|
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT CÁC CÔNG
TR̀NH NGHIÊN CỨU SỬ HỌC Của SỬ GIA LÊ MẠNH THÁT
Nh́n tổng quát
công tŕnh nghiên tầm, khảo cứu các văn kiện, tài liệu
cổ để tập thành các tác phẩm qua các bộ môn: Lịch Sử,
Văn Hóa, Văn Học, Âm Nhạc, Triết học, Thiền học... của
Tiến sỹ Sử gia Lê Mạnh Thát là một thành quả to lớn được
kết tinh bởi một trí tuệ siêu tuyệt, một khả năng hy hữu,
một thời gian liên lũy, lâu dài, qua nhiều thập niên. Đó
là những yếu tố mà ít người có được, để lưu lại cho hậu
thế những thành quả văn học đồ sộ và chuẩn xác trên ḍng
sử mệnh quê hương.
Là đóa hoa ưu tú, tinh ba của
dân tộc, là bậc kiệt xuất anh tài của Phật Giáo Việt
Nam, sử gia Lê Mạnh Thát đă khai quật những nguồn tài
liệu vô cùng quư giá mà suốt một ḍng thời gian hơn 2000
năm qua bị tản thất, vùi dập trong sự lăng quên. Thầy đă
khám phá những chứng tích lịch sử mà từ trước đến nay
chưa được thấy trên diễn đàn văn học nước nhà. Từ đó
Thầy đă cống hiến những tác phẩm dày công sưu khảo, đầy
giá trị sử học vào kho tàng Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam
ngày thêm phong phú và đa dạng. Chúng tôi kính giới
thiệu đến quư vị một số tác phẩm như sau:
1. Lịch
Sử Phật Giáo Việt Nam - 3 tập. 2. Tổng Tập Văn Học
Phật Giáo Việt Nam - 3 tập. 3. Toàn Tập Minh Châu
Hương Hải. 4. Toàn Tập Trần Thái Tông. 5. Toàn Tập
Trần Nhân Tông. 6. Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài.
7. Nghiên Cứu Về Mâu Tử - 2 tập. 8. Chân Đạo Chánh
Thống. 9. Lịch Sử Âm Nhạc Phật Giáo Việt Nam. 10.
Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam - 2 tập. 11. The
Philosophy of Vasubandhu. 12. Ngữ Pháp Tiếng Phạn
Từ những tác
phẩm trên, và qua lời tựa của tác phẩm Tổng Tập Văn Học
Phật Giáo Việt Nam, đă tạo nên những cảm xúc thâm trầm
cho thấy Phật Giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam đă ḥa
quyện với nhau kể từ khi Phật Giáo được truyền vào quê
hương Việt Nam cho đến ngày hôm nay. Suốt một ḍng lịch
sử hơn 2000 năm qua, Phật Giáo đă ḥa ḿnh theo vận
nước, đă thăng trầm theo thời cuộc. Chưa có một thời
gian nào, một triều đại nào mà Phật Giáo tách khỏi dân
tộc, không cùng chung vai gánh vác sơn hà xă tắc qua
những cơn nguy biến.
Trong chiều dài lịch sử đó,
Chư vị Thiền Sư, quư Phật tử đă thực sự đem tài ba lỗi
lạc của ḿnh, đem trí năo tâm linh để tài bồi xây dựng
cho kho tàng văn hóa nước nhà có được những tư liệu đồ
sộ, giá trị quư báu.
Tuy nhiên, cho đến ngày hôm
nay, công tŕnh khảo cứu vẫn chưa hoàn tất trong nguồn
tư liệu có được. Chúng ta phải dày công nghiên cứu và
đóng góp nhiều hơn nữa để khai triển và hệ thống hóa một
cách nghiêm túc trên nền tảng các chứng tích, tư liệu
đó. Chúng ta cần gia công bảo tŕ và phát triển nền văn
hóa dân tộc ngày thêm lớn mạnh, nhằm góp phần xây dựng
đời sống văn minh tiến bộ và thánh thiện cho con người
hôm nay và mai sau.
Qua lời đầu sách đă cho chúng
ta một ư thức rằng kho tàng tri thức của các Thiền sư và
Phật tử c̣n tàng trữ quá nhiều ở các ngôi cổ tự, đại
ṭng lâm. Dưới những mái chùa mà thời gian đă hóa thành
rêu phong phủ kín đă lưu xuất những bông hoa trí tuệ để
cống hiến cho nền Văn hóa đặc thù của dân tộc quê hương.
Nội dung của Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam
quyển I khảo cứu về Mâu Tử, Lư hoặc Luận và Khương Tăng
Hội.
Lời dẫn về Lư hoặc Luận: "... Trong cuộc
đấu tranh và phát triển đầy cam go gian khổ, nhưng cũng
đầy hào hùng hoành tráng của dân tộc, mỗi khi lịch sử
bước vào những giây phút thử thách gay gắt quyết liệt,
sống mái với kẻ thù, những khuôn mặt anh tài luôn luôn
xuất hiện đứng ra gánh vác trách nhiệm, góp sức đưa con
thuyền dân tộc đến bến vinh quang. Vào cuối thế kỷ thứ
II, sau dương lịch, dân tộc ta đang đối đầu với viễn ảnh
có thể bị đồng hóa vào nền văn hóa Trung Quốc, th́ một
khuôn mặt anh tài đă ra đời, đó là Mâu Tử cùng tác phẩm
Lư hoặc Luận nổi tiếng của ông."
Qua phần II, tác
giả tŕnh bày về Khương Tăng Hội - Cuộc Đời và Sự
Nghiệp:
"... Kể từ ngày Trần Văn Giáp giới thiệu
Khương Tăng Hội như một trong những nhà truyền giáo đầu
tiên của đạo Phật ở nước ta, những người viết sử về sau
đă tiếp tục đánh giá vị trí, vai tṛ cũng như những đóng
góp của Khương Tăng Hội đối với lịch sử dân tộc Việt,
không hơn không kém là một nhà truyền giáo đầu tiên.
Việc giới thiệu sai lầm này dẫn tới những hậu quả nghiêm
trọng, mà một trong những số đó là việc nghiên cứu
Khương Tăng Hội đă không được tiến hành nghiêm túc để
khám phá những đóng góp của Khương Tăng Hội không những
đối với lĩnh vực lịch sử Phật Giáo Việt Nam, mà c̣n với
nhiều lănh vực khác nữa, đặc biệt là lĩnh vực lịch sử
với truyền thuyết trăm trứng và lịch sử ngôn ngữ tư
tưởng và văn học Việt Nam. Ngày nay, với những thành quả
nghiên cứu có được, chúng ta có thể khẳng định Khương
Tăng Hội không phải một nhà truyền giáo đầu tiên của
Phật Giáo ở Việt Nam, mà là một thành tựu đầu tiên của
nền Phật Giáo ấy, để cùng với Mâu Tử h́nh thành một mặt
trận văn hóa phản công lại những trận tiến công như vũ
băo của nền văn hóa nô dịch Trung Quốc đang xảy ra vào
thời đó, và khẳng định sức sống ưu việt của nền văn hóa
Việt Nam và Phật Giáo Việt Nam."
Mỗi khi đề cập
đến Khương Tăng Hội th́ chúng ta không thể không nói đến
Lục Độ Tập Kinh. Đây là tác phẩm nổi tiếