẽ
buồn phiền. Ta nên nhún nhường,
niệm nhớ lời Phật sáng suốt nhẫn
nhịn, nh́n hoài nhịn măi đến khi
thành chánh giác. Phải nghe bằng
trí tuệ đặng hay sửa ḿnh, nghe
thấy bằng trí tuệ th́ sáng suốt.
Những niệm phiền năo nếu chuyển
hóa được thanh tịnh là pháp thân
A Di Đà, tất cả đều là pháp
Phật, hết thảy niệm đều được
chiếu soi, không vướng bận vào
tướng thế gian mới là thật tướng
niệm Phật, mỗi câu niệm Phật đều
có trí huệ gọi là trí huệ Phật.
Các việc thế gian bất luận làm
việc ǵ khi hành động nên quan
sát lại các niệm, nếu thấy tâm
an lạc, hoan hỷ, không c̣n tính
toán v́ tham lam, phiền năo đều
là Phật sự, c̣n ngược lại làm v́
ham danh lợi là ma sự. Có sáng
suốt là Phật, tâm có trí huệ là
Phật huệ.
“Nguyện
quang minh trí huệ biện tài”,
đă kiến tánh nên hoàn toàn sống
với trí tuệ Phật, hiểu biết tất
cả các lậu. Lậu là phiền năo,
khổ sở, mọi hành động do mê si,
tội lỗi, bởi niệm ác gọi là hành
động sanh khởi từ vô minh. Có
trí tuệ xả bỏ các điều ác là từ
bi hỷ xả, là hành động của quang
minh. Con người sự thấy biết đều
đồng nhau, chỉ khác nhau chỗ mê
đắm và buông xả. Mê đắm th́
vướng mắc, tối tăm, xả bỏ th́
tâm an định, sáng suốt. Nhờ có
mắt trí huệ, tự có quang minh
chiếu soi tự biết ĺa được các
lậu nên không phiền năo. Các
pháp Thánh Phàm thành tựu như
huyễn, nếu học biết được tất cả
pháp cũng là huyễn. Nếu là pháp
th́ các pháp vốn là huyễn, không
thật, chỉ là phương tiện, tạm
nương nhờ để tu sửa nơi tâm. Ta
không nên tự cao, ngă mạn, sanh
tâm kiêu hănh là tôi học nhiều,
học giỏi, tôi tài ba. Những điều
học được ở thế gian chỉ là pháp,
tất cả là vọng trần, các pháp
luôn sanh diệt, ta không nên mê
đắm, chấp thật. Các pháp thành
tựu đều bởi nhân duyên, nói
không thật là khuyên ta đừng mê
đắm mà sanh tham lam, ngă mạn. Ở
cuộc đời, sự học cũng rất cần
thiết cho ta và xă hội, sự học
này rất tốt để phát triển tài
năng, phục vụ cho mọi người, cần
có trí nhưng trí phải có đạo đức
theo kèm gọi là thiện trí, làm
tất cả mọi việc thế gian v́ lợi
ích cho ta và mọi người mà ḷng
vẫn thanh tịnh. C̣n trí đi cùng
niệm độc ác gọi là ác trí, sẽ
hại ta và mọi người đều đau khổ.
Tất cả đều là pháp, nhưng có
thiện pháp th́ an lạc, c̣n ác
pháp sẽ đi vào con đường đọa
lạc.
Phật nói
trong kinh Pháp Hoa,
v́ đại sự nhân duyên mà ta thị
hiện để dạy chúng sanh ngộ nhập
tri kiến Phật. Đại sự nhân
duyên cũng là có nhân của đời
quá khứ nên hiện tại có Phật thị
hiện đến thế gian để dẫn dắt
chúng sanh cũng là pháp, vốn có
duyên không có thật. Pháp thành
tựu bởi duyên, phải quán các
pháp như huyễn không ǵ là thật
cả.
“Có
đầy đủ biện tài vô ngại”, dù
có lời hứa, thề thốt vợ chồng
đồng thề non hẹn biển, nói là
thương yêu tha thiết, nhưng nếu
hết duyên cũng tan ră. Pháp vốn
không thường c̣n đều như huyễn,
v́ sáng suốt các Bồ Tát khi đối
diện với pháp, sống với hoàn
cảnh nào cũng biết không thật
nên không hề có tâm đau khổ,
luyến tiếc, phiền năo, oán trách
nên nói là có trí huệ biện tài.
“Rộng
nói các pháp bí yếu, giảng kinh
thuyết pháp tiếng như chuông
vang, nếu không được vậy thề
không thành chánh giác”.
Sao gọi là
bí yếu? Thời đức Phật có Tôn Giả
A-nan nhớ hết lời của Phật dạy.
Nhưng khi kết tập kinh điển Ngài
Ca Diếp nói rằng “Khi
nào ông có thần thông biến hóa
chung qua được lỗ khóa, th́ ông
mới vô được hội kết tập”.
Ngài A-nan lăn lộn khóc lóc, đập
ḿnh mẫy muốn chết cho rồi, v́
đă học hết kinh Phật, sao ngài
Ca Diếp không cho vô kết tập
kinh. Nói về cách Ngài A-nan
muốn chết cho xong là
chỉ
đến tinh thần của pháp vô ngă (bỏ
thân, bỏ luôn sự học, bỏ tất cả
pháp thế gian) v́ vô ngă nên
ngài nhận thấy được tự tánh sáng
suốt tự sẵn có nơi trí huệ Phật,
mà từ lâu quên lăng, đă phá vỡ
hầm sâu vô minh, mở cửa tâm là
vào lỗ khóa mở được tạng bí mật.
Sự học từ sơ cơ đức Phật thuyết
giảng đều là dùng phương tiện để
dẫn chúng sanh từ bờ mê đến bến
giác, dẫn cho mọi người được
giác ngộ. Chúng sanh có rất
nhiều tŕnh độ phải thuyết giảng
từ sự kiến tánh mà nói ra.
Giảng
từ tự tánh là thế nào?
Thế nào là giảng nơi kiến tánh?
Như ở thế gian ta có một khối
vàng nếu muốn làm bông tai,
nhẫn, dây chuyền, th́ xuất xứ
của những đồ trang sức có là từ
khối vàng mà ra nên đức Phật có
tự tánh giác ngộ của ḿnh, làm
phương pháp giáo hóa, có mục
đích là giác ngộ cho chúng sanh.
Nên bất cứ nói điều ǵ, pháp ǵ,
mục đích chỉ là giác ngộ giải
thoát, phải ra khỏi lập luận tà
kiến, mê hoặc của chúng sanh mới
chính là tạng bí yếu. Người nói
được tạng bí yếu phải đầy đủ tâm
lực, huệ lực, từ đức Phật mới
nói được, c̣n không vào được
tạng bí yếu, cứ giảng giải theo
thế gian sẽ vướng trụ chấp vào
pháp tướng mà Phật nói tất cả
pháp tướng đều là vô tướng,
không thật như huyễn.
“Tiếng
như chuông vang”, tiếng
trong trẻo vang là không bị ngăn
ngắt, không c̣n ngăn ngại bởi
phiền năo che lấp, không đè bít
tiếng vang, nói pháp thông suốt,
không bị chướng ngại nên gọi là
chuông vang. Ở đâu cũng vang đến
ngân nga vào tâm người được êm
ái thanh thoát, sáng suốt, không
dứt gọi là tiếng chuông vang. Đó
là như tiếng chuông vang, nếu
không được vậy thề không thành
chánh giác. Vậy bậc chánh đẳng
chánh giác là ai? Đó là Phật (giác)
nên ta có tánh Phật, trí Phật
sẵn có mà không thường rèn
luyện, tu tập nên măi măi chịu
lầm mê.
Nguyện băm hai
thập phương thế giới
Những đàn bà, con gái chán đời
Phát tâm tín niệm danh tôi
Thân sau không có phục hồi nữ
nhơn.
Nguyện 34,
nguyện nói các pháp yếu v́ kiến
tánh biết rơ các pháp Thánh
phàm, thanh trược đều do tâm
sanh. Yếu chỉ Phật diễn bày nói
đến cuộc sống hằng ngày, ta luôn
sống với tâm niệm đó là điều bí
yếu. Ta luôn quan trọng về phần
thân xác mà không biết là lúc
nào cũng sống bằng niệm, niệm
niệm sanh diệt không dừng. Thân
xác là nơi nương náu của tâm
niệm nên niệm giàu, niệm nghèo,
niệm tốt, niệm xấu, niệm phải,
niệm quấy, niệm hơn, niệm thua,
niệm giận, niệm buồn … tất cả
đều là niệm v́ niệm là bí yếu.
Nếu thấy được các niệm sinh khởi
tự chọn lựa, biết tà niệm hay
chánh niệm, là sử dụng sẽ viên
thành Phật đạo. V́ kiến tánh nên
biết rơ Thánh phàm, thanh trược
đều do tâm sanh.
“Độ
chúng sanh thoát khỏi luân hồi
sanh tử”, qua h́nh tướng
thấy là có sanh có tử, c̣n niệm
th́ không sanh tử, niệm niệm
liên tục giống như ḍng thác
chảy hết niệm này đến niệm khác,
biến đổi không ngừng ; v́ không
giác ngộ nên măi niệm tham, niệm
sân, niệm si, niệm ái … Khi niệm
niệm khởi lên mà tâm không vướng
bận vào các tà pháp gọi là vô
niệm. Như nước đang chảy, nếu
không có vật ǵ xen lộn vào, chỉ
toàn là nước, nhưng khi có vướng
vật cản nào vào, nước gọi vật
cản là niệm. V́ có tâm nên niệm
đó là có niệm phân biệt, c̣n tự
nhiên các pháp là niệm niệm liên
tục vốn nó là vô niệm. An lạc,
vô tư, giải thoát chúng sanh,
niệm niệm măi niệm phàm phu sanh
trưởng nên sanh tâm đau khổ.
Nguyện băm ba
chúng dân mới tới
Quả vô sanh bất thối chứng liền
Lại c̣n quả Phật đoàn viên
Ngoại trừ những vị bổn nguyền độ
sanh
Tôi sẽ
giúp cho thành sở
mộ
Tới tha phương tế độ hàm linh
Hạnh tu Bồ Tát rất tinh
Lại c̣n lấy sức oai linh hộ
truyền
Cho người thấy tinh chuyên tấn
bộ
Các chúng sanh tín độ phát
nguyền
Bồ đề tịch diệt Phổ Hiền
Tấn thâm tối thắng, cần chuyên
tu hành.
Nguyện ba bốn
dân lành trong nước
Độ chúng sanh sau trước các
phương
Sở nguyện sẽ đặng toại ḷng
Bao nhiêu ác nghiệp ba đường
khỏi mang.
Nguyện 35,
“Khi
con thành Phật chúng sanh nào
vào nước con biết chắc đến bậc
nhất sanh bổ xứ”.
Nhất sanh bổ xứ là ǵ?
Người bắt đầu trở về sống với
bản tâm ḿnh gọi là sơ kiến
tánh, khi được thiện tri thức
chỉ dạy phải chuyên tâm theo dơi
từng niệm, giáo hóa giữ ǵn các
niệm khởi gọi là kiến tánh khởi
tu. Khi ta thuần thục niệm nào
cũng sáng suốt, trí huệ, niệm
nào cũng không vướng bận giải
thoát, đây là Bồ Tát đẳng giác.
Bồ Tát đẳng giác nhiều lần giáo
hóa chúng sanh, khi đầy đủ nhân
duyên như Phật Thích Ca về thế
giới thanh tịnh tiếp tục hóa độ
chúng sinh gọi là nhất sanh bổ
xứ. C̣n sanh lại một lần nữa sẽ
thành Phật nên Phật nói ta đến
đây chỉ một lần này thôi gọi là
nhất sanh bổ xứ. Nếu không được
vậy thệ không thành chánh giác.
“Chúng
sanh nào ở nước con chắc chắn
nhất sanh bổ xứ” nếu quyết
ḷng theo dơi niệm, không chạy
theo niệm vào các pháp nên đă
vào nước con, cùng tâm niệm như
con nhất định là nhất sanh bổ
xứ, chắc chắn sẽ thành Phật. Bồ
Tát phải giáo hóa chúng sinh,
bằng cách dạy chúng sinh nhất
tâm niệm Phật, phải thường đọc
tụng kinh điển, mới biết cách
giáo hóa, nếu không hiểu giáo
lư, măi mê lầm, tà niệm sẽ dẫn
dắt ta vào ác đạo. Để niệm mê
lầm dẫn dắt theo cám dỗ thế gian
là tà niệm, phải nhờ lời giáo
hóa của Phật dạy trong kinh mà
nhắc nhở từng niệm, khi niệm
khởi lên đức Phật là thầy của
trời người, ta là hậu tấn đi
sau, nếu không y lời Phật dạy,
không theo dơi niệm, sẽ bị tà
niệm dẫn dắt đi sai đường, trừ
khi phát nguyện rộng lớn trở lại
độ chúng sanh giáo hóa hữu t́nh.
Có những hạnh
nguyện hội nhập Ta-bà, cứu độ
chúng sanh như hạnh nguyện của
Bồ Tát Quán Âm, nguyện không
thành Phật phát rộng 12 nguyện
lực v́ măi nghe chúng sanh đau
khổ mà nguyện đến hóa độ, nên
không nguyện nhất sanh bổ xứ.
Khuyên phát tín tâm tu hành hạnh
Bồ Tát. Hạnh nguyện Phổ Hiền
cũng phát đại nguyện như Đức
Quán Thế Âm, tuy sanh vào thế
giới khác, hằng sa ác thú hoặc
thuyết pháp, nghe pháp hay hiện
thần túc thông tùy ư, tu tập
thảy đều viên măn, vị ấy ở đâu
đều có thể thay Phật diễn nói
pháp yếu cũng như Phật, nhưng đó
là do lời phát nguyện cũng như
hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, hạnh Quán
Âm Bồ Tát v́ thấy chúng sanh đau
khổ nên phát nguyện thay Phật độ
chúng sanh, hiện thần túc thông,
dùng trí tuệ, giảng nói pháp yếu
của chư Phật. Nói pháp quá khứ,
hiện tại, vị lai, chỉ tội đời
trước quả báo ra sao, nói nhân
hiện tại tạo phước ra sao, quả
báo thế nào đều biết rơ. Phải
biết tâm niệm quá khứ, hiện tại,
vị lai theo dơi từng tâm niệm,
biết các niệm đều ngưng nghỉ.
Không phải nghỉ là hết niệm, mà
ngưng nghỉ niệm vào phiền năo
sân si, độc ác, đấu tranh đă
viễn ly, không c̣n nghĩ đến nữa,
v́ biết đó là tà niệm. Niệm khởi
v́ si mê, chạy theo sự tướng gọi
là chúng sinh ; niệm khởi giáo
hóa chúng sinh gọi là Bồ Tát.
Chúng sanh mê khác với Bồ Tát v́
thiếu sự giáo hóa, vậy Bồ Tát
thường giáo hóa hiện thần túc
thông, gần gũi, nhắc nhở chúng
sinh hiểu biết sáng suốt từng
niệm nên được nhất sanh bổ xứ
chánh đẳng chánh giác.
Nguyện băm lăm
các hàng Bồ Tát
Muốn cúng dường chư Phật đâu đâu
Hoa hương anh lạc trân châu
Liền đi khắp đủ vừa hầu bữa ăn.
Nguyện 36
nguyện giáo hóa tùy ư,
tại sao gọi là tùy ư? Nhờ
nh́n vào tánh thấy rơ được tâm
niệm chúng sanh. Tùy ư lựa pháp
nào ứng cơ, tùy hoàn cảnh, tùy
tâm niệm, căn cơ của chúng sanh,
tùy sự mê muội mà Bồ Tát chọn
lựa pháp để giáo hóa, không v́
quyền lực thế gian mà bắt buộc
theo ư riêng của ta, sắp đặt đó
là ư ỷ lại. Tùy theo sự u tối,
thấp hèn của chúng sanh mà dùng
pháp mà dạy dỗ. Tham phải dùng
pháp nào ; sân si dùng pháp nào
; phiền năo, bỏn xẻn… dùng pháp
nào gọi là tùy bệnh mà cho
thuốc. Như pháp lục độ ba-la-mật
là bố thí, dạy ta chuyển hóa
niệm tham lam, ích kỷ, nhỏ mọn,
đê tiện, tập dần để trở thành
tâm cao thượng, vượt lên cao. V́
mê muội thường khởi niệm chúng
sinh gọi là niệm vô minh. Nên
niệm vô số buồn phiền, giận,
ghét, đấu tranh măi chất chồng,
kết chặt, sân si, phiền năo,
cứng chắc không co giản, phải
dùng niệm đến sự bố thí là pháp
buông xả, thả lỏng ra không c̣n
trói buộc, nhờ xả bỏ nên tâm
được hoan hỷ.
Hạnh nhẫn
nhục dạy chúng sanh khi khởi
niệm liền nhớ đến tánh nóng nảy,
bực dọc, muốn sát hại, chém
giết, dạy hạnh nhu ḥa ĺa niệm
ác, lướt qua các chướng nạn, sân
si làm bức bách nơi ḷng, bỏ
tánh khó chịu, phải tự chịu đựng
nên tùy ư công đức sự kham nhẫn
mà giáo hóa. Nếu giáo hóa không
biết tùy ư, cứ tùy vào sự ngă
mạn, tự cao, hách dịch, ỷ lại,
bảo thủ theo ư xằng bậy, ích kỷ
của tâm niệm ḿnh là đi ngược
chân lư Phật, là không tùy thuận
chúng sanh, khi đă thông suốt
toàn vẹn gọi là bậc chánh giác.
Tự tánh
chứa muôn pháp, tự tánh làm được
tất cả, sự diệu dụng rất linh
hoạt, có khả năng biến hóa vô
lượng, không pháp nào là không
thọ, nên gọi là tha thọ dụng.
Hiếu thảo có nhân nghĩa, bất
hiếu vô nhân, thương, ghét, vui,
buồn v.v… đều từ tự tánh. Trong
chuyện thời đức Phật Thích Ca
nói về tiền thân Ngài, có một
kiếp là
Chim Anh Vũ, v́ hiếu thảo
nên hằng ngày thường tha mồi về
nuôi mẹ mù đui.
Chim tượng trưng cho loài
bay cao, tự do bay nhảy, là chỉ
trong tự tánh ta cũng có những
niệm cao thượng, tự do.
Anh là sự sáng suốt tinh
anh, giác ngộ.
Vũ chỉ đến gió băo giữa cuộc
đời, dù nơi biển khổ Ta bà, cơi
dục trần đầy dẫy khổ đau, cuồng
loạn nhưng trí tuệ là hào quang
tinh anh vẫn hằng soi rọi gọi là
tánh giác.
Mẹ là tự tánh thường sanh
muôn pháp, v́ sanh niệm mê lầm
gọi là
mù đui. Chạy theo pháp thế
gian đấu tranh giành giựt, tạo
nghiệp không ngừng, măi gieo
nhân đau khổ vào tâm địa, bị đọa
đày trong tam ác đạo.
Các pháp
thiện lành do đă tự giác gọi là
pháp bảo. Hằng ngày ta tu tập
như Tứ Niệm Xứ, Từ Bi Hỷ Xả, 37
Phẩm Trợ Đạo, Bát Chánh Đạo
Phần, niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm Thiên, niệm Thí, niệm
Giới, niệm Xả là Thất Bồ Đề
Phần, đó là mồi mà niệm tự giác
(
chim anh vũ ) tha từng phần
đem về nuôi mẹ, là tự tánh mù
đuôi được giác ngộ trong sạch,
sáng suốt. Nói đến tiền thân
nghĩa là đức Phật muốn dạy ta về
túc mạng minh, nhớ lại những
niệm sáng suốt, tốt đẹp đă từng
tu tập, đă từng hiếu thảo.Tự
tánh từng được nuôi dưỡng bằng
niệm tự giác là giác từng phần,
v́ phá một phần vô minh chứng
một phần pháp thân. Vậy ta là
người tu Tịnh độ hăy dùng pháp
cao thượng như Chim Anh Vũ tha
mồi về nuôi mẹ, là tự tánh ta
hằng ngày, là sự công phu, tu
tập không gián đoạn. Ta thường
săn sóc tự tánh bằng tín nguyện
hạnh, giới định huệ là pháp an
lành giúp no đủ trí huệ, càng
ngày tánh ta càng trong sáng, tự
nhiên, không c̣n vướng mắc,
không niệm vào các pháp thế gian
là đă sống được với chơn tâm. V́
không c̣n niệm phân biệt, khi
đối cảnh không duyên theo các
pháp của cuộc đời, tâm tự thanh
tịnh, là nhất tâm không loạn
cuồng, điên đảo bởi vọng niệm,
tà niệm nữa, gọi là TỰ TÁNH DI
ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM BẤT LAO ĐÀN TRỰC
VĂNG TÂY PHƯƠNG. Tổ dạy ta, trực
chỉ nhân tâm kiến tánh thành
Phật, nghĩa là ta phải quay vào
trực nhận ngay tâm, tu tại tâm (nhân
tâm là tâm người), thấy được
tâm, ĺa các niệm mê thành giác,
v́ Phật là tự giác gọi là thành
Phật.
Bồ tát phải
dùng niệm sáng suốt tự ḿnh mà
giáo hóa các niệm sai lầm của
chúng sanh tại tâm ḿnh đến khi
giác ngộ giải thoát. Phải xa ĺa
ác niệm và tà niệm.
Vậy ác niệm là ǵ? Tà niệm là
ǵ?
Tà là đạo
ngoài, là ngoại đạo, là các niệm
cứ quanh quẩn theo hoàn cảnh
cuộc đời. Nếu c̣n niệm quẩn
quanh, dù đọc hết kinh cũng
không ích lợi. Niệm là nghĩ nhớ
chấp chặt vào việc đời như
chuyện chồng vợ, nhà cửa, của
cải, giàu ngèo, hơn thua, phải
quấy, nên hư, tốt xấu, măi quanh
quẩn trong suy nghĩ, tính toán
trong đầu là ác niệm. C̣n tà
niệm không thể niệm chánh được.
Nếu thấy niệm khởi c̣n nhớ đến
thế gian là c̣n trụ pháp ác vào
tự tánh.
Tự tánh là ǵ?
Tự là sẵn, tự có của ḿnh, có tự
nhiên trong ḷng.
Tánh là ǵ? Là tánh chơn như
có sẵn. Tánh điên đảo là tánh
tham sân si, tánh đ̣i hỏi, tánh
của thói quen huân tập nhiều đời
nhiều kiếp, không bỏ được gọi là
tánh thế gian là tà tánh, không
gọi là chơn tánh, tánh Phật gọi
là chánh giác. Người tu học phải
tự soi vào tự tánh, tự quán xét
coi c̣n tà tánh hay không, nếu
thấy đang sống với tà tánh th́
nên theo lời Phật dạy buông bỏ
tánh thế gian mới thành chánh
giác. Tà tánh gọi là tà niệm,
nếu măi xoay ṿng tà niệm không
thể nào trở về chánh niệm được.
Nếu muốn tu cho tâm được thanh
tịnh mà cứ nhớ nghĩ về thế gian
th́ không chánh giác. Ta tu tịnh
độ mà không quyết ḷng bỏ tà
niệm th́ tâm không tịnh được.
Phải có tam tư lương giống như
người chuẩn bị đi xa phải lo
lương thực, tiền gạo, quần áo
trước khi đi. Nếu không đủ hành
trang không thể đi được. Tam tư
lương là chuẩn bị con đường về
Cực lạc. Nếu không dùng pháp này
người ra đi học đạo là dại khờ
v́ chưa có tam tư lương. Đó là
lương thực, dụng cụ cần thiết
cho người tu tịnh độ, nếu không
được điều này th́ đi vô ích.
Tam tư
lương là
tín nguyện hạnh.
Tín
là ḷng tin kiên cố,
nguyện là ḷng kiên quyết
nhất định thề không dời đổi gọi
là nguyện tha thiết.
Hạnh là tất cả hành động đều
tập trung về tâm niệm chính
ḿnh.
Sự tin có
tà tín và chánh tín, tà tín là
mê tín, tin chuyện linh ứng bên
ngoài như vật linh cho là có hào
quang ngũ sắc, có sao xẹt, các
việc biến hóa của thế gian là tà
tín ; lạy Phật cầu xin ban phước
cho b́nh an, cho tiền bạc… là tà
tín ; tụng kinh được giàu sang
là tà tín. Chánh tín là tự tin
chính ḿnh, đức Phật đă dạy các
ông hăy tự đi bằng đôi chân
chính ḿnh, các ông hăy lập cho
ḿnh ḥn đảo riêng tư, nương tựa
vào chính khả năng chính ḿnh là
chánh tín, không nương dựa vào
ai. Phật nói người thế gian
nương vào cha mẹ, nương vào của
cải tài sản, nương vào uy quyền
chức tước, nương vào vợ chồng,
các pháp đó đều không bền, không
chắc. Của cải sẽ mất, uy quyền
sẽ bị tước đoạt, cha mẹ anh em
vợ con bị tai nạn bệnh chết, rốt
cuộc ngày đi của ta là bỏ thân
xác, sẽ không ai theo cùng, chỉ
có nghiệp do niệm khởi thiện ác
theo ta như h́nh với bóng, ta
hăy tin vào khả năng chính ḿnh
không nương dựa vào người khác.
Phật dạy dù ta có nương vào lời
dạy của Phật, là nương vào chân
lư để tự tu học, trở lại nương
chính ḿnh là nương vào tánh
giác, trí huệ sáng suốt, tự sửa
chữa những niệm sai lầm đó mới
là khả năng trí huệ chơn như của
tự chính ta, là đạo tự giác ngộ
lư chơn. Ta có đủ khả năng đọc
tụng, sao chép, ghi lại tam tạng
kinh điển theo lời Phật dạy ;
nếu không diệu dụng được khả
năng này dù có đến với đạo
tràng, đến với kinh điển, khóa
niệm Phật, tu thiền mà không
thấy các niệm xấu ác sinh khởi,
kịp thời tự giác sửa chữa cho
tâm trong sạch, mà làm bất cứ
việc ǵ ở thế gian cũng là vô
ích. Lục Tổ dạy “không
ngờ trong tâm có tất cả”,
trong tâm có khả năng thành
Phật, thành Tiên, thành Thánh,
thành Thần, thành A-tu-la, ác
quỷ đều thành được. “Không
ngờ trong tâm chứa muôn pháp”,
pháp thế gian làm được, pháp
xuất thế gian làm được. Vậy mà
ta cứ măi tin bên ngoài nên
không có khả năng thành chánh
giác. Thời nay kinh Đại Thừa Vô
Lượng Thọ Thanh Tịnh B́nh Đẳng
Giác được nhiều người biết đến
và tâm đắc, những ư chỉ Phật đă
dạy trong kinh ta chưa thực hiện
được. Nếu ta không thực hành
được, không thấy tự tâm, không
chứng ngộ, không kiên tŕ, không
quyết ḷng tu học, không đem hết
ḷng tin là ta có khả năng, nếu
không tu tập, không làm được thề
không thành chánh giác. Đây cũng
là lời tuyên thệ của
ta,
của người tu nhân học Phật. Tự
ta phải làm được, thực hành được
như nguyện là y pháp. Ta phải
đặt đức tin ngay trong tâm, phải
tự hỏi lại ḷng có thật sự tin
nơi ḿnh, một niềm tin chơn
chính, không nương dựa vào nhà
cửa,
tài
sản, vào người thân mà hăy tự
nương tựa vào trí giác ngộ tự
chính ḿnh, buông bỏ tất cả vọng
trần ra khỏi tấm ḷng không hối
tiếc. Nên khi ngồi dưới cội bồ
đề Phật nguyện rằng “Dù
cho thịt có nát, xương có tan,
nếu đạo không thành ta thề không
đứng dậy” đó là lời phát
nguyện, tuyên thệ của Đức Phật
và cũng là phương tiện gương mẫu
để lại cho chúng ta ngày nay,
nương theo hạnh nguyện, là tha
lực cho ta tinh tấn tiến vào
chánh quả.
Ta tự ḍ xét
tại ḷng sẽ t́m thấy được cách
tu của ta như thế nào. Nếu đến
với sự tu hành phải thật tu,
thật học, không tán thán sự
nghèo giàu, phải nói đến sự phát
huy trí tuệ, quyết ĺa bỏ chuyện
phàm phu tục tử thế gian tạm bợ,
đi trên đường chánh đẳng chánh
giác, tâm lực phải dũng mănh
kiên cường, quyết định can đảm,
không sống với tâm yếu hèn, nhu
nhược, v́ Phật dạy người tu phải
đại hùng, đại lực, đại từ bi.
Tâm yếu ớt sẽ v́ tham lợi cuộc
đời, tham sự sung sướng, không
thể vượt qua mọi đam mê, cám dỗ
của pháp trần.
Nói về
tín, ta tự hỏi lại ta, phải tự
tin tưởng chính đức độ của ta.
Tu tại tánh, tại tâm nên coi lại
tâm tánh là có yếu hèn, nhu
nhược, bảo thủ, keo kiết hay từ
bi hỷ xả, cao thượng, rộng lớn,
nên xét kỹ coi tánh ta là tánh
ǵ? Nếu không thấy tánh th́ tu
không lợi ích ǵ
cả.
Tu phải chơn chánh để không uổng
phí đời tu ; không sợ khó khăn,
dù nghèo đói ḷng vẫn cương
quyết vượt lên, không nản chí
thối lui, đó là đức tánh tự tin
tam tư lương. Phật đă dạy, phải
triệt để tin ở tự tánh ta, nếu
có tự tin mới phát nguyện, tự
nguyện thành chánh giác. Giác là
sáng suốt không bợn nhơ, dù chưa
thành nhưng phải có chí cương
quyết là nguyện thiết, nếu không
thiết tha th́ không thành được,
“đường
đi khó không khó v́ ngăn sông
cách núi mà khó v́ ḷng người
ngại núi e sông”. Nếu không
đức tin cho là khó th́ Phật
không thành, Tổ không thành,
không chuyển hóa được niệm sân
si, phiền năo thành niệm sáng
suốt của niệm Thinh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát được. Nếu khó th́
không tu học được v́ Phật thành
được chúng sanh thành được,
Thánh với Phàm chỉ một bổn lai,
khác nhau kẻ tỉnh người mê, chớ
ai th́ cũng như ai đủ h́nh. Nếu
tu học kinh mà c̣n chấp ngă,
chấp tướng ư kinh sẽ tăm tối,
chấp ngă tướng là tham sân si,
tham tướng của vật chất, là ngă
của ta, có nhà cao cửa rộng, có
sự ăn ngon mặc đẹp cho là sung
sướng v́ có người phục vụ, nghĩ
nhớ các pháp ô nhiễm, đem vào
tâm
khởi niệm vô minh, u tối. Kinh
dạy ĺa tất cả các tướng v́ tu
không c̣n ham vật chất thế gian,
hưởng thụ sung sướng hạnh phúc
cuộc đời. Phật dạy tu là để giác
ngộ giải thoát, buông xả vật
chất thế gian, biết các pháp là
vô thường, tạm bợ. Sáng suốt như
thế, ḷng thiết tha sự giác ngộ,
biết đó là quan trọng.
Giác ngộ là ǵ?
Là trí hiểu biết thông tất cả
tam thiên đại thiên mười phương
thế giới, đều biết tất cả đau
khổ của chúng sanh tại tâm do
đâu mà có. Tâm được trí huệ sáng
suốt chiếu soi, tu hành mới ra
khỏi biển khổ, sông mê, nếu ḷng
c̣n ngăn ngại không can đảm phát
nguyện, Phật nói dù được làm
người mà không có phần, v́ không
ĺa bỏ được đ̣i hỏi của cuộc
đời. Trong Đại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh
Đẳng Giác Kinh, ta tự quán xét
rọi vào tự tánh sẽ rơ được điều
này, nguyện phải cương quyết gắn
chặt vào ḷng nhất định làm
được, không nguyện suông rồi bỏ
qua, đó là tự dối ḷng, c̣n dối
chính Phật tâm, điều này không
phải là chánh niệm.
Hạnh là
hành động, hành động luôn luôn
đi cùng trí tuệ, thường theo dơi
những hành động tư tưởng của ta,
trí huệ luôn ḍ xét thấy hành
động có sai trái nhiễm ô không?
Chữ niệm Phật là vô lượng nghĩa
chớ không chỉ có tên A Di Đà
Phật khô khan ngắn ngủi theo sự
hiểu của trí phàm phu gọi là đủ.
Phật hiệu A Di Đà cho
ta
niệm nương vào mà nhớ về tánh
giác, lúc nào cũng niệm A Di Đà
Phật nghĩa là lúc nào cũng giác.
Khi đối diện, va chạm thế gian
nếu bị nặng nhẹ, chửi mắng, hơn
thua, giành giựt phải thấy liền
tánh giác, sáng suốt liền niệm
nhớ đến pháp nhẫn nhục nhờ giác
ngộ, nên có niệm thương yêu, tha
thứ, từ bi hỷ xả đó là chơn
chánh niệm Phật. C̣n như thường
lần chuỗi niệm Phật mà khi đối
với cảnh thế gian ḷng c̣n bức
xúc, buồn phiền, c̣n đ̣i hỏi dục
lạc của thế gian, muốn được như
ư ḿnh cho thỏa thích th́ tánh
giác sẽ lặng yên, gọi là Phật
tánh đă tịch diệt. Mặc cho tà
niệm quấy nhiễu, rối bời, hành
động lần chuỗi niệm Phật mà
không có tâm thành, tâm rảnh
rang, không giác, đă chạy vào ác
đạo. Nếu tất cả hành động của ta
có tánh giác gọi là hành trong
chánh niệm. Trong các việc làm,
suy nghĩ, tính toán đều phải
sáng suốt là hành theo tánh
giác. Nếu không giác được mọi
hành động, không kiểm soát được
tâm niệm, dù hành động là lạy
Phật, niệm Phật, tâm vẫn hành
trong mê muội, dục lạc, mê đắm.
Phải giác ngộ từng hành động,
từng niệm thế gian sang hành
động của niệm trí huệ là đă đủ
tam tư lương, sẽ y pháp toàn vẹn
trong 48 lời nguyện. V́ đă ĺa
được tứ tướng, ngă, nhân, chúng
sanh, thọ giả, không c̣n ǵ là
ta, thân là của ngũ uẩn tạm bợ (
ngũ uẩn giai không ) chỉ là
tứ đại.
Tứ đại không là ta, vậy là ai?
Ta thắc mắc ai niệm Phật? Đă
biết tứ đại không là ai, tứ đại
là chung vạn vật, đất nước gió
lửa không phải là ta. Chỉ có
niệm do duyên hợp mà thành mà có
tướng thôi. Nếu hỏi ai niệm
Phật, vô ngă tức Niết Bàn, không
ai niệm cả, chỉ có sự sáng suốt
thường soi sáng tất cả các niệm
gọi là Phật niệm (niệm
giác). Nếu giác biết được
các pháp là sáng suốt, b́nh đẳng
trang nghiêm thanh tịnh không
c̣n phân biệt gọi là vô biệt
niệm (
tự tánh Di Đà vô biệt niệm
), các niệm đă trang nghiêm b́nh
đẳng giác. Nếu niệm khởi c̣n tâm
giận hờn, buồn khổ, trách phiền,
thương yêu, thù oán măi, niệm
niệm tất cả đều niệm vào pháp
phàm tục th́ không đúng sở hành
của Tịnh độ. Nếu tướng chấp tay,
miệng niệm theo âm thanh A Di Đà
Phật, phải hiểu danh từ này là
vô lượng nghĩa, vô lượng công
đức nên áp dụng thực hành bằng
tánh giác, bằng trí tuệ, v́ Phật
mượn tướng để chỉ tánh cho chúng
sanh, dùng hành động để thấy
được tánh hạnh, thấy được các
niệm trong tâm, niệm sáng suốt
xuất thế gian hay c̣n niệm thế
gian phiền năo, sân si, tranh
chấp. Pháp niệm Phật là tạng bí
yếu, rất sâu kín, mầu nhiệm,
không thể niệm ngoài miệng mà
giác được. Lúc miệng niệm phải
có hạnh Quán Âm (
quán vào các âm thanh nghe lại
trong tâm ), năng lực Đại
Thế Chí (
chí lớn vượt qua các pháp mê
muội thế gian ). Nếu như măi
niệm ngoài miệng mà giác được dễ
dàng th́ đức Thích Ca đâu phải
nhọc công giáo hóa dạy dỗ chúng
sanh. Ngài đă dùng mọi phương
cách, tạo phương tiện thuyết
pháp trong 49 năm ṛng ră, Ngài
nói đến thế gian chỉ v́ đại sự
nhân duyên, chỉ cho chúng sanh
thấy được tánh Phật.
Vậy niệm
Phật là phải thấy tánh Phật đang
ngự trị tại tâm ta, phải nguyện
giải Như Lai mới là chơn thật
nghĩa.
Phật ĺa bỏ
các tướng thế gian là cung vàng
điện ngọc, ĺa bỏ tướng vợ con
vật chất, ĺa tướng hưởng thụ
thương yêu, ĺa tướng tham sân
si, phiền năo… v́ biết đó là giả
tướng, c̣n chơn thật tướng là
chánh đẳng chánh giác. Tu thấy
tánh th́ không bày vẽ, phô
trương danh tướng bên ngoài, mà
chỉ cần đầy đủ tam tư lương tín
nguyện hạnh, sẽ thành công bất
cứ ở nơi đâu, làm việc ǵ tâm
niệm vẫn sáng suốt, trí huệ nơi
đâu cũng có đạo tràng tại tâm.
Đức Phật Bổn Sư đă thành công
giữa rừng, nơi gốc Bồ đề mà
thành đạo. Ta không khởi tâm đ̣i
hỏi bất cứ ǵ ở thế gian cả, nói
đến pháp đă thiền thất là đă phá
đạp đỗ sự vô minh bày biện, đă
gây phiền năo thêm nhiều niệm
thế gian. Ta tu tại tâm với ḷng
thanh tịnh, không c̣n khởi niệm
phân biệt vào các pháp thế gian
mới gọi là thật tướng niệm Phật,
phải giác nhớ trí huệ sáng suốt
thường c̣n. Khi thành đạo, Đức
Phật không bày biện, phô trương
một h́nh thức nghi lễ nào, Ngài
chỉ nhập định, thấy từng tâm
niệm mà chuyển hóa tại tâm Ngài
sáng suốt thành chánh giác.
Kinh dạy,
tự tánh là quốc độ, tự tánh là
cơi nước, tự tánh là bồ đề,
ngoài tự tánh không quốc độ,
không cơi nước, không thế giới,
không bồ đề nào khác. Kinh nói “chúng
sanh vào nước con”, nước con
chính là trí huệ, là tự tánh
sáng suốt của chính ta. Cơi
nước, quốc độ có tự tánh là
không nói thế giới quốc độ nào
cả. Người tu thiền cho là không
c̣n phân biệt, không c̣n biết ǵ
gọi là vô trí, là hôn trầm. Tu
phải hiểu biết sáng suốt, trí
huệ thường chiếu, biết tất cả
pháp mà không vướng trụ pháp nào
cả. Khi niệm khởi lên, suy nghĩ,
t́m hiểu tư tưởng là trong ḷng
đang nói lên dự tính điều ǵ,
hay có âm thanh rầm ŕ trong tâm
không duyên theo cho là có người
nhập, người dạy đó là các niệm
khởi. Nó vô cùng vô tận, nếu
không biết cứ tưởng là có người
dạy, nhưng do niệm vô minh xúi
dục ta đọa vào những hành động
sai lầm. Phải nghe bằng trí, xác
định tư tưởng, niệm chính xác có
c̣n mê lầm hay đă giác ngộ, ta
phải dùng trí tuệ làm chủ các
pháp. “Khi
chúng sanh vào nước con, nếu
muốn ăn uống” không phải
thức ăn thế gian, mà là thiền
duyệt thực, v́ món ăn nuôi dưỡng
trí tuệ, như khi nghe thuyết
pháp xem kinh được sáng tâm là
món ăn dùng nuôi dưỡng trí tuệ,
không ăn bằng vật chất đ̣i hỏi
của thế gian. Muốn uống là uống
cam lộ vương, uống những chất
ngọt tinh ba của pháp bảo mát
lành trí tuệ, ăn bằng đức độ, ăn
đạo mầu chơn lư mà xưa nay ta đă
bỏ quên, giờ đă giác biết được
nên ăn vào tinh thần cho được
thắm đượm, ăn trong mầu nhiệm
sáng suốt, không ăn theo thế
gian là đ̣i hỏi ham muốn v́ dục
lạc thèm khát. Y phục là quần
áo, không phải là vải vóc thế
gian, the lụa mà là y báo. Tâm
thiện lành sẽ được y báo, làm
thiện là chánh báo, sẽ có y báo
trang nghiêm của đức độ thiện
lành. Nếu hành động là việc ác
chánh báo là nhân, quả là y báo
là họa.
Kinh dạy
nếu chánh báo của hạnh Thinh Văn
th́ có y áo của Thinh Văn, nếu y
hạnh Duyên Giác sẽ có y áo của
Duyên Giác, y hạnh Bồ Tát sẽ y
áo của Bồ Tát. Viên măn chánh
báo Như Lai sẽ mặc y Như Lai,
thuyết pháp Như Lai, ăn cơm Như
Lai, ngồi ṭa Như Lai. Cơm Như
Lai là cơm Hương Tích, cơm từng
phần do chánh báo mà có y báo.
Ta thực hiện ngũ căn là ăn cơm
ngũ căn, ngũ lực là ăn phần cơm
ngũ lực, cơm phần thất bảo là
thất bồ đề phần, bát chánh đạo
phần là phần cơm bát chánh là
con đường dẫn ta về chánh đạo.
Tất cả là cơm Hương Tích, niệm
nhớ đến cơm phần nào, tu hạnh
nào là xây dựng chánh báo sẽ y
pháp tu mà có, muốn mặc áo nào
tùy ư, khỏi may khỏi sắm. Ta ăn
vào tinh thần nuôi dưỡng thánh
tâm bằng cách niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng, niệm Thí, niệm
Thiên, niệm Giới, những phần cơm
này trong kinh Pháp Hoa phẩm
cúng dường cơm Hương Tích, Phật
dạy rằng nếu người giác ngộ ăn
cơm vào sẽ tự tiêu liền (
nghe được pháp nhanh chóng thông
đạt ), có người căn trí chậm
chạp, chậm hiểu biết nói là ăn
cơm vào từ một hoặc hai ngày mới
tiêu, có người mười ngày, có
người một tháng, có người một
năm hoặc hai năm, có nhiều người
ăn suốt đời vẫn không tiêu,
nghĩa là người căn tánh lẹ làng,
nhạy bén khi nghe được lời nhắc
nhở, dạy dỗ của thiện tri thức
hay bậc Thầy, nghe qua liền tỏ
ngộ, cũng như khi niệm khởi sai
lầm nhớ đến các pháp Phật dạy
liền giác, không chạy theo niệm
mê vọng là được tiêu nghiệp.
Người căn trí chậm chạp phải
dùng cách dẫn giải nhiều lần, cứ
măi chấp chặt vào tướng thế
gian, nuôi dưỡng sự mê muội, u
tối nên suốt đời vẫn vô minh
không giác được nên nói là ăn
được cơm Hương Tích nhưng không
tiêu. Khi gặp được chánh pháp
không nên lơ là, xao lăng th́
uổng phí cho đời tu học của kiếp
người, Phật dạy có được thân
người rất khó.
“Các
đồ dùng tùy ư liền đến”
nghĩa là người ngộ được Phật trí
th́ đa phương tiện, thấy chúng
sanh đau khổ biết dùng pháp để
giáo hóa nhanh lẹ, uyển chuyển,
tùy duyên hóa độ. Nếu căn Thanh
Văn phải dùng phép ǵ, Duyên
Giác dùng pháp ǵ, gọi là đa
phương tiện. Muốn sử dụng pháp
ǵ th́ tùy ư nơi trí tuệ tùy có
mà giảng nói, nên Phật tùy bệnh
mà cho thuốc. Kinh Pháp Hoa nói
đến xe hươu, xe trâu tất cả đều
là phương tiện được tha thọ
dụng, y dụng, đều theo sở cầu,
sở muốn của người cần sử dụng
không khó. Ta phải hiểu thật sâu
vào chơn tánh, không thấy việc
thế gian là tướng mà tu học mong
được trí huệ, không nghe việc
đời, mà phải lắng nghe tận đáy
ḷng gọi là hạnh lắng nghe, tầm
thinh cứu khổ, sẽ có muôn ngàn
pháp bảo hiện ra trong cơi Cực
lạc tại tâm : có đền đài, cung
điện, ao thất bảo, thất bồ đề
phần, bát chánh đạo phần, có cây
ngọc, lưới vàng, tiếng khua vi
diệu muôn ngàn nhạc âm, bằng âm
thanh niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm Thiên, niệm Thí, niệm
Giới, nếu cứ niệm pháp thế gian
vô minh sẽ chướng ngại Cực lạc
tại tâm. Thấy cơi Cực lạc phải
bằng ngũ nhăn, phải có Phật
nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn, không
nh́n bằng tục nhăn mà thấy được.
“Muốn
khởi niệm cúng dường mười phương
chư Phật”.
Người đă giác ngộ cúng dường
bằng ǵ? Cúng dường là nuôi
dưỡng Phật, tức là nuôi dưỡng
tánh giác, nuôi dưỡng trí tuệ,
không nuôi dưỡng các niệm độc
ác, không nuôi dưỡng tham sân
si, phải nuôi dưỡng đức hạnh từ
bi, nuôi dưỡng hạnh đức bằng trí
huệ, thấy chúng sanh đau khổ
phát ḷng đại bi, đại ái mà sang
sẽ gọi là cúng dường chư Phật.
Đốt thân là nói đến người hành
đạo Bồ Tát giác hữu t́nh, không
v́ lợi ích riêng tư mến giàu,
khinh nghèo, đó là tâm ích kỷ v́
tư lợi. Ngày xưa thời đức Phật,
Ngài A-nan gặp chuyện không vừa
ư bèn thỉnh Phật đi nơi khác.
Phật trả lời, cơi thế gian không
tấc đất nào an ổn cả, nơi nào
cũng đầy đau khổ, tội lỗi, v́
lương tâm bậc y vương (thầy
thuốc) nguyện trị bệnh chúng
sanh th́ không nên sợ khổ cho
bản thân. V́ ḷng đại bi không
tiếc thân mạng, nguyện đốt thân
là bản ngă (
đốt thân là đốt bản ngă ),
đốt luôn niệm tư lợi riêng tư
chỉ nhớ đến chúng sanh là vô
ngă, một ḷng cứu khổ, ban vui
cho mọi người, là đốt thân cúng
dường chư Phật. Nếu bố thí mà
c̣n niệm tham thân là c̣n bản
ngă. Nh́n tất cả vạn pháp không
khởi niệm tham, không cảm thọ
pháp, nên pháp không vướng mắc,
là tâm kim cang bát nhă ; không
nhiễm ưa thích, ghét thương,
buồn giận, khen chê đó là nh́n
bằng pháp nhăn.
Niệm Phật
bằng trí tuệ là dụng công kiểm
soát được tâm, là Bồ Tát, là
thường niệm nhớ đến sự tỉnh thức
của tự tâm.
Niệm pháp là
nhớ lời Phật thuyết đưa ta đến
điều ǵ gọi là niệm. Tâm nương
vào thân làm sự tướng nơi thế
gian, Ta bà là ngũ trược ác thế,
thân nương cảnh vô thường niệm
vào cảnh trược nên tâm mê muội
trược theo gọi là ô nhiễm. Thân
trược, tâm trược gọi là phiền
năo trược, nên mạng cũng trược,
tất cả đều trược nhiễm bởi ô uế
nên không thuận với đường giác
ngộ giải thoát.
Nếu tu thiền,
tu mật, tu định mà không nhiếp
tâm vào thiền định, không dùng
hào quang trí huệ chiếu soi,
biết rơ được các niệm sáng suốt
nhập vào danh hiệu Thích Ca Mâu
Ni là chỉ đến pháp thiền định v́
Thích Ca Mâu Ni mật nghĩa là
năng nhân tịch mặc. Năng là năng
lực, khả năng con người đến với
từ bi trí tuệ. Tịch mặc là sự
vắng lặng, sáng suốt trí tuệ của
thiền định. Tâm niệm ta không
tịch lặng, thanh tịnh được v́ mê
muội cảnh thế gian nên vướng bận
làm ô nhiễm, khó vào chánh định.
Tứ quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, bốn quả này
đưa ta trên đường bát hánh đạo,
là đường vào tứ thánh sống hạnh
Thánh Nhân. Ta phải biết rằng
học Phật là dùng sự diễn lư,
phải dùng hạnh đốt thân cúng
dường chư Phật. Kinh Pháp Hoa
đức Phật tạm mượn sự tướng Gă
Cùng Tử, mượn sự diễn lư, mượn
h́nh ảnh Gă Cùng Tử diệu dụng
chỉ đến tự tánh, trí huệ của mỗi
con người. Sự đốt thân là chỉ
đến cách hành đạo Bồ Tát, là bồ
đề tát đỏa giác chúng hữu t́nh,
đem sự tu tại tâm niệm ta, sáng
suốt giáo hóa cho tất cả chúng
sanh tự tâm ta. Nếu giáo hóa
chúng sanh bằng sự tướng, c̣n
nghĩ đến lợi ích riêng, tâm sẽ
đọa vào đường ác, nếu c̣n các
điều ác tại tâm là c̣n niệm nhớ
đến lục đạo. Bỏ ḿnh nguyện làm
lợi ích cho mọi người, là pháp
diệt trừ bản ngă. Phải tự thu
dọn những niệm tham muốn sanh
diệt tại tâm, luôn t́m cách đem
lợi ích chung cho người là Bồ
Tát đốt thân cúng dường chư
Phật. Niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm Thí, niệm Thiên, niệm
Giới là thường nghĩ nhớ, soi rọi
các vọng niệm ; là nhớ đến sáu
pháp nơi ḷng, phải hằng tư duy,
lắng nghe đọc tụng giúp lợi ích
cho tự tâm ta, chia sẻ, sáng
suốt cho mọi người đều biết cách
niệm Phật.
Niệm Phật
có hai phần, là tưởng nhớ Phật
và niệm tự tánh Phật. Tưởng nhớ
Phật là tưởng nhớ đến bậc tự
giác, giác tha, giác hạnh viên
măn. Tưởng nhớ đến công đức Phật
là hạnh xả bỏ đă rời hoàng cung,
ngai vàng, điện ngọc, công đức
này người thế gian không làm
được mà Thái Tử Sĩ Đạt Ta đă
làm, đó là chơn lư là chí nguyện
thiết tha, chọn đường tu. Tu
không chỉ thừa hưởng an vui cho
riêng ḿnh mà Ngài muốn chọn con
đường cứu khổ cho chúng sanh,
giải thoát mọi mê lầm, tăm tối,
đem sáng suốt cho mọi người, chớ
không riêng ḿnh. Như sự bắt cầu
v́ muốn tạo dễ dàng đi lại của
nhiều người, chớ không chỉ cho
riêng ḿnh đó là niệm nhớ đến
công đức Phật. Ta hằng nhớ đến,
tự giác, chớ không ai bắt buộc
ta cả. Tự nơi sự sáng suốt chính
ta tự chọn lấy, phát tâm tu là
muốn thấy sự thật của cuộc đời,
không ai ép cả. Nếu nh́n được sự
thật của cuộc đời là đă tự giác,
gọi là bậc giác ngộ. Nếu nhận
các việc bên ngoài đến thế giới
các cơi trong tự tâm là ta đă
thấy được Phật pháp bằng huệ
nhăn, nên nói rằng vạn pháp đều
là Phật pháp. Mắt phàm phu mê
muội chỉ thấy thế gian pháp v́
không thấy rơ sự thật của cuộc
đời. Nh́n bằng nhục nhăn phân
biệt con người cho là đẹp xấu,
sang hèn đó là sự thấy của thế
gian pháp, bị mắt phàm phu đánh
lừa. Do thức biến lầm nhận là
thật, sanh tâm phân biệt bởi
vọng t́nh. Tướng thật của nó là
vô thường, do ta thọ nhận buồn
vui, đau khổ, ghét ưa. Người ăn
nói vô duyên thô thiển làm ta
bực bội nên thọ khổ ; lời ngọt
ngào êm dịu làm ta thọ lạc ;
cảnh tâm ưa thích thường biến,
nên bị cảnh làm động tâm, đó là
không thấy bằng trí. Nếu thấy sự
thật của vạn pháp luôn sanh
diệt, đó là thấy bằng trí.
Có
phân biệt là do suy nghĩ của con
người, nên có tâm sanh diệt đó
là trạng thái của tâm đang phiền
năo, nếu măi suy nghĩ th́ niệm
niệm liên tục không dừng đó là
niệm pháp sanh diệt. Sự biết mỗi
người khác nhau, người biết
khác, vật biết khác, chư Thiên
biết
khác, không thật gọi là tâm sanh
diệt. Thức sanh diệt, Phật nói
phiền năo luôn làm chướng ngại
đường tu. Nóng giận, hờn buồn là
tâm bất thiện, đưa người đến ưu
bi, khổ năo, đó là c̣n niệm
tướng. Phật là giác ngộ tất cả
vạn pháp, sự giác ngộ đó được
dạy trong Kinh Bát Nhă xuất phát
từ kinh Kim Cang, chỉ đến pháp
niệm Phật là sáng suốt, thấy
thực tướng vạn pháp. Nếu chạy
theo tướng thế gian là c̣n chạy
theo hư ảo cuộc đời. Khi thấy
được sự bất tịnh bằng huệ nhăn
sẽ không c̣n tâm ưa thích nữa,
thấy thật tướng vạn pháp th́ tâm
không c̣n rối bời, không thương
ghét, vui buồn là
tâm
kim cang bát nhă, lúc nào cũng
phát sáng không lay động. Niệm
Phật là niệm đến tâm kim cang cư
trần bất nhiễm, sống cơi tục
không mê pháp tục, thật tướng
vạn pháp đều do các duyên đất
nước gió lửa mà thành; con người
không đẹp xấu, đều do tứ đại hợp
thành ; tứ đại đất nước gió lửa
không có đại nào đẹp xấu thương
yêu đau khổ, vốn nó là tùy duyên
mà có, tự đến tự đi, tùy duyên
biến hiện, thay đổi vô thường,
ta thọ nhận do niệm sanh tâm mà
có. Tâm si mê thương ghét, vui
buồn là vô thường thay đổi, sanh
diệt th́ không có tâm nào là tôi
cả, tứ đại sẽ về tứ đại không có
đại nào là tôi cả, không có ǵ
là tôi, luôn thay đổi qua nhiều
trạng thái. Ngũ uẩn vốn không,
vậy uẩn nào là tôi? Tất cả đều
là duyên gá hợp, sự khổ vui, tốt
xấu, không có ǵ là ta cả. Biết
được điều này là ta đă sống với
tuệ giác, thức tỉnh giác ngộ, đó
là thực tướng niệm Phật. Ta
thường niệm tự ái, niệm sân si,
niệm danh lợi, niệm hơn thua,
niệm thù oán, niệm những ǵ phục
vụ cho bản ngă, không như ư,
thường sanh tâm đau khổ, bực
bội, bức rứt, bất an. Phật dạy
ta phải thường niệm Phật tại
tâm, sáng suốt niệm hồng danh A
Di Đà Phật, phải thường kiểm
soát tâm, đi biết đi, đứng biết
đứng, ngồi biết ngồi, nằm biết
nằm, lúc nào cũng xét tâm coi có
c̣n nghĩ nhớ đến điều ham muốn,
c̣n vướng mắc điều ǵ, lúc nào
cũng kiểm soát tâm, là tu tứ oai
nghi. Kiểm soát thân, là giữ các
niệm lăng xăng trong ác đạo đó
là giữ được giới của Bồ Tát. Từ
tự tánh có giới đó là sống được
với sự tỉnh thức, là chơn chánh
niệm Phật. C̣n miệng cứ niệm A
Di Đà Phật, là niệm hồng danh
Phật mà tâm chưa tỉnh thức, giác
ngộ tự tâm, là chưa thật sự nói
về đức Phật. Niệm Phật là hướng
về sự tỉnh thức, sáng suốt của
nội tâm. Niệm sự sáng suốt, biết
vạn pháp không vướng bận sự suy
nghĩ về thế gian, là chân niệm
Phật, là nhớ chơn tâm hằng
chiếu. Niệm pháp là nhớ lời Phật
thuyết, là con thuyền đưa ta từ
bờ mê sang bến giác. Pháp Phật
thuyết tứ đế khổ, tập, diệt,
đạo, có 37 phẩm trợ đạo, tứ
chánh cần, tứ niệm xứ, tứ vô
lượng tâm, tứ như ư túc, ngũ
căn, ngũ lực, thất bồ đề phần,
bát chánh đạo phần, là đang niệm
đến pháp trợ lực gọi là trợ đạo
giúp ta thấy được sự vật của vạn
pháp tất cả đều vô thường, đó là
nh́n bằng pháp nhăn. Thân thể
con người dù đẹp đẽ đến đâu cũng
hôi hám, đến ngày hết duyên cũng
tan hoại, mục rữa. Muôn sự vật
có tướng h́nh đều tan hoại. Tâm
người cũng biến đổi vô thường,
không nhất định chắc chắn ở
trạng thái nào cả. Sự khổ có đến
ta biết đó là pháp, th́ ta đă
vượt qua pháp đó. Tâm dẫn đầu
các pháp nên khi niệm khổ, phiền
năo, oán than, sẽ bao trùm bởi u
mê, đen tối. Nói về thế giới Cực
lạc là sự an lạc, trạng thái an
vui của tâm nên gọi là an lạc.
Sự chứng ngộ tại tâm, vui của
thân là có giới hạn, có sanh
diệt, có buồn vui nên hoàn cảnh
nào ta cũng phải an ổn, gọi là
tâm định. Lúc nào cũng nhớ lời
Phật dạy, nếu thấy tánh đang khổ
là đă thọ khổ ; tánh đang gặp
cảnh mà vui là thọ lạc ; nên
Phật dạy tứ niệm xứ là quán
thân, thọ, tâm, pháp, đối với
các pháp ta phải nhận rơ bằng
trí tuệ không vướng trụ tham sân
si là đang niệm pháp biết thực
chất của thế gian.
Nói đến
Tịnh thổ là chỉ vào tâm địa an
tịnh của con người, nơi đó chỉ
có người trí tuệ sáng suốt được
vào. “Liền
được cúng dường” người giác
ngộ hiểu biết đầy đủ v́ tự tánh
chứa muôn pháp, nếu theo chơn lư
th́ Tịnh độ tại tâm, nhưng xét
vào tâm, thấy c̣n ham muốn, đ̣i
hỏi, là c̣n xa cách mười muôn ức
cơi Phật. “Khi
con thành Phật” là đă đẹp
hết điều tham đắm tục lụy thế
gian, là những chướng ngại trong
gia đ́nh, là chồng vợ, anh em,
tiền của, không đắm nhiễm trụ
vào tâm lúc đó gọi rằng “khi
con thành Phật”. Chúng sanh
trong tâm đă đầy đủ, sáng suốt
do tánh giác giáo hóa gọi là
được tha thọ dụng. Dụng cụ,
phương tiện nào đem đến, đều làm
lợi ích chúng sanh, được khai
thông trí tuệ, giác ngộ thành
Phật là cúng dường chư Phật. Tự
cúng dường bằng các pháp thiện
lành, cúng dường bằng ḷng từ bi
hỷ xả, cúng dường bằng pháp thế
gian, chỉ là phước giới hạn. Ta
phải tin sâu bằng năng lực trong
tự tánh, nếu không tin sâu, cứ
măi tư tưởng vào mê tín dị đoan
là ngoại đạo, không phải là
chánh đạo. Phải theo dơi các
niệm, các hành động hằng ngày
bằng trí tuệ gọi là bậc thường
giác. Lúc nào cũng bừng sáng trí
huệ, chiếu soi muôn vạn niệm,
làm sáng tỏ được vô minh, đó là
hành, sẽ sống được với niệm
giác.
Kinh dạy đới nghiệp văng sanh,
vậy đới nghiệp văng sanh là ǵ?
Là người vẫn tin sâu, cũng
nguyện thiết, cũng dùng trí huệ
theo dơi các hành động, nhưng
c̣n nghiệp câu sanh…
Nghiệp câu sanh là ǵ? Do
nhiều đời nặng v́ nghiệp ái, là
tư hoặc, đó là những tư tưởng
nhớ đến sự nhớ thương, luyến ái,
do suy nghĩ, thỉnh thoảng c̣n
gợn lại trong tâm, cũng cố gắng
hết ḷng nhưng c̣n tư hoặc, c̣n
vô minh hoặc, vẫn được ánh sáng
trí huệ chiếu soi, thấy tâm c̣n
vương vấn các phần tử đam mê,
chưa hoàn toàn sạch nghiệp, vẫn
giữ chí cương quyết tu hành, đều
được đới nghiệp văng sanh. V́ đă
có ḷng cương quyết thù thắng
không thối chuyển, dù đời này
không thành chánh giác nhưng đời
sau sẽ thành v́ hiện đă bước vào
ḍng Thánh, đă có chỗ nương tựa
vào tánh giác, dù đường xa nhưng
với tâm cương quyết sẽ đến mục
đích của người phát tâm nguyện,
gọi là đức tinh tấn. Điều này
đ̣i hỏi sự hết ḷng quyết tâm,
tuy tâm c̣n tư hoặc khởi lên,
nhưng tánh giác giáo hóa kịp
thời. Tổ nói “mê
không sợ chỉ sợ giác chậm”,
tánh mê phải nhờ tánh giác kề
bên tiếp độ.
Nguyện băm sáu
muôn ngàn báu vật
Muốn cúng dường chư Phật Thánh
hiền
Ước ra th́ có đủ liền
Cúng dâng khắp cả, về miền chưa
trưa.
Nguyện băm bảy
ai vừa đọc tụng
Hoặc thọ tŕ phụng cúng chơn
kinh
Đặng tài biện luận thông minh
Lại thêm Bát Nhă trí lành cao
siêu.
Nguyện băm tám
giảng điều pháp lư
Đủ viên thông đầy trí huệ tâm
Những lời bày giải nguyên âm
Nghĩa kinh vi diệu cao thâm vô
cùng.
Nguyện 39,
“Nguyện
trang nghiêm vô tận”.
Ta phải nhận định Phật A Di Đà,
Cực lạc có thật không? Có như
thế nào? Nếu ta dự định xây
cất ṭa lâu đài to lớn mà có sẵn
đất, sẵn tiền bạc, sẵn vật liệu,
nhân lực, công thợ th́ sẽ có ṭa
lâu đài. Pháp A Di Đà đă có sẵn,
được thành tựu do 48 đại nguyện,
khi thành tựu pháp là thành tựu
Đức Tánh A Di Đà. Nhân lực, công
nhân, thợ là con người phải
quyết tâm xây dựng thế giới Cực
lạc tại tâm, mới có thể thành
tựu lâu đài. Ở thế gian muốn có
được phải dùng vật liệu thế
gian, con người thế gian, tài
sản thế gian, mới thành tựu được
đó là sự tướng thế gian. Nói về
lâu đài cơi Cực lạ phải xây dựng
bằng tâm, xây dựng không bằng tự
tướng thế gian được, v́ ĺa các
tướng mới là chơn thật tướng.
Đất xây dựng lâu đài Cực lạc
phải là Tịnh Thổ, là đất tâm
trong sạch của con người đă gạn
lọc thanh tịnh, đất tâm mọi
người đều có sẵn gọi là tâm địa.
Thợ, công nhân xây dựng Cực lạc
là người đầy đủ kinh nghiệm tu
hành, phải tin tưởng sẽ xây được
Cực lạc là đức tin (
tín ), dùng năng lực chính
ḿnh, trí huệ sáng suốt để kiến
thiết cho tốt đẹp. Cực lạc nền
móng phải xây bằng tâm vàng,
chất liệu bằng kim cang vững
chắc, phải có tài sản của Phật
là những pháp bảo, làm nguyện
liệu đủ năng lực là ngũ căn, ngũ
lực, là sức mạnh vượt mọi cám dỗ
thế gian, tứ diệu đế sáng suốt
hiểu rành là nền tảng xây ṭa
cực lạc, 37 phẩm trợ đạo là công
nhân trợ lực cho ta xây dựng. Tứ
chánh cần là chuyên cần, sống
bằng pháp chánh đáng, viễn ly
các pháp ác. Tứ niệm xứ, bốn
phương pháp quán sự thật của
cuộc đời là vô thường, vô lạc,
vô ngă, bất tịnh, là bốn cách tu
tập để nên đạo bồ đề. Tứ vô
lượng tâm là bốn đức tánh vô
lượng, là từ bi hỷ xả của bậc
giác ngộ, thực hành đem lợi ích
cho mọi người, tự độ cho chính
ḿnh, thường thực hành tâm b́nh
đẳng. Tứ như ư túc, phải thông
suốt tất cả pháp bằng thần thông
chính ḿnh, là bốn pháp thông :
thiên nhăn thông, thiên nhĩ
thông, tha tâm thông, thần túc
thông. Thất bồ đề phần là niệm
giác phần, phải biết từng niệm
mà tự giác. Trạch pháp giác phần
là chọn lựa pháp nào là tà pháp,
việc nào là chơn chánh mà sử
dụng. Tinh tấn giác phần là định
lực cương quyết vượt lên khỏi
dục vọng cuộc đời. Hỷ giác phần,
quán tưởng các pháp chứng lư như
thật, tự hoan hỷ tâm ḿnh. Trừ
giác phần là định từng niệm kiên
cố, trực dần các tà niệm tâm
được nhẹ nhàng, an lạc. Định
giác phần, các niệm mê lầm thật
sự chuyển hóa thành chánh định.
Xả giác phần từng niệm sai quấy
đă sáng suốt, buông xả nên các
niệm đều hoàn toàn b́nh đẳng
không hơn thiệt, tự giác ḥa
nhập tự tánh chơn như. Bát chánh
đạo phần là tám con đường chánh
giúp ta tu tập trở về chánh đạo.
1. Chánh kiến
: là sự thấy các pháp không lầm
lẫn đâu là chánh pháp, đâu là tà
pháp.
2. Chánh tư duy :
suy nghĩ chơn chánh, nghiên cứu
về Phật pháp t́m học chơn lư.
3. Chánh ngữ :
nói lời chân thật, lời ái ngữ
không nói gian, nói dối, nói làm
cho người nghe đau khổ.
4.
Chánh nghiệp : niệm khởi
biết chọn chánh niệm mà phát
sinh hành động, tạo sự sống bằng
việc thiện lành, không v́ lợi
ḿnh làm hại người khác.
5. Chánh mạng :
coi mạng sống của người hay vật
cũng như mạng chính ḿnh, nương
vào chơn lư luôn tỉnh giác, là
mạng mạch cho ḿnh nuôi dưỡng tự
tánh, làm sinh mạng lúc nào cũng
sáng suốt.
6. Chánh tinh tấn :
luôn vượt lên mọi khó khăn ở
đời, vượt lên mọi cám dỗ thấp
hèn, tham muốn của thế gian.
7. Chánh niệm :
không khởi niệm tham sân si, độc
ác, thường tự giác mà khởi niệm
làm lợi ích muôn loài.
8. Chánh định :
dù trong hoàn cảnh nào tâm vẫn
tự tại, an ổn, không duyên theo
mê nhiễm các pháp thế gian.
Cơi Tây
phương có Tịnh Thổ tại tâm địa
mỗi con người, ta có quyền xây
dựng lâu đài Cực lạc v́ đất tâm
vốn sẵn của ta, tài sản là pháp
bảo đầy đủ chư Phật đă giao, ta
là người có sẵn trí huệ, có khả
năng xây dựng Cực lạc tại tâm v́
Niết Bàn do tâm tạo. Vậy Cực lạc
phải do chính ta xây dựng bằng
sự tu tập, thực hành, sửa sang,
bằng các pháp có từ kinh nghiệm
của đức Phật là
tam
tạng kinh điển.
Ta không
lầm lẫn ông A Di Đà với đức tánh
A Di Đà được thành tựu bởi 48
pháp theo đại nguyện. Không chỉ
có một A Di Đà mà có vô lượng
đức tánh A Di Đà thành tựu bởi
48 đại nguyện được gọi là vô
lượng quang, vô lượng thọ, vô
lượng công đức. 48 đại nguyện
đều cho tất cả chúng sanh, chớ
không riêng vua Vô Tránh Niệm là
Pháp Tạng Tỳ Kheo được sử dụng.
Tất cả chúng ta đều có quyền xây
ṭa Cực lạc, nhưng phải dùng
pháp mới xây dựng được. Nếu ta
biết sử dụng pháp Di Đà sẽ là
Phật Di Đà tại
tâm. Vậy Di Đà có thật, nếu
người nào tu thực hành đúng như
pháp th́ đức tánh Di Đà sẽ thành
tựu, là tự tánh chính người đă
có công xây dựng và kiến lập
nên, thường nói hằng hà sa số vô
lượng chư Phật. Tiền thân đức A
Di Đà cũng là con người như
chúng ta mà đức Phật đă hóa hiện
là vua Vô Tránh Niệm v́ giữ giới
tránh tất cả các niệm ác nên
pháp danh là Bảo Tạng Tỳ Kheo.
Bảo Tạng là chứa nhiều pháp bảo,
pháp bảo dùng xây dựng nên đức
tánh A Di Đà. Pháp bảo là 48 lời
nguyện, ta muốn thành tựu phải
áp dụng sẽ ngộ được tự tánh A Di
Đà, đó là sự khẳng định minh
xác. Như vậy bao nhiêu h́nh
tướng A Di Đà và lâu đài Cực lạc
bằng sự tướng thế gian, dùng làm
h́nh tượng biểu trưng công tŕnh
của các đức Phật, nhờ nơi công
đức của Phật Thích Ca mà thành
tựu được đức A Di Đà Phật. Vậy
pháp môn Tịnh độ A Di Đà do đức
Phật Thích Ca thành tựu, nếu tất
cả chúng sanh theo nguyện lực mà
thành tựu là đă được đức Phật
Thích Ca xoa đầu thọ kư. Nếu mê
lầm măi chờ A Di Đà cơi Tây
phương đến rước là vọng tưởng
không thành tựu được. Tự tánh
mỗi con người phải hội nhập 48
lời nguyện, mới gọi là tự tánh
Di Đà vô biệt niệm, được trang
nghiêm thanh tịnh giác ngộ. Nhờ
48 đại nguyện là Bảo Tạng Như
Lai chánh đẳng chánh giác, nếu
thành tựu pháp Di Đà được từng
phần là đới nghiệp văng sanh,
đời sau tinh tấn thành tựu sẽ
chánh giác, đây là lẽ thật của
Như Lai v́ miệng Như Lai là
tướng, lưỡi rộng dài trùm khắp
vô lượng không sai trái.
Người Đạo
Sư khuyên người niệm Phật không
thể nói rằng pháp niệm Phật dùng
niệm cho hết bệnh, hạnh phúc,
được giàu có, v́ pháp Phật để
dạy cho chúng sanh tự giác giải
thoát luân hồi sanh tử, ĺa hết
mọi tướng thế gian. Nếu ta c̣n
có ư niệm sanh vào tam cơi là tà
kiến, phải sống bằng trí tuệ
viên măn của tự tánh Di Đà. “Khi
con thành Phật vạn vật trong cơi
nước con đều trang nghiêm thanh
tịnh sáng chói” nghĩa là
thấy tại ḷng ta, tự tánh ta nếu
c̣n tánh độc ác, ích kỷ, hẹp ḥi
c̣n tham lam, bỏn xẻn không? C̣n
tánh chúng sanh nhơ tệ như xưa
không? C̣n chất chứa sự đê hèn
tội lỗi không? Nếu xét thấy c̣n
những niệm này th́ không thể nói
là trang nghiêm, mọi khía cảnh
thuộc về đ̣i hỏi trong ḷng ta,
nhất định phải trong sạch, sáng
suốt, trí tuệ đó gọi là trang
nghiêm. “Khi
con thành Phật tất cả vạn vật”,
vạn vật có đều do từ niệm sinh
khởi mà thành nên tất cả các
niệm khởi lên phải thường có
tánh giác theo dơi, trí tuệ đạo
đức hào quang theo dơi chiếu soi
vào, tự nói năng suy nghĩ có đạo
đức, nhân nghĩa không? Phải chú
tâm hướng đến các pháp thiện
lành, lắng nghe từng tâm niệm mà
giáo hóa là trang nghiêm quốc
độ. Vạn vật chỉ đến các niệm tại
ḷng ta được thanh tịnh, trang
nghiêm, trí huệ viên măn, đó là
các thiện pháp đang thành tựu
thực tướng Như Lai, thực tướng
chân lư là chánh đắc A-nậu-đa-la
tam miệu tam bồ đề.
Thanh tịnh
là trong nội tâm không c̣n khởi
lên niệm ác, thường sống với trí
giác ngộ, trí bồ đề. Cơi Cực lạc
có ao Thất bảo, thất trùng, hàng
thọ, xa cừ, mă năo, san hô, lưu
ly, hổ phách nếu giác ngộ th́
nhận ngay cơi đó, có sẵn tự tâm
dành cho tâm nào đă thành tựu
pháp Di Đà sẽ được rước vào nơi
đó, pháp có sẵn tự nhiên không
cầu xin mà vẫn có, không vào
được cơi này v́ sự sáng suốt tự
tâm không chấp nhận, v́ vẫn c̣n
tham dục, tăm tối không thể rước
(
nhập ) vào sự thanh tịnh
trong sáng được, sáng suốt trí
tuệ vốn chân thật, không dung vị
những ǵ sai trái, nó tự xử, tự
cắn rức, dằn vặt, khổ đau, ta sẽ
tự xử lấy ta gọi là ṭa án lương
tâm.
“Ḿnh
sắc thù thắng vi diệu, không thể
tả xiết”, ở thế gian không
có ǵ vi diệu bằng tự tánh Bồ
đề, sự vẩn đục của tâm chỉ cần
rớt vào Phật hiệu A Di Đà Phật
sẽ thanh lọc được trong trẻo,
giống như hạt minh châu bỏ vào
thau nước đục sẽ chiếu sáng
thành trong, nên tâm bồ đề sáng
suốt dù có phiền năo bao nhiêu,
nghiệp chướng vô lượng, mà ta
dùng tánh giác ngộ trí huệ chiếu
soi sẽ phá tan phiền năo gọi là
sự vi diệu của chơn tâm, không
trí huệ nào sáng suốt bằng trí
huệ bồ đề, nếu không có sự vi
diệu này th́ không cứu độ được
chúng sanh. Nếu cơi Ta bà không
có Phật ra đời th́ chúng sinh
rất khổ sở. Tánh Phật, trí Phật
vi diệu vô cùng, phá tan được mê
lầm phiền năo nhiều đời nhiều
kiếp, đó là địa ngục tại tâm,
chỉ có gậy vàng, tích trượng hạt
minh châu, sáng suốt, trí huệ sẽ
phá tan địa ngục tại tâm rất
chắc chắn, từ vô lượng kiếp v́
mê lầm tự ta đă xây dựng ; hào
quang trí huệ là Kim Cang bất
hoại, sẽ soi thủng và phá tan
địa ngục vô minh, nên kinh nói
vi diệu không tả xiết. V́ không
h́nh tướng, không sắc tài, danh
lợi nên không tả được, không suy
nghĩ bàn luận được, nhưng khả
năng rất thù thắng phá tan được
phiền năo vô minh của trời,
người, dù có thiên nhăn cũng
không tả được h́nh sắc và vẻ đẹp
các chư Phật, chư Tổ đều chứng
đắc thiên nhăn thông. Nhưng dùng
thiên nhăn thông cũng không đếm
được các h́nh sắc, v́ có niệm
nên niệm niệm vô lượng, vô biên,
không thể tính đếm được, dù đă
có thiên nhăn đó là cách diễn tả
lên vẻ đẹp mà không có ǵ sánh
bằng. Nếu nói về tướng đẹp con
người, v́ tài, v́ sắc cũng không
bằng đẹp đức hạnh nết na. Muốn
chỉ cái đẹp của đức hạnh, nết na
vẫn biết là có, nhưng ta kông
thể thấy được đẹp như thế nào
cũng không bằng đức hạnh ở tâm,
nên là con người rất quư trọng
đạo hạnh tại tâm. Đạo đức là đẹp
nhất trong các cơi, nên nói rằng
tánh Phật là 32 tướng tốt, 80 vẻ
đẹp, ai cũng tôn kính lễ lạy đức
độ của tánh đẹp này, nên phải
mượn h́nh tượng Phật làm sự
tướng trang điểm bên ngoài cho
mọi người chiêm bái, lễ lạy tôn
thờ hằng tín ngưỡng.
“Tướng
lộng lẫy và vô lượng chúng sanh
nơi đó, nếu không được như vậy
thệ không thành chánh giác”,
từ khi giác ngộ trong tâm ta có
vô lượng niệm tốt đẹp do hằng
ngày đă được trang nghiêm, tánh
đẹp này không thể tả được nên
các chư Tổ thấy được đức tánh
Phật quá tuyệt vời không thể
diễn đạt được chỉ biết dùng cách
đi nhiễu quanh Phật ba ṿng để
lễ lạy cúng dường, tự chiêm
nghiệm, tôn kính thật tướng vẻ
đẹp trang nghiêm, đức độ b́nh
đẳng của Như Lai. Đẹp vô cùng,
chỉ biết tôn kính qua hành động
lạy, tự mà chiêm nghiệm, nguyện
bằng niệm tôn quư không thể nói
mà hiểu được. Nếu ta không thành
tựu biết và thực hành như vậy
th́ không chánh giác, không được
phân thân của đức A Di Đà, được
đức Phật Thích Ca và chư Phật
xoa đỉnh đầu mà thọ kư, đem hết
tâm niệm hộ tŕ được chư Thiên,
trời, người đảnh lễ cúng dường
đó là nguyện trang nghiêm vô
tận.
Nguyện băm chín
quốc trung Bồ Tát
Thảy thảy đồng dơng dạc kiên cần
Mỗi người đều đặng kim thân
Băm hai tướng tốt đều phân sắc
mầu
Thuyết các pháp gồm thâu đạo
Phật
Cũng in như chư Phật đương thời.
Nguyện 40 và 41,
nguyện trang nghiêm vô tận. “Khi
con thành Phật vô lượng cây cảnh
trong cơi nước con cao trăm ngàn
do tuần”.
Vậy cây
ǵ? Cảnh ǵ?
Là cảnh
Phật, cây Bồ đề phải thường xét
trí tuệ, đức độ trang nghiêm
sáng suốt có hiện tiền nơi tâm
ta không? Tâm có an lạc và vô
lượng an lạc không? Không c̣n
sót một niệm phiền năo sân si
nào, mà thấy ḷng từ bi hỷ xả
đức độ vô cùng. “Cây
cảnh trong cơi nước con cao trăm
ngàn do tuần”, ư nói đến tâm
niệm từ bi hỷ xả không gián
đoạn, cao ṿi vọi trăm ngàn do
tuần, không thể đo lường, ước
lượng được. “Cây
làm đạo tràng cao 400 vạn dặm”
đạo tràng là sự tập tu học, sự
kiên cố thiền định là đạo tràng
trí tuệ, là đạo tràng thường tu
thường học, kinh điển là đạo
tràng. Ta đă có sẵn đạo tràng
trong tâm ta (
trực tâm là đạo tràng ) hằng
ngày đọc tụng, nghiên cứu kinh
điển là đạo tràng, thường thiền
định tinh tấn trí huệ là đạo
tràng, tâm niệm luôn trong sạch
là đạo tràng, đạo tràng tại tâm
không có niệm thấp bé nhỏ hẹp,
bỏn xẻn, ích kỷ, hẹp ḥi mà tâm
niệm luôn cao thượng vô lượng.
Tu vô lượng trí huệ, tâm độ
chúng sanh vô lượng. “Các
bậc Bồ tát trung phẩm cũng biết
rơ”, các bậc Bồ Tát không xa
lạ, không từ đâu đến hay từ
trong hư không hiện ra mà chính
là các niệm chơn chánh, trí huệ,
là niệm giác ngộ thường giáo hóa
những niệm mê lầm, ĺa bỏ sai
lầm, là tâm niệm của Bồ Tát
thường giáo hóa các niệm khác,
dạy dỗ sự độc ác, si mê trở về
với niệm sáng suốt trí huệ “nên
các bồ tát trung phẩm cũng có
thể biết rơ”. Người tự giác
biết tu học, ǵn giữ tâm niệm
trong thời gian ngắn gọi là
trung phẩm. “Nếu
muốn thấy các cơi trang nghiêm
thanh tịnh của chư Phật tuy ở
cây báu vẫn thấy được vạn tượng
như xem trong gương, muốn thấy
các cơi thanh tịnh trang nghiêm
của chư Phật”, cơi trang
nghiêm là niệm bồ đề, là tánh
giác, ta dùng tánh giác sẽ thấy
được các cơi trang nghiêm. Nếu
sống bằng tánh giác, trụ tâm
bằng tánh giác, thường chiêm
ngưỡng tánh giác, sẽ thấy tất cả
các cơi trang nghiêm của chư
Phật, sẽ hiểu biết được tất cả.
Nếu không sử dụng được tánh giác
mà làm tất cả việc thế gian cũng
không giác ngộ được, nếu thường
kiểm tâm tu tập, thường sống
bằng tánh giác là chỉ đến bậc
kiến tánh.
Tất cả các
kinh đều nói về kiến tánh thành
Phật, kiến tánh là thấy hiện tại
đang sử dụng tánh ǵ, là những
thói quen do huân tập thường
sinh khởi niệm vui, buồn, nóng,
giận tánh đang c̣n tham, phải
thấy rơ để tu tập trở lại chính
ḿnh. Phải bỏ tánh phàm phu, đó
là giống ác, ta không ươm trồng
nuôi dưỡng giống ác nữa th́
giống bồ đề sẽ tươi tốt. Một
ḷng ra công chăm sóc sẽ giác,
đó là tánh Phật. Bỏ giống xấu,
gieo trồng giống tốt bồ đề cũng
là cách sám hối tự tánh.
Giáo lư
Tịnh độ có tam tư lương, là pháp
môn đi thẳng, là pháp đốn giáo,
pháp tu thiền. Tu thiền có ngoại
đạo thiền đến sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền và tứ thiền đến
phi phi tưởng cũng c̣n là ngoại
đạo. Vào Thanh Văn thiền, Duyên
Giác thiền, Bồ Tát thiền, Phật
thiền là đoạn đường rất dài.
Hiện nay người tu c̣n lạc ngoại
đạo rất nhiều, mọi người thời
nay rất ham tu, v́ tập nhiễm các
thói quen của nhân gian nên có
đủ pháp trong tâm như Bà Chúa
Sứ, Ngũ Hành, các bà mẹ sanh mẹ
độ đó là do phong tục của nhân
gian, không phải là Phật giáo v́
trong tam tạng kinh không hề nói
đến, khó mà biết được. Nếu không
có pháp môn Tịnh độ, cứ tu theo
pháp đi ṿng, th́ đi măi đến vô
lượng kiếp. Tịnh độ là duyên rất
thù thắng gọi là đại sự nhân
duyên. Đến với pháp môn niệm
Phật tâm phải thiết tha, nếu
không tin sâu th́ không thâm
nhập vào nội tâm được. Niệm Phật
không phải cầu phước, nếu tu
theo chơn lư Phật, th́ phải ĺa
tướng, không tư tưởng vào sắc
tướng là giàu, nghèo, sang hèn,
nên xét vào tự tánh. Nếu giàu
th́ dua nịnh, nghèo th́ khinh dễ
nên có tâm chênh lệch v́ phân
biệt. Nếu không tu vào tánh th́
không rơ chơn lư, nh́n theo bên
ngoài h́nh tướng chấp thật th́
sanh tâm điên đảo. Quy y là pháp
đầu tiên, nếu giác ngộ được chữ
quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng là đă giác ngộ chơn lư.
Giáo pháp rất sâu kín nên Phật
nói pháp của ta, tà ma ngoại đạo
không đắc được. Nếu tâm c̣n dính
mắc dù một niệm tà mị cũng không
thể chứng đắc. Ḷng phải chơn
chánh, tâm địa từ bi hỷ xả, tu
giác ngộ để tự cứu ta và cứu
người được giác ngộ. Nếu tu tâm
c̣n lợi danh, ích kỷ, tham lam,
hẹp ḥi không thể vào được chơn
lư Phật. Phật nói chơn lư ta, tà
ma không phá được, chỉ có người
theo ta mà c̣n chấp tướng, chấp
h́nh th́ sẽ bị chúng ma dẫn dắt.
Phải nghiền ngẫm chơn lư cho kỹ,
trở về nội chiếu tâm ta coi là
tâm ngoại đạo hay chơn chánh,
nếu tu mà tâm không chơn chánh
th́ chỉ học đối đăi, giải trí
bên ngoài thôi, không lợi ích ǵ
cho tâm cả. Nếu tâm chánh, dù có
học pháp tà, th́ pháp tà cũng
biến thành pháp chánh. Tâm chánh
rất quan trọng, nếu tâm tà mà
học pháp chánh th́ pháp chánh
cũng biến thành pháp tà. Sự chơn
chánh tại tâm là điều cần thiết,
nếu tâm c̣n các lậu hoặc là c̣n
rỉ chảy, là c̣n phiền năo, vướng
bận, phải quyết chí vượt qua, v́
quen lăn lộn ở thế gian nhiều
đời, nhiều kiếp mà muốn xuất thế
gian là điều rất khó. Chỉ nhờ
vào tin sâu, nguyện thiết, nhờ
hành thâm, phải phát tâm rộng
lớn tu v́ đại chúng chớ không
phải riêng ta. Khi đức Phật xin
vua cha xuất gia, Ngài nói với
vua cha con ra đi là muốn cứu
tất cả chúng sanh, trong đó có
cha, ḍng họ quyến thuộc, có
Da-du-đà-la, La-hầu-la và mọi
người chung quanh v́ một người
đắc đạo Cửu Huyền siêu thăng.
Nếu không tu giác ngộ giải thoát
sẽ cùng nhau ở địa ngục măi măi
v́ chưa có ai thoát ra để t́m
cách cứu thoát cho ai cả. Địa
ngục ở tại trần gian v́ sự khổ
không bao giờ ra khỏi tâm ta khi
chưa hoàn toàn giác ngộ. Trong
quốc độ ta lúc nào cũng có tiếng
khóc than, thổn thức, đau khổ,
chửi, trách, mắng nhiếc, trù
rủa, hận thù đó là địa ngục,
biết bao giờ ra khỏi, đời đời
kiếp kiếp măi là như vậy, không
gián đoạn, mà trong đó có thân
bằng quyến thuộc, ḍng họ của
ta. Nếu ta không tự giác ra khỏi
được th́ không nói là thương cha
mẹ, thương Cửu Huyền Thất Tổ, ta
cũng cùng nghiệp chướng như họ,
không thoát ra khỏi được th́ làm
cách nào phá được nghiệp chướng
của họ. Người học kinh sẽ thuộc
được tam tạng kinh điển hay sẽ
nhớ được tam tạng kinh, luật,
luận nhưng t́m vị kiến tánh thật
khó vô cùng. Thời đức Phật có
rất nhiều đệ tử mà chỉ có ngài
Ma-ha-ca-diếp được kiến tánh. Ta
phải tu bằng pháp nội chiếu,
muốn kiến tánh phải tự quán vào
tự tánh, v́ chưa rơ tự tánh như
thế nào nên phải thấy tánh nóng,
tánh giận, tánh ghét, tánh khổ
có đang hiện diện không? Phải
thấy được, nhưng có khi thấy vẫn
bỏ qua phớt lờ. Kinh nói là phủ
tàng, là che dấu, nên càng ngày
chồi nhánh thêm to lớn càng thêm
đau khổ. Pháp tự giác là tự
biết, nó chính là nguyên nhân
làm cho ta và mọi người đau khổ.
Ta phải sáng suốt, tự hiện thân
Bồ Tát tại tâm, nghĩa là tự khởi
niệm, v́ muốn cứu độ chúng sinh
nên niệm khởi là Bồ Tát ở tự
tâm
tự độ. Phật nói rằng trong tâm
có Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát
đầy đủ cả. Nếu niệm khởi v́ ham
học, ham tu, thích nghe giáo
pháp, chơn lư, muốn t́m nghe là
do niệm khởi từ trong tâm ta, đó
là niệm của bậc Thinh Văn.
Thường chiêm nghiệm xét thấy
nhân quả do tâm niệm con người
khởi lên, gọi là Phật độc giác
hay là Bích Chi Phật niệm ở tại
tâm ta. Tất cả đều mượn h́nh
tướng, tạm qua danh từ để hiển
bày mà hoàn toàn từ niệm khởi.
Cũng như ta tạm mượn h́nh tướng
có thân là huyễn giả, nhưng
trong thân huyễn có vô số niệm
v́ vậy trong tâm có tất cả, có
Địa Tạng Vương Bồ Tát thường
giáo hóa tâm ta, có Diêm Chúa là
niệm sáng suốt thường tự xét tội
ta, nên khi hành động sai quấy
tự nơi ta biết rất rơ ràng. Nếu
làm việc bên ngoài, gọi là đáp
đền ơn Phật không đúng như vậy.
Chư Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh
Văn được giáo hóa thuần thục
rồi, th́ người đó mới thật có
tâm cúng dường chư Phật, báo đền
công đức Phật. Trong kinh Địa
Tạng có Bồ Tát Quang Mục cứu mẹ,
không phải là mẹ thế gian mà mẹ
ta là tánh giác đă bị trùm khắp.
Chúng mê muội là mẹ ta đau khổ,
mẹ là tự tánh thường sanh ra
muôn pháp, v́ sanh toàn niệm mê
muội nên mẹ khổ đau. Ta không
biết mà cứu mẹ nên nhờ đức Thế
Gian Định Tự Tại Vương Như Lai
chỉ cho pháp cứu mẹ, muốn cứu
mẹ, cứu quyến thuộc của ta là
Cửu Huyền Thất Tổ, quyến thuộc
ta là ḍng họ giác, nhưng bị
chúng ma mê hoặc, làm điên đảo,
khổ đau. Mẹ ta là tự tánh, Cửu
Huyền Thất Tổ ta đang đau khổ v́
những niệm xưa cũ, mê muội, đă
quên mất bản tánh chính ḿnh.
Ḍng họ giác tại tâm ta linh
thiêng vô cùng v́ đă giác nên
làm được tất cả, có đủ năng lực
đi khắp quốc độ vào các cơi thế
giới mười phương xây dựng được
lâu đài Cực Lạc, trang nghiêm
tráng lệ được hạnh phúc, an vui,
đầy đủ xa cừ, mă năo, san hô,
lưu ly, hổ phách vô lượng vô
biên, điều này chỉ có người giác
ngộ mới xây dựng được, nên Cực
lạc toàn là pháp bảo hợp lại mà
thành, gọi là Bảo Tạng ; đầy đủ,
hà sa pháp báu nên gọi là linh.
Thật rơ ràng kinh Phật nói linh
bất linh tại ngă. Ngă là đại ngă
đại giác, là thường ngă trong
thường lạc ; ngă tịnh là chơn
ngă, là giác ngộ tánh giác rất
linh thiêng. Ta v́ mê muội tham
cầu, măi chạy t́m sự linh bên
ngoài mà quên bỏ sự linh thiêng
có sẵn tự tâm ta,
nhờ
tánh giác sáng suốt mà con người
lên tới cung trăng, sao hỏa, chế
tạo những điều cần thiết cho con
người sử dụng, bào chế thuốc để
khắc phục bệnh nan y đó là nhờ
sự linh thiêng sáng suốt của tự
tánh. Tánh giác làm được tất cả
những sự linh bên ngoài mờ mờ ảo
ảo do sự đồn đăi bâng quơ là
linh trong hoang tưởng, là vọng
tưởng, điên đảo, không thực tế
nên đạo Phật là đạo chơn, đạo
giác ngộ, sáng suốt. Minh là
sáng, chữ sáng theo Phật giáo là
huệ. Huệ có ở tại tâm, là sự
sáng suốt được khởi lên. Nếu
biết nhận định niệm khởi là tà
niệm hay chánh niệm, nên hư,
biết niệm khởi là niệm tội hay
niệm phước đó là niệm của trí
huệ. C̣n khi khởi lên v́ dục
vọng hoặc theo sự thấy của thế
gian, không sáng suốt hành động
theo sự ham muốn, dục lạc của
ta, gọi là muội hay là mê. Nên
biết rơ các niệm đó là huệ, v́
mê nên có tánh minh mà ta không
biết sử dụng trí huệ.
Hễ nghe khua động đồng tiền
Sửa ngay thành dại chẳng kiên
chút nào.
V́ quyền
lợi nên sửa cái sáng thành cái
tối, không c̣n nhận định rơ sự
việc, mà chỉ nghe thấy, chạy
theo hành động phàm phu tục tử.
Tự tánh sáng suốt sẵn có nơi mỗi
người, nên vừa khởi niệm tự biết
liền, v́ mắt thấy, tai nghe,
tiếng nói, lợi dưỡng bên ngoài
không kềm chế được mà bỏ quên
minh tánh nên gọi là sáng hay
tối, khi thấy điều chơn chánh
ta
không hưởng ứng tự rút lui đó là
huệ. Muốn nhớ đến trí huệ phải
nhờ thiện tri thức hướng dẫn v́
người sáng mới dẫn ta sáng được.
Khi đức Phật bỏ thế gian, Ngài
nói rằng “Này
các ngươi, ta ra đi mà không bao
giờ quên các ngươi, ta vẫn để
giáo lư là những điều dạy dỗ,
các ngươi nên y theo đó mà thực
hành th́ các ngươi cũng giống
như ta, sẽ được sáng suốt trí
huệ, c̣n các ngươi không thực
hành, gạt bỏ những kinh nghiệm
của ta mà chạy theo tà mị, khi
giáo lư ta mất rồi các ngươi sẽ
ở măi trong tăm tối, đau khổ”.
Minh là có sẵn v́ bỏ qua nên ta
măi chịu u tối. Minh ai cũng có
sẵn, chỉ chờ ta sử dụng, không ở
đâu xa mà ta cứ măi cầu xin, van
cầu, khấn nguyện hoặc ai cho mà
có được. Chỉ cần nhận định nghe
lời Phật dạy ta liền có tánh
minh, v́ măi chạy theo sự huyễn
hoặc bên ngoài nên lần hồi tánh
minh bị che khuất tâm ta. Khi
cha mẹ mới sinh ra rất nhẹ nhàng
trong sạch, không nặng nề, ưu tư
phiền năo, v́ càng lớn càng huân
tập thói quen của thế gian, học
pháp thế gian, càng lớn càng
chứa nhiều tập nhiễm của cuộc
đời, chứa vào tâm đầy chật, tràn
ngập u mê, phiền năo, tội lỗi,
ham muốn nên mất dần tánh ngây
thơ, vô tư lúc ban đầu, chỉ biết
sống theo tánh đua đ̣i của các
pháp ô nhiễm. Người tu giác ngộ
phải thường niệm Phật để bỏ dần
các niệm tội lỗi do huân tập
thành quen nên u tối. Không khởi
niệm vào sự loạn cuồng của các
pháp, buông xả các tà niệm dần
dần gọi là xả niệm, nương vào
câu Phật hiệu, tạm mượn để quen
dần phương pháp xả niệm cho được
thuần thục, tâm trở nên thanh
tịnh trong sạch, không c̣n vướng
bận, niệm trụ vào thế gian, nên
tâm được rỗng rang, trong sạch,
th́ ánh sáng quang minh chiếu
soi trùm khắp, là đă giải phóng
được các loại giặc phiền năo,
sân si, tham đắm ra khỏi tâm,
tâm đă tự do không c̣n ràng buộc
gọi là giải thoát. Việc ǵ ở thế
gian ta trả lại không c̣n niệm
luyến tiếc, ái nhiễm, chỉ giữ
lại ḷng từ bi bác ái th́ được
rỗng rang v́.
Sắc tài danh lợi của ai đây?
Sắc tài danh lợi chẳng riêng đây
Sắc lợi danh tài ở đâu mà có
Ham mê quyền lực khổ đau nhiều.
Buông một
phần si mê chứng một phần giác
ngộ, được một tướng tốt, phải
dùng trí quang chiếu vào danh
lợi, nếu nuôi dưỡng danh lợi sẽ
sanh tâm cống cao ngă mạn, danh
lợi, tạo lục đạo luân hồi. V́ ta
tham mà đắm nhiễm, chớ sắc tài
danh lợi chỉ là pháp huyễn,
chẳng là của ai cả.
Sắc tài danh lợi của ta đâu?
Càng tham càng muốn chỉ thêm sầu
Cuộc trần thế được thua thua
được
Trả rồi vay nhân quả luân hồi.
Đó là các
duyên của nhân quả, tự tánh vốn
rỗng rang vô ngại, không bị che
lấp, không hề khổ đau nhưng v́
mê muội, thiếu sáng suốt, nhận
định sai lầm nên tự đặt hằng vạn
khổ đau, phiền năo trần lao vào
đó. Ta đă có sẵn bản tánh nhẹ
nhàng, tự tại, rỗng rang gọi là
giải thoát, vốn sẵn sàng nên hăy
trả những ǵ của cuộc đời vào
quên lăng, không niệm nhớ lại
nữa các pháp thế gian về với
cuộc đời sẽ tự nhiên giác ngộ
giải thoát.
Chuyện nhà
Phật có nhà sư t́m đến vị Thiền
sư xin pháp giải thoát, Thiền sư
hỏi “Ai
trói buộc con mà xin giải thoát?”,
vị sư trả lời “Dạ
không ai trói buộc con”,
thiền sư nói “Không
ai trói th́ con đă giải thoát
chớ cầu ǵ?”. C̣n ta cũng
không ai ràng buộc cột trói vậy
th́ cầu ai? Ở đâu? Phải thông
thấu điều này, tự ta cứu lấy ta,
tự độ ta thanh tịnh. Sự thanh
tịnh trí huệ có khả năng biết
được các cơi địa ngục đầy khổ
đau, đến cơi trời cao hữu đảnh
và cơi cực lạc đều thông thấu v́
các cơi hoàn toàn do tự nơi tâm
tạo, do từ niệm khởi mà thọ sanh
địa ngục tại tâm, nên sự đau khổ
ta cũng khổ ở tâm chớ không khổ
chỗ nào khác cả ; sự dày ṿ, bức
ngặt, phiền năo, gào thét, đau
đớn cũng ở tại tâm ta chớ không
khổ chỗ nào khác cả. Nếu giải
thoát là giải thoát tại tâm chớ
không đào xuống đất t́m địa ngục
mà giải thoát, v́ dưới đất không
có địa ngục. Cơi trời là thọ
phước, có tiền của hưởng thụ nên
sanh tâm sung sướng, vui mừng.
Các trạng thái này cũng ở tại
tâm, chớ thân là dụng cụ vô tư,
không có sự vui mừng hoàn toàn
do từ tâm ư, mà có vui mừng an
lạc, sung sướng hay đau khổ v́
vạn pháp đều từ tâm tạo nên cơi
trời cũng ở tại tâm.
Cơi Cực lạc
cũng ở tại tâm v́ tâm không c̣n
vướng bận thế gian nên tâm được
tự do, an lạc, thảnh thơi, nhàn
nhă. Trạng thái tự tại cũng ở
tại tâm nên niệm Phật cũng niệm
tại tâm, xả các tà niệm cũng tự
nơi tâm, tu hành cũng tại tâm
nên các cơi Thiên đàng, Địa
ngục, cơi Trời, Cực lạc chỉ ở
tại tâm mà ra cả. Tổ dạy Niết
Bàn do tâm tạo, địa ngục do tâm
sanh. Tâm làm ra địa ngục, tâm
tạo được Cực lạc, vạn pháp đều
do tâm tạo, ngoài tâm không có
ǵ cả nên chắc chắn nói rằng
Phật tức tâm, tâm tức Phật. Ta
không sống mơ màng theo pháp thế
gian nữa, theo pháp Phật là theo
giáo lư phải cương quyết mới gọi
là giác ngộ. Tu cũng giống như
người đào giếng, đầu tiên thấy
đất ẩm phải cương quyết ra sức
đào tiếp, càng sâu mới thấy
nước, nếu không chịu đào mà cứ
ngồi thừ ra mà van lạy, cầu
khẩn, mong chờ, không thể có
được nước. Muốn thông thấu, tâm
thông thấu giáo lư, phải tự t́m
hiểu v́ ai cũng có khả năng. Có
người khi cầm kinh lên th́ buồn
ngủ v́ chúng sinh trong tâm là
các niệm mê muội nên không sáng
được lư kinh. Phải cố gắng kiên
tŕ, tự chuyển hóa sự sáng suốt
v́ vạn sự khởi đầu nan. Học Phật
giai đoạn đầu rất cực, phải biết
nhân quả, tam quy, ngũ giới,
nhơn thừa, Phật thừa, phải cương
quyết mới hiểu được để vượt lên.
Mọi người đều có khả năng thông
thấu tất cả, chỉ v́ nhút nhát,
không chịu rèn luyện nên bỏ qua,
măi vô minh, tham đắm cuộc đời
bụi trần lao càng che phủ th́ vô
minh càng dầy, càng nặng. Bụi
trần sẽ bay vào mắt trí huệ, che
mờ làm mù đui, tăm tối, chịu
sống đọa đày trong cơi âm u, mù
mịt đó là sắc, tài, danh, thực,
thùy, là pháp thế gian, là
chướng nạn luôn cám dỗ mê hoặc
làm tâm ta mang đầy tội lỗi u
mê. Sắc là h́nh tướng vật chất
xác thân ; tài là tiền bạc ;
danh là lợi dưỡng, danh vị uy
quyền, thế lực ; thực là tham ăn
muốn món ngon vật lạ ; thùy là
mê ngủ nên có câu tham ăn mê ngủ
nói liều chẳng kiên.
Tâm phải
trong trẻo nh́n vào thấu suốt
gọi là tâm người trong sạch,
không bợn nhơ, lừa đảo, hẹp ḥi.
Căn bổn của tâm là trong sạch v́
mê nhiễm pháp trần làm tâm bị
nhơ bợn. Lục Tổ nói “bổn
tánh tự nhiên trong sạch sẵn có,
không phải do tu mà có”, chỉ
v́ ta không sử dụng sự trong
sạch mà chạy theo sự nhơ bẩn, tà
mị bên ngoài lấp vào che mờ sự
trong sạch thường hằng, phải t́m
cách dọn dẹp, lau chùi là tu sửa
lại cho trong sạch tâm, khi tâm
trong sạch là trí huệ bừng sáng.
Gương sạch th́ thấy rơ, nếu dính
bụi bẩn th́ mờ lu. Căn bổn tự
tánh vốn trong sạch gọi là trạm
nhiên. Khi niệm Phật trí giác
giữ ǵn giáo hóa tâm, gạn lọc
từng niệm để các niệm sai quấy,
mê vọng quá văng, không luyến ái
văng lai niệm nhớ lại, tâm thật
sự an ổn gọi là vô sanh (
niệm không c̣n sanh khởi lại
). Nếu không niệm vào trần lao
là dứt khổ, sẽ được vào ḍng
Thánh, chứng quả Thanh Văn. Dù ở
đâu, đi đứng nằm ngồi đều rà sát
bản tâm là niệm Phật trong tứ
oai nghi không gián đoạn. Tâm
nhớ quá khứ gọi là vọng niệm,
tâm hiện tiền cần quán xét để
không phạm vào niệm, vọng tâm và
niệm vọng tưởng. Quán tâm hiện
tiền phải biết ta đang nghĩ ǵ,
đang lo ǵ, đang muốn ǵ, niệm
đó phải hay quấy, phước hay tội,
tốt hay xấu đến cho ta và mọi
người, đó là niệm có trí tuệ hay
tánh giác theo kèm. Quá khứ đă
qua chỉ là vọng tâm ta không cần
niệm nhớ lại. Tịch là vắng lặng,
ta không t́m chỗ vắng vẻ, đó chỉ
là cảnh lặng không phải tâm
lặng. Tổ dạy “đối
cảnh bất sanh tâm”, trước
cám dỗ thế gian tâm không tranh
đua, đ̣i hỏi là tâm TỊCH tự
nhiên. Nếu gặp cảnh vắng vẻ, yên
lặng tâm liền khởi niệm tu là
chỉ tu theo cảnh không thấy được
tâm.
Cảnh nào cảnh có đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao
giờ.
Dù ở trước
cảnh thanh tịnh mà tâm ta phiền
năo, khổ sở th́ cảnh là yên
lặng, thanh tịnh mà tâm ta vẫn
bất an, ta không tu theo cảch,
theo cảnh bỏ tâm. Người tâm đă
thanh tịnh TỊCH NHIÊN th́ ở đâu
tâm vẫn vắng lặng, ở đâu cũng là
đạo tràng tại tâm, không bận
ḷng t́m đâu cả. Dù cảnh có ồn
ào, náo nhiệt tâm vẫn vắng lặng.
Sự vắng lặng là không theo cảnh,
dù đang ở trong cảnh ồn ào, sự
ồn ào đă vắng lặng tại tâm,
không đua đ̣i theo cảnh, tâm
không nhiễm cảnh, gọi là tâm
vắng lặng, chẳng t́m cầu ở đâu,
tất cả đều ở trong tâm niệm.
Những pháp có sanh, có diệt, vốn
là vô thường, v́ hữu sanh hữu
diệt không thường c̣n là thành
trụ hoại không, tất cả những ǵ
có rồi đều mất cả, chỉ có tự
tánh là thường c̣n, dù bỏ xác
thân vào thế giới nào đi nữa tự
tánh vẫn c̣n. Vào địa ngục tự
tánh vẫn c̣n, ở Cực lạc tự tánh
vẫn hiện diện. Vốn tự tánh không
già không chết chỉ v́ mê chạy
theo loạn trần, giác ngộ th́
sáng suốt. Phật nói tự tánh
giống như hư không, khi bỏ xác
thân tất cả trả về cho tứ đại
đồng như hư không, nếu c̣n niệm
sự nhỏ mọn, hẹp ḥi, ích kỷ, xấu
xa, ḅn rúc, ti tiện là niệm tạo
thành nghiệp, sẽ cảm thọ mang
tướng của nghiệp. Ta đang niệm
dẫn vào đường luân hồi theo
nghiệp đă niệm nhớ, là tướng nhỏ
hẹp của loại côn trùng là kiến,
muỗi, ruồi, lằn, trùng, dế, vi
trùng phải mang thân nhỏ hẹp
sống chui rúc vào máu thịt con
người, ăn uống dơ bẩn, tất cả
đều do nhân từ niệm khởi trụ vào
mà thành quả tạo nên tướng của
nghiệp, phải biết chỗ này mà ĺa
niệm. Nên pháp niệm Phật nương
vào Phật hiệu để tâm không c̣n
vướng trụ bởi niệm mà sanh
nghiệp dẫn ta luân hồi, vào lục
đạo. Phật dạy “ưng
vô sở trụ”, nếu trụ niệm vào
đâu th́ mang nghiệp của sắc
tướng đó không sai. Các Bồ Tát,
chư Phật đều từ tận hư không
hiện ra nhưng chư Phật, chư Bồ
Tát v́ nguyện độ chúng sanh mà
khởi niệm đại bi, v́ thương xót
muôn loài mà thị hiện. C̣n ta v́
tham đắm thế gian mà khởi niệm,
nếu niệm ǵ th́ theo nghiệp đó.
Nên trong kinh có nguyện “Chí
tâm đảnh lễ nam mô tận hư không
biến pháp giới quá hiện vị lai,
thập phương chư Phật, tôn pháp
hiền Thánh Tăng thường trụ tam
bảo”, tất cả đều từ niệm vô
h́nh mà sinh khởi có tướng ở
cuộc đời, cũng từ tâm niệm mà
thành. Những ǵ không thấy biết
được là hư không, nên nói là trở
về với hư không. Nếu hư không
th́ không ai phá hoại được nên
gọi là thường c̣n. Vậy trí huệ
thường c̣n giống như hư không,
nên Phật nói đồng giống như hư
không. Hư không chứa được tất cả
muôn loài vạn vật, tự tánh trí
huệ cũng sáng suốt, tự chiếu soi
tất cả vạn vật đồng với hư
không. Tự tánh từ vô thủy đến vô
chung kinh gọi là Nhiên đăng cổ
Phật, là hào quang, là đèn trí
huệ, vốn tự nhiên có sẵn sự
thanh tịnh sáng suốt trí huệ, có
từ vô lượng kiếp, bất sanh bất
diệt, thường hằng gọi là cổ
Phật. Không tính đếm thời gian,
không gian nên nói là không đầu,
không đuôi, không lớn, không
nhỏ, không màu sắc. Ta không t́m
kiếm xin ai mà được cả, vốn tự
nhiên, không chấm dứt, không
mất. Trong kinh Bát Nhă nói “hết
già hết chết giả không có ǵ,
đảo điên mộng tưởng xa ĺa, Niết
Bàn mới đến bên kia bến bờ”
tự tánh vốn hằng hữu, sống với
tự tánh là không già không chết
có đâu luân hồi. Sự già chết của
sắc thân chỉ là sắc tướng huyễn,
tạm mượn thân tứ đại xuất hiện ở
cuộc đời do từ niệm khởi, rồi
cũng trở về tứ đại bởi sự tan
hợp của các duyên vốn không
thường hằng. Tự tánh là măi măi
ta hăy trở về với tự tánh mà an
dưỡng trí huệ, phải thu dọn
những tập tục thế gian là niệm
xả. Tự tánh không dơ, không sạch
nên chẳng trược, chẳng thanh, v́
lầm nhận thế gian gọi là ô nhiễm
; cứ tưởng hờn giận, vui buồn là
của ta nên đau khổ,
tự
xây địa ngục vào tâm, đó là nhận
giặc làm con, măi nuôi giặc
trong tâm, v́ lầm nhận là con
của ḿnh. Chẳng phải thanh v́ ôm
ấp danh lợi nên tự măn, hách
dịch nên gọi trược thanh, tự
tánh vốn là chơn như, tự tánh là
đa thọ dụng, gọi là chứa được vô
lượng pháp v́ vô lượng thọ dụng.
Khi vừa chào đời từ lúc thọ sanh
ta chưa có tên ǵ, cha mẹ muốn
đặt sao cũng được, tên ǵ cũng
được. Tất cả pháp đều thọ dụng,
pháp tham cũng thọ ; sân si,
gian xảo, ganh tỵ, hẹp ḥi danh
lợi v.v… đều thọ dụng, đó là các
pháp thế gian. Khi đủ duyên lành
tự giác tu học kinh điển, học
hạnh từ bi hỷ xả, học tha thứ,
học làm lành, học buông bỏ, làm
phước, hóa độ chúng sanh, tất cả
pháp đều thọ dụng được nên nói
tự tánh đều thọ dụng được, nên
nói tự tánh Di Đà là vô lượng
thọ, có công năng chiếu soi tất
cả pháp nên tự tánh là vô lượng
quang, tự tánh có năng lực làm
tất cả pháp, điều khiển tất cả
pháp, có đủ lực chuyển hóa các
niệm nên gọi là vô lượng công
đức. Tự tánh trùm khắp pháp giới
các cơi mười phương Quốc độ, vô
lượng vô biên, bất khả tư ngh́,
không thể nghĩ bàn. Tự tánh có
thể làm người ngu, làm người trí
đều thọ dụng được, rất đa dạng,
không nhận định riêng biệt mà có
pháp nào cả, mà tự tánh là đại
thừa vô lượng thọ b́nh đẳng, là
tịnh trí, là vô lượng không chỉ
một tên là A, B, C hay bất cứ
danh từ nào đặt để của việc thế
gian cho là ta cả. Sự xấu đẹp,
giàu nghèo, khôn dại, do sức thọ
dụng của tự tánh là huyễn tạm sự
có không, ta phải hiểu điều này
gọi là thông triệt được tinh
thần vô ngă. Nếu sáng suốt chọn
lựa sự thọ dụng bằng trí tuệ (
trạch pháp ) th́ không phạm
mê lầm, không làm tâm ô nhiễm,
tự tánh có sẵn vô lượng trí huệ,
không lui, không tới, tự đến tự
đi, đối trước các pháp măi măi
sừng sững không dời đổi, sẵn
sàng nên gọi là bất khứ bất lai,
rất tự tại v́ Như Lai là tùy
duyên bất biến không là ǵ cả,
đó là tâm thể vô biên không đo
lường được gọi là “vô
biên quang Như Lai”, vô cùng
vô tận. “Chơn
thể không nghĩ bàn, có chăng tự
tánh mới có được”, sự thù
thắng của thế gian là tài sản,
vật chất đối với con người, nên
Phật nói rằng, nếu có người đem
hết của báu ở thế gian, đem chất
đầy bằng tam thiên đại thiên thế
giới, đem cúng dường chư Phật,
Phật hỏi như vậy có lớn không?
Ngài Tu Bồ Đề nói, bạch thế tôn
thậm đa, thậm đa có nghĩa là rất
lớn, rất lớn, nhưng Phật nói
cũng không lớn bằng chơn tâm tự
tánh, nếu ta biết trở về chơn
tâm tự tánh th́ phước lớn vô
lượng, vô biên, không thể đo
lường được, hơn phước cúng dường
của thế gian rất nhiều. Tự tánh
là tứ cú kệ, là minh tâm kiến
tánh, là từ bi hỷ xả. Nếu tự
tánh nhỏ th́ đức Bổn Sư Thích
Ca, Tổ Đạt Ma, vua Trần Nhân Tôn
không bỏ ngai vàng mà sống với
tự tánh. V́ mê muội không biết
nên ta măi chạy theo cái nhỏ mà
bỏ việc lớn đại sự, là bỏ tự
tánh trí huệ hằng có, hằng sống
lâu vô lượng mà ta quên bỏ. Nếu
tu theo cách tụng kinh gỏ mơ,
ngồi thiền, tŕ chú, niệm Phật
hay tu bất cứ pháp nào cũng phải
quay vào tự tánh mà xem xét các
tâm niệm, thường ḍ xét tự tánh
nếu không sẽ lạc vào tà niệm,
không thể kiến tánh. Nếu người
kiến tánh thường sống với tự
tánh, người đó là chơn lư, là
ánh áng đại bi biến khắp pháp
giới. Tự tánh trùm khắp thường
hằng vô lượng, nên các chư Tổ
dùng tự tánh làm Phật tông hay
Phật tánh, tất cả chư Phật từ vô
lượng kiếp đều phải niệm Phật,
phải trở về tự tánh v́ tự tánh
chính là Phật (
là giác ).
Bốn mươi nguyện
nước của tôi
Thiệt là tinh sạch chiếu soi
khắp hầu
Chư Bồ Tát ví dầu muốn thấy
Cơi Phật nào nghiêm bấy như hà
Ḍm trong bửu thọ hiện ra
Cảnh nào Phật ấy như là soi
gương.
Nguyện bốn mốt
mọi đường công đức
Bồ Tát nào chưa được hoàn toàn
Đặng nghe đặng thấy đạo tràng
Bề cao cho đến bốn ngàn na do.
Nguyện 42,
cơi nước rộng răi nghiêm tịnh.
V́ đă kiến tánh biết được các
cơi, thấy cơi nước nghiêm tịnh
là tự tánh trống trải, v́ đầy đủ
thần thông tự minh định thấy tại
tâm được ngần nào sáng suốt,
thấy cơi nước tự ḷng ta rộng
răi, nghiêm tịnh vô cùng, không
c̣n vướng bận phiền năo, khổ sở,
lăng xăng. Nhờ thông hiểu được
pháp Phật, thường được giáo hóa
nhắc nhở, được thiện tri thức
giảng giải, thanh lọc sự ô nhiễm
của các niệm thế tục, cương
quyết xa ĺa, nên sống được với
tánh giác, cơi nước tại tâm rộng
răi, không c̣n nhỏ hẹp. Tâm chật
hẹp là muốn tất cả lợi dưỡng,
hưởng thụ của thế gian chỉ dành
cho riêng ḿnh, không nghĩ đến
ai là tâm chật hẹp, niệm của cơi
tù ngục. Tâm thênh thang là từ
bi hỷ xả, ḷng ta là ḷng của
đại chúng, tâm ḥa tâm nên nói
là bao la không ngăn ngại ; ḷng
ta là của mọi người, cứu giúp
chúng sanh muôn loài không phân
biệt, đem đến sáng suốt, ích lợi
chung, không nghĩ cho riêng
ḿnh. Nghiêm tịnh là sắc trang
nghiêm, tâm an tịnh là định tâm.
Sắc mặt trang nghiêm đẹp đẽ,
thường sống bằng tánh không
tham, không sân, không si, nên
gương mặt rất trang nghiêm.
Người tánh đầy sân si th́ mặt
tái mét, quạu quọ, hằng hộc, cau
có. Tâm tịnh là không niệm theo
quyền lợi, sắc đẹp, không tham
dục gọi là tâm tịnh.
“Cơi
nước con rộng răi, trang nghiêm
và thanh tịnh, sáng chói như
gương”, là gương ḷng nơi
tâm, chiếu sáng giúp ta
hiểu rơ các pháp, phải nhờ gương
ḷng là minh châu chiếu sáng,
soi rọi, kiểm tra ta c̣n bao
nhiêu phiền năo, sân si, chấp
ngă, tự soi rọi giáo hóa, tự sửa
sang cho tâm hoàn thiện.
“Chiếu
khắp bất khả tư ngh́ vô lượng
chư Phật khắp mười phương”,
gương sáng không chỉ chiếu soi
một h́nh ảnh nhỏ hẹp mà chiếu
khắp cả mười phương đều thông
thấu tất cả. Thông thấu là nhớ
lại cuộc đời từ quá khứ, nhớ tất
cả những niệm của ta có thể làm
được, hiểu biết được, đó là tâm
lượng vô cùng, vô tận của tự
tánh. Có Thanh Văn, Duyên Giác,
có vô số Bồ Tát nhớ đến những
điều tốt đẹp đă từng làm, cũng
nhớ hết những hành động tội lỗi
ta đă gây ra, đó là khả năng của
tự tánh chiếu khắp mười phương.
“Chúng
sanh thấy rồi sanh tâm hy hữu”,
nếu người có dụng công tu tập
bất chợt thấy được tánh tham,
tánh sân si, phiền năo đó là nhờ
thường sống trong sự nghiên cứu
kinh điển, nghiên cứu tâm, thực
tập hằng ngày. Bất chợt thấy
được sự an lạc của tâm thanh
tịnh vô cùng trang nghiêm, vô
lượng hoan hỷ chưa từng thấy, đó
là h́nh ảnh của Như Lai. H́nh
ảnh Như Lai không phải là tướng,
là sắc, là âm thanh lớn nhỏ mà
Như Lai là thế giới thanh tịnh
tại ḷng, do trí huệ chiếu sáng,
do nơi huệ mà biết được, chớ
không phải là sự thấy của mắt
phàm phu. Khi trí tuệ bừng sáng
do pháp buông xả được vạn duyên
nên nhận rơ được chơn tánh. Sự
thanh tịnh chưa từng thấy đó là
đă hoàn thành trách nhiệm lớn
lao, đi từ tập đế, khổ đế … đến
chơn như biển giác điều này
người thế gian không thể làm
được. Phật ngày xưa như vậy, Bồ
Tát là như vậy, chư Tổ cũng là
như vậy, ngày nay ta cũng phải
như vậy gọi là tâm truyền tâm,
đăng truyền đăng. Chỗ này từ
Phật truyền xuống, mà ngày nay
ta giác ngộ như Lục Tổ Huệ Năng.
“Chúng
sanh thấy rồi sanh tâm hy hữu”,
ta thấy rằng chư Phật, chư Bồ
Tát, chư Tổ phải nhọc công v́
thương tất cả chúng sanh đă có
sẵn biển giác, có trí tuệ có đầy
đủ công đức mà không biết sử
dụng, măi t́m kiếm sự u mê, lầm
lạc, sai trái, mê tín, cứ chạy
theo nên suốt đời tu cứ chịu đau
khổ, người kiến tánh thông hiểu
được, sanh tâm hy hữu. Hy hữu là
việc ích có, chưa từng có, nên
Phật Tổ chỉ dạy cần kiến tánh,
chẳng cần tụng kinh, v́ tụng
kinh để thâm nhập lời Phật dạy
trong kinh để kiến tánh. Tụng
kinh là dùng tướng, nương vào
lời kinh, dạy ta thâm nhập lư
kinh để thấy tánh ; không cần
tạo lập điều ǵ v́ kiến tánh đă
là vô lượng công đức. “Nếu
không được như vậy thề không
thành chánh giác”. Chư Phật,
chư Tổ đều tán dương công đức
của người kiến tánh, lưỡi rộng
dài nói pháp cho tất cả cơi nước
khắp mười phương. Ta không v́ vô
minh, phiền năo mà bỏ đi tánh
giác. Vô minh phiền năo không là
ǵ cả chỉ do tự tánh mê muội, bị
pháp thế gian trùm khắp, v́ tập
tục thế gian nhiều đời nhiều
kiếp nên không quy y cha mẹ, ông
bà, không quy y người thế gian,
không quy y tập tục v́ qua nhiều
đời nhiều kiếp đă làm ta xa ĺa
tánh giác, măi sống với thói
quen của cuộc đời. Phật dạy mọi
người chỉ có quy y Phật, quy y
Pháp, quy y Tăng, Tam Quy này
giúp ta trở về tánh giác v́ Phật
là giác ; Pháp đưa ta trở về sự
giác ngộ ; Tăng là người hành
theo tánh giác. Tất cả đều tự
trở về tánh giác, nếu bỏ tánh
giác th́ không thể trở thành bậc
chánh giác.
Nguyện bốn hai
các đồ nhựt dụng
Quốc độ tôi thật dụng tịnh minh
Chói ngời h́nh sắc đẹp xinh
Dầu có thiên nhăn chẳng nh́n
đặng đâu.
Nguyện 43,
“Khi
con thành Phật cùng tột dưới
đất, trên đến hư không, tất cả
vạn vật cung điện, lầu các, ao
nước, hoa cây v.v… trong nước
đều do vô lượng bảo hương hiệp
thành”. Ở cuộc đời con người
thường chọn danh thơm tiếng tốt,
nếu người thật tu phải ǵn giữ
các pháp thế tục, không để che
lấp được tánh giác, phải triệt
để giữ ǵn thanh tịnh gọi là
giới hương. Nếu tu mà vật chất
tiền bạc, xe cộ, nhà cửa che lấp
là đă phạm giới, đă phạm vào
pháp đời nên mất mùi hương, là
mất giới hương. Ta phải tu cho
bừng sáng trí huệ, tâm thiện là
không c̣n bị các pháp thế gian
che lấp, làm chướng ngại sự
trong sáng, bị che bởi tiền tài,
danh lợi, của cải, tranh giành,
oán thù, yêu ghét. Chưa chánh
định trí huệ sẽ không bừng sáng,
phải dẹp được, chuyển hóa được
tham sân si, phiền năo, nếu
không c̣n các tà pháp che lấp
th́ mùi hương của giới pháp
thanh tịnh bừng sáng, tỏa ngát
hương thơm, tâm ta an ổn vô
cùng. Mùi hương bay khắp mười
phương nhờ tâm an định, gọi là
định hương nên giới giới đều
thanh tịnh, định định đều sáng
suốt, giới định sáng suốt sẽ tỏa
huệ hương. Giới năng sanh định,
định năng sanh huệ, vậy giới
định đều sáng suốt, trí huệ
thường hằng thanh tịnh chiếu tỏa
khắp mười phương. “Trong
nước đều do vô lượng bảo hương
mà thành”, người có bảo
hương ví như lầu đài, giống như
cơi đất trang nghiêm, thanh tịnh
y như cơi Cực lạc. Cơi này tất
cả điện, cây cối, thất bảo đều
do hương này mà thành cả, nếu
không có giới định hương th́
không thành tựu được công đức. “Hương
thơm xông khắp mười phương thế
giới chúng sanh ngửi được đều tu
mật hạnh”. Người kiến tánh
v́ đă ĺa tham vọng, những pháp
sai quấy không c̣n niệm sự nhơ
bợn cuộc đời nên đi đến đâu
hương ḷng bay khắp. Hương giới,
hương định, hương huệ bay khắp
làm cho người chung quanh nghe
ấm áp, thơm tho, gần được tâm
người an lạc, gần được tâm người
đang hạnh phúc hoan hỷ. Nếu
chuyên cần tu tập sẽ sáng suốt
trí huệ, người ngửi được hương
này sẽ ham thích tinh tấn tu
theo Phật hạnh.
Phật hạnh là ǵ?
Là trí huệ giác ngộ, là chơn
giác. Hạnh là hành động, tư
tưởng của những việc làm thanh
tịnh. Ta phải kết hợp tư tưởng
lời nói, việc làm có trong tánh
giác hay không, đó là Phật hạnh.
Nếu thấy tánh thô tục, hư xấu
liền bỏ, không hành động sai
quấy nữa đó là thường hành Phật
hạnh. Nếu xét hành động từ quá
khứ đến hiện tại, thấy được niệm
sanh hành động sai quấy, tự sửa
chữa là tu Phật hạnh ; nếu không
làm được những điều này dù có đi
hành hương, đi lạy Phật, cúng
dường bố thí… mà cầu được chánh
giác là việc phi lư không thể
có. Tổ dạy “Bổn
lai vô nhứt vật, hà xứ nhạ trần
ai”.
Nguyện bốn ba
ai ai trong nước
Chỉ mong cầu nghe được pháp kinh
Tự nhiên sở nguyện đắc thành
Không chờ mời thỉnh thường t́nh
thế gian.
Nguyện 44
phổ đẳng
tam muội.
Nguyện 45
nguyện
cúng dường chư Phật.
Nguyện
46
nguyện được Tổng Tŕ đà-la-ni.
Nguyện 47
nguyện
nghe danh được pháp
nhẫn.
Nguyện 48
nguyện
chứng quả bất thối
chuyển.
Các pháp được
thành tựu nên một danh từ như
Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa,
Bồ Tát Thừa, La Hán Thừa, Phật
Thừa là pháp Phật vô lượng.
“Khi
con thành Phật” muốn nói là
pháp thành tựu các vị Bồ Tát
trong mười phương cơi Phật, ta
phải hiểu rơ rằng Bồ Tát chỉ
ngay niệm sáng suốt của ḿnh nên
trong kinh Bát Nhă dạy Quán Tự
Tại Bồ Tát đó là hạt giống, là
có chủng tử giác ngộ có sẵn
trong tâm nhiều đời nhiều kiếp,
đă từng hóa độ chúng sinh.
Có hại loại chúng sanh :
Chúng sinh hữu t́nh và các chúng
sanh có tướng bên ngoài.
Nếu ta c̣n những niệm phiền năo,
tham sân si, độc ác, tự cao, ngă
mạn, nghi ngại, tà kiến… những
niệm đó gọi chung là chúng sanh
trong tâm, phải nhờ những niệm
giác là Bồ Tát trong tâm, tự
giáo hóa chính ta gọi là độ
chúng sanh (
chúng sinh
khổ con nguyền tự độ ) nên
niệm này gọi là Bồ Tát niệm. Ta
phải nhớ lời Tổ rằng “Trong
kinh không có Phật, không có Bồ
Tát” mà trong trí tuệ hiểu
biết, nơi hào quang sáng suốt
cùng hạnh nguyện có vô số Bồ
Tát, có chư Phật. Khi ta phát ra
nguyện lành quyết ḷng tu học
cho được sáng suốt là đă sử dụng
niệm về Đại Thế Chí, là chí
nguyện lớn tự nơi ta v́ Bồ Tát
Đại Thế Chí kề bên, sẵn sàng thị
hiện, cứu giúp ta được tṛn sở
nguyện. Hiểu biết, sáng suốt,
trí tuệ là tự độ các niệm mê
lầm, khi vừa khởi niệm sai liền
có niệm vi tế của Bồ Tát tại tâm
giáo hóa nhắc nhở, chuyển hóa
niệm sai lầm liền tự giác, lập
tức buông bỏ, không c̣n niệm nhớ
tính toán các niệm sai lầm là tà
niệm, là niệm ma, nên nói rằng
có Bồ Tát hiện ma liền biến mất.
Bồ Tát là những niệm cao thượng,
thường giáo hóa, dạy dỗ những
chúng sanh thấp hèn trong tâm,
ta phải trực chỉ nhận tâm là tu
ngay tại tâm ḿnh mới được lợi
ích sáng suốt. Vậy Bồ Tát mười
muôn ức cơi đều không xa rời tâm
niệm chính ta, nếu không khởi
niệm nào th́ không có mười muôn
ức cơi, v́ có niệm khởi tại tâm
nên mới có phương hướng, có cơi,
có thế giới do tự tâm tạo. Có Bồ
tát mười phương cũng do niệm
khởi, nên có niệm Bồ Tát sáng
suốt khởi lên mà làm việc giáo
hóa. Ta phải biết rơ mười phương
nơi tự tánh mới tạo ra mười
phương bên ngoài, các pháp có
mặt đều do tâm tạo v́ trong tâm
vốn đầy đủ, trong tâm chứa muôn
pháp. Có cơi địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh là chỉ đến các chúng
sanh v́ niệm mê muội nên sanh
tánh mê muội tạo thành. C̣n có
mười phương quốc độ do các niệm
giác tạo thành là tự tánh Phật,
vô lượng trùm khắp gọi là thường
không bao giờ mất. Ta không lầm
nghĩ chỉ có một kiếp này mà
không phát nguyện tu học, để đời
đời chịu dốt nát, đọa lạc, luân
trầm, không đủ duyên gặp Phật
nên ta phải tinh tấn tu học. “Nghe
danh con rồi đều được thanh
tịnh, giải thoát”, ta phải
nghe bằng trí tuệ, không nghe
bằng sự huyễn giả không thật bên
ngoài. Ta phải nghe vào tự tánh
gọi là hạnh lắng nghe, nghe vào
tánh chơn thường, nghe bằng trí
tuệ sáng suốt, nghe chơn định,
chơn giải thoát đó là nghe danh
chính nơi ta, phải nghe danh
giải thoát, nghe danh định tự
tại, danh của tự tánh, tất cả
đều an lạc giác ngộ. Danh ta là
Bồ Tát Quán Vô Trụ, Bồ Tát Hiền
Hộ, Bồ Tát Thiện Tư Duy, Bồ Tát
Huệ Biện Tài, Bồ Tát Thần Thông
Hoa, Bồ Tát Quang Anh, Bồ Tát
Bảo Tràng, Bồ Tát Trí Thượng, Bồ
Tát Tịch Căn, Bồ Tát Tín Huệ, Bồ
Tát Nguyện Huệ, Bồ Tát Hương
Tượng, Bồ Tát Bảo Anh, Bồ Tát
Trung Trụ, Bồ Tát Chế Hạnh, Bồ
Tát Giải Thoát đều là thượng
thủ, tất cả là Bồ Tát đă tự
giác, phải nghe lại tiếng ḷng
đang thổn thức mà dỗ dành, giáo
hóa cho được sáng suốt. Ta không
nghe danh từ, văn tự bên ngoài,
bày vẻ mọi h́nh tướng, suốt đời
sẽ là nô lệ cho thế gian, không
giải thoát được, măi măi ở trong
buồn phiền, khổ năo, luân hồi,
bức ngặt. Nếu miệng vẫn đọc
kinh, nói kinh mà tâm vẫn c̣n
niệm nhớ việc thế gian, hành
động là của pháp thế gian, vẫn
c̣n là tâm của chúng sanh, không
phải tâm đức Phật v́ chưa xa ĺa
được thế gian ; vẫn c̣n tham
muốn, đ̣i hỏi, sân si, tranh
đấu, không gọi là xuất thế gian
được, v́ tự tánh là vô lượng
thọ, có công năng thọ dụng tất
cả mà thế gian không thể biết
được, nên gọi là vô lượng. Sự
thọ dụng thế gian chỉ có giới
hạn, dù giàu có thế nào, sang
trọng thế nào cũng sẽ thay đổi,
có người khác sẽ hơn nên không
nói là vô lượng, mà chỉ có hạn
lượng. Sự thọ dụng trí tuệ vô
cùng, vô tận, vô biên gọi là
kinh vô lượng thọ. Sự thọ dụng
không thể nói hết được “th́
được thanh tịnh giải thoát và
phổ đẳng tam muội”. Phổ đẳng
là rộng khắp, b́nh đẳng, người
người không giới hạn riêng ai,
khi đă thành tựu được pháp tự
giác tam muội, là giải thoát
không c̣n bị ngăn ngại, giới
hạn. Trí huệ tam muội dành cho
tất cả mọi người không chỉ riêng
ai, rất b́nh đẳng trùm khắp, nếu
ta quyết ḷng tu sẽ được chứng
đắc tam muội, các pháp đều b́nh
đẳng, gọi là phổ đẳng tam muội,
v́ ai cũng được thành Phật quả.
“Các
môn tổng tŕ vào tam ma địa”,
do một niệm sanh khởi mà có tất
cả gọi là tổng tŕ, v́ chỉ một
niệm vô minh khởi sẽ có tham,
sân, si phiền năo, ham muốn, chỉ
từ một niệm mà có tất cả niệm
nên Phật dạy “pháp
pháp hà tằng pháp”, chỉ một
niệm sẽ sanh ra nhiều niệm liên
tục nên người tu phải ǵn giữ
niệm khởi bằng cách niệm Phật.
Nếu ư phát sinh mà không có tánh
giác giáo hóa, liền rớt vào niệm
địa ngục tức th́, v́ niệm tổng
tŕ từ địa ngục lên tới trời hữu
đảnh, giống như một vị vua lớn
coi tất cả các vua nhỏ là một
niệm tổng tŕ. Khi khởi niệm mà
không biết cai quản, giữ ǵn,
bảo vệ th́ phải sa vào địa ngục,
phải hằng giữ niệm giác chính
ḿnh như tự giữ tṛng con mắt
không cho bụi dính vào như vậy
mới giữ niệm Phật (giác)
được chơn chánh. Phải giữ ngay
niệm chính ḿnh A Di Đà thành
tựu pháp gọi là Tịnh Đức A Di
Đà, ta niệm Tịnh đức A Di Đà là
muốn thành tựu pháp gọi là đức
Di Đà. Ta niệm A Di Đà là nhớ
đến Tịnh Đức là muốn thành tựu
pháp A Di Đà tại tâm niệm chính
ta cho được sáng suốt, trí tuệ
giống như Đức A Di Đà, niệm
không c̣n nghĩ nhớ vào thế gian
nữa, các niệm của tà pháp chuyển
hóa thành Tịnh Đức A Di Đà tại
tâm ta, ta đă thành tựu được đức
tánh A Di Đà, hiện giờ tâm niệm
ta đă thật sự trở về TỰ TÁNH DI
ĐÀ VÔ BIỆT NIỆM, không c̣n niệm
phân biệt pháp thế gian nữa,
phải tự ăn mới no, tự tắm mới
mát, tu mới chứng, phải tu ngay
niệm của ta thành Phật (
giác ) tại niệm của ta, phải
giữ ǵn niệm A Di Đà Phật của ta
là niệm tổng tŕ. Hằng ngày ta
cứ măi niệm niệm, không ǵn giữ,
chăm nom nên niệm niệm đi hoang
khắp cùng tam giới, sa đọa, luân
trầm, không có được niệm nào
sáng suốt để giáo hóa, nên măi
lầm lạc vào sự luân hồi trong tứ
sanh lục đạo (
thai sanh, noăn sanh, thấp sanh,
hóa sanh ) (
Thiên, nhơn, a-tu-la,, địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh ). Tổng là
gom, tŕ là kéo lại, giữ lại ;
phải cai quản tất cả các niệm
của ta, chỉ cần một niệm khởi mà
sanh sanh, hóa hóa vô lượng, vô
biên, niệm niệm sai lầm ta phải
tự quyết định gọi là một niệm
tổng tŕ. “Vào
tam ma địa” nghĩa là tu chỉ,
tu định, tu quán. Ta phải quán
xét thấy các niệm hiện tại có bị
lôi cuống, sa đọa, rớt vào sông
mê, biển khổ là vào chỗ tham sân
si, phiền năo ; sa là rớt vào
nơi tăm tối ; đọa là ở măi,
không sáng suốt ra được, gọi là
sa đọa ; lôi cuống như ḍng
nước, theo ḍng danh lợi t́nh
ái, giàu sang, cứ măi chạy theo
ḍng đời, phải dùng định lực giữ
lại gọi là định. Xa-ma-tha hay
định tam-ma-địa, tu phải có định
mới sanh huệ. Nếu niệm niệm măi
lang thang cùng khắp lục đạo th́
không có huệ. Phật dạy tứ oai
nghi đi đứng nằm ngồi, đều ḍ
xét từng niệm, nói năng, người
tu phải giữ từng lời nói (chánh
ngữ) mới vào được
tam-ma-địa. Nói năng, đi đứng
nằm ngồi đều chỉ quán vào định
niệm gọi là tam-ma-địa. Quán
tam-ma-địa là quán từng niệm
khởi, phải ḍ xét kỹ vào các
pháp tương ưng như thế nào,
nghĩa là đang niệm ǵ, niệm hiện
khởi có tương đồng với pháp Phật
không? Có tương ưng đồng với Tam
Bảo không? Hay tương ưng với
phàm phu, địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh đó là tu quán tam-ma-địa,
chỉ tam-ma-địa. Chỉ là trực chỉ,
không cho niệm nào xen lẫn vào
niệm chánh giác (
chánh niệm ), phải kiên cố,
nếu thấy niệm khởi mà không
tương ưng với chánh giác, phải
lập tức phá vỡ v́ giác biết sắp
niệm vào vô minh ; phải chà đạp,
dẹp bỏ không cho tà niệm khởi
lên, tạo ra những tạp niệm ;
phải tự phá bỏ v́ biết niệm đó
là mê vọng, kiên quyết không
theo, phải chú ư vào niệm thật
vững chắc đi sâu vào chơn tánh.
Ta đă thấy rơ ràng tánh giác gọi
là chỉ, nên nguyện này dạy cho
ta tu chỉ quán và định, do ba
pháp hợp lại gọi là TAM MA ĐỀ.
Pháp tu này phải nhận rơ rằng tự
tánh vẫn đầy ấp tạp niệm điên
đảo của các cơi tứ sanh lục đạo,
bởi các niệm lăng xăng, phiền
năo, niệm cố chấp nên không được
chỉ định quán, không được chứng
tam-ma-địa v́ đó chỉ là h́nh
thức niệm Phật. Không được niệm
tổng tŕ là nói về một niệm sáng
suốt, niệm này sẽ là chủ các
niệm giáo hóa các tạp niệm thành
thanh tịnh sáng suốt; ḍ xét,
biết được tất cả các tà niệm
đang tính toán rơi vào các pháp
điên đảo, không để các loạn niệm
bị rớt rơi, không bị sa đọa vào
trong phiền năo, ham muốn theo
tâm của chúng sanh, không đua
đ̣i theo cuộc đời, không nghe
theo sự bày vẽ của âm thanh, sắc
tướng bên ngoài. Phải tu quán,
tu định, tu chỉ, tất cả các niệm
phải được giáo hóa v́ các niệm
gọi là chúng sinh nơi tự tâm
cũng là Bồ đề quyến thuộc của
ta, chỉ v́ mê lầm nên sa đọa, ta
phải tự cứu vớt họ, tức là tự
cứu lấy ta, các niệm đều trở lại
chính Tịnh Tánh A Di Đà đầy đủ
trí huệ, là hào quang sáng suốt,
đó gọi là “chư
Phật hiện toàn thân”. Ta
phải nhất quyết khẳng định tu
theo giới định huệ, không theo
niệm chúng sinh, theo niệm chúng
sinh là lạc vào rừng mê. Giới
định huệ là căn bản có sẵn ở mỗi
con người, ta cần tự phát huy
lấy. “Vào
tam ma địa cho đến thành Phật”
nếu trong chỉ mà thấy được các
niệm là trực chỉ, không c̣n bị
các niệm lôi cuống là chỉ thành
tựu. Khi định không c̣n niệm
điên đảo nữa là định thành tựu,
quán sát tất cả các pháp không
c̣n vướng trụ ô nhiễm trong tâm
là quán thành tựu. Nếu chỉ thành
tựu, định thành tựu, quán thành
tựu là thành Phật, đă giác ngộ
là thành tựu tổng tŕ vào
tam-ma-địa là thành Phật.
Vậy thành Phật là ai?
Là do pháp thành tựu. Phật là
nhân, pháp tu là quả là thành
tựu Phật quả. Nên có nhiều pháp
thành tựu được nhiều Phật gọi là
hằng hà sa số đức Phật, vô lượng
chư Phật ở khắp Đông, Tây, Nam,
Bắc nói rằng chư Phật ở khắp
mười phương đều thành tựu như
pháp. Các pháp đều như vậy, nếu
pháp không thành tựu mà cho là
chứng quả Phật là dối gạt chúng
sinh, là lừa đảo Phật pháp, phá
hoại Phật pháp, v́ không đầy đủ
pháp, tự ta dối gạt lừa đảo làm
hư nát tự tánh ta ; không đầy đủ
pháp v́ không có đủ nguyện lực,
không có đủ đạo đức để thành Đức
Phật. Pháp này rất sâu mầu, vốn
tự nhiên, vốn không gạt được ai,
v́ có nhân tu Phật sẽ có quả
Phật, người tầm thường không thể
biết được v́ đây là Kinh Đại
Thừa Vô Lượng Nghĩa nên phải
thường đọc tụng nghiên cứu bằng
trí huệ, bằng sự chơn thật tu. “Thường
trong định, thường cúng dường vô
lượng vô biên chư Phật vẫn không
mất định ư”, người đă thành
tựu pháp không c̣n nhớ đến thân
tướng v́ ĺa các tướng mới là
chơn thật tướng, tuy ở trong
định vẫn thường cúng dường chư
Phật. Người ở trong định đă trở
về tự tánh trí huệ nên được vô
lượng chư Phật cúng dường. Tất
cả các niệm phiền năo, sân si đă
được giáo hóa thành vô lượng đức
Phật nên tự tánh có vô lượng
niệm giác, vô lượng đức Phật
cúng dường nhập vào sự sáng
suốt, tất cả các niệm giác đều
cung kính nuôi dưỡng tánh giác.
Người thường ở trong định kiên
cố là đă cúng dường khắp chư
Phật. Tất cả các niệm đă đem sự
sáng suốt, thơm tho cúng dường
cho tự tánh Phật bằng hương giải
thoát giác ngộ. Người tu giới
định huệ hay chỉ định quán mà
thành tựu viên măn pháp là đă
đền ơn ba đời chư Phật. Vô số
chư Phật, cha mẹ nhiều đời nhiều
kiếp, Cửu Huyền Thất Tổ v́ pháp
tổng tŕ thanh tịnh đà-la-ni là
mẹ đẻ sinh ra chư Phật, cải tạo
nên niệm chơn chánh của con
người. Ta phải cung kính nuôi
dưỡng pháp là đền ơn phụ mẫu.
Chư Phật cũng là mẹ ba đời của
tất cả chúng sinh, nếu nuôi
dưỡng pháp, nuôi dưỡng tự tánh
Phật là đền ơn phụ mẫu. Đức
Thích Ca là Từ Phụ, là tự tánh
thanh tịnh, là trí huệ đại quang
minh. Cha mẹ sinh thân cũng là
ơn, nhưng là ơn trực tiếp vào
thân xác, c̣n ơn chư Phật là vô
lượng vô biên, ơn Tam Bảo không
bao giờ xa ĺa cả, ơn này đời
đời kiếp kiếp gọi là vô lượng
kiếp ta không thể quên được. V́
định kiên cố nên thường cúng
dường các đức Phật. Người thường
ở trong định kiên cố là đă cúng
dường các đức Phật. Nếu mất định
sẽ không nuôi được tự tánh là đă
bỏ quên Phật, tâm đă loạn, niệm
niệm mê muội, điên đảo, làm khổ
tất cả mọi người, làm khổ chính
ta. Tâm không định nên có phiền
năo, sân giận, không phải là chỉ
định quán, đă bỏ Phật tánh chạy
theo các niệm tà ma, ngoại đạo,
nếu không thành tựu được pháp
này cho là thành Phật hay một cá
nhân nào gọi là Phật, là niệm sự
mê muội, c̣n chấp trụ vào sự
tướng. Phật dạy rằng sau này dù
có ai đứng giữa lưng trời, có
hào quang mà giảng pháp, dù các
ông nghe, mà không nên đảnh lễ,
phải quan xét coi tâm niệm họ có
thành tựu Phật quả không? Nếu
thành Phật quả hăy cung kính,
nếu không được vậy chạy theo là
bị chúng ma lừa đảo.
Khi con
thành tựu pháp A Di Đà th́ sự
thành tựu pháp Di Đà chính con
là A Di Đà, ba đời chư Phật đều
thành tựu như vậy. Muốn thành
Phật phải y pháp Phật, cũng như
cất nhà phải có pháp thành tựu
hợp lại là : thợ xây, nguyên
liệu, cát, đá, xi-măng, tiền bạc
v.v… mới thành tựu được ṭa nhà.
Vậy có nhà cũng do pháp mà thành
tựu, thành Phật cũng do pháp mà
thành tựu, có đức A Di Đà cũng
do các pháp A Di Đà, là 48 pháp
từ nguyện lực mà thành Tịnh Đức
A Di Đà. Nên vua Vô Tránh Niệm
nhờ 48 đại nguyện mà thành tựu
Tịnh Đức A Di Đà. Nếu tất cả
chúng ta thực hành đúng pháp là
48 đại nguyện, cũng đều được
thành tựu Đức Tánh A Di Đà cả. “Các
bậc Bồ Tát ở thế giới khác nghe
danh con rồi chứng ly sanh pháp”.
Vậy các vị Bồ Tát ở đâu? Đều ở
trong mười phương ngay tự tánh
của chúng ta, có chứa tất cả
mười muôn ức cơi Phật, nếu không
có tự tánh th́ không nói đến cơi
nào, phương nào cả, nếu không có
ta th́ chẳng có pháp nào. Ngày
xưa thời đức Phật muốn thành tựu
pháp phải có đủ duyên là lục
chủng thành tựu :
Tất cả chư Tôn Bồ
Tát ở khắp mười phương thế giới các
cơi khi nghe danh hiệu A Di Đà có
nghĩa là người kiến tánh thấy được
tự tánh A Di Đà chính tâm ḿnh, đó
chính là danh hiệu, là bổn lai diện
mục, là ngọc minh châu, là Tịnh Đức
A Di Đà tự tánh của chính ta. Các
niệm đă sáng suốt, nhân danh là Bồ
Tát được tinh tấn luôn ở trong thiền
định tánh giác, b́nh đẳng, không rời
nên đắc vô sanh nhẫn được phát huy
trí huệ nên chánh giác. Các niệm Bồ
Tát đều như như gọi là Như Lai, với
nguyện lực kiên quyết bất thối nên
không c̣n niệm lầm mê, đă vào tam ma
địa ; tự quy y, tự tánh giác ngộ gọi
là đắc kỳ sở nguyện đều an trụ
đà-la-ni tam muội chánh đẳng chánh
giác. Khi Ngài Pháp Tạng đại diện
cho tất cả chúng sanh đă tṛn công
hạnh 48 đại nguyện, khi ấy các cơi
trong tâm từ mười phương quốc độ tam
thiên đại thiên thế giới đều chấn
động sáu cách, nghĩa là sáu căn đều
tịch tịnh, mắt tai mũi lưỡi thân ư
đều rung rinh, chuyển động, khi ấy
màn vô minh, tăm tối, đă phá vỡ, ánh
sáng chơn lư đă lọt vào tự tánh hiển
bày chiếu sáng, không c̣n đắm lụy,
chỉ c̣n hoa trí huệ, hoa bồ đề, hoa
mạn đà la, họa mạn thù sa, ma ha mạn
đà la, ma ha mạn thù sa, mừng vui
chào đón bậc toàn giác giữa hư không
tán dương công đức, các Bồ Tát khắp
mười phương đều khấu đầu đảnh lễ,
các tâm niệm xưa nay trôi dạt tha
phương khi tự giác đều quy về đảnh
lễ TỊNH ĐỨC A DI ĐÀ PHẬT, là cổ Phật
nhiên đặng bất sanh bất diệt.
Biện tài thuyết pháp ngang phần Pháp
Vương.
Định thần không lạc, thiền na chẳng
ĺa.
Đặng thấy thường các bậc Như Lai.
Chẳng thối lui địa vị cao sâu.
Đến đây đă hoàn
tất 48 lời nguyện là Bảo Tạng là
pháp báu thành tựu tịnh đức A Di Đà
Phật.
Nguyện trên chư
Phật, chư Bồ Tát, chư Duyên Giác,
chư Thánh Hiền, Thanh Văn, Thiên
Long Bát Bộ oai lực Tam Bảo gia tŕ
được thành tựu 48 lời nguyện chứng
đắc chánh đẳng chánh giác.
Đây là những lời
giảng của Sư phụ Thượng Minh Hạ Đức,
v́ ḷng từ bi thướng tất cả chúng
sanh, đây là việc khó làm nhưng Sư
phụ đă hoàn thành giảng giải những
điều thâm mật của 48 đại nguyện, làm
sáng tỏ soi rọi lộ tŕnh tu nhân học
Phật, phục vụ cho những ai đủ duyên
lành cùng sớm giác ngộ tu hành thành
chánh giác.
Người biên soạn
v́ sức tu c̣n hạn hẹp, học vị đơn
giản nên lời văn b́nh dị chỉ diễn
bày những điều tự ḷng ḿnh, mà lời
giảng từ trí tuệ thật sâu rộng, Phật
pháp sâu kín nên sự kết soạn c̣n
nhiều khiếm khuyết, chỉ đáp ứng tùy
thuộc vào tŕnh độ người viết, không
nói hết sự diễn bày ư chỉ của chư
Phật Tổ và lời giảng của Sư Phụ.
Nhưng nhận thấy đây là phương tiện
quư báu, cần thiết cho người tu học
Phật, nguyện đem trí lực nhỏ hẹp
này, cố gắng đóng góp vào biển pháp
bao la, nguyện đem hết tấm ḷng phục
vụ vào Phật pháp cho những duyên
lành học Phật được trở về tự tánh A
Di Đà mà Đức Từ Phụ Thích Ca đă
tuyên dạy. Người biên soạn xin nhận
mọi sự đóng góp ư kiến xây dựng cho
quyển sách thêm phần sáng tỏ.
Ta
là Bồ Tát độ ta thoát trần./.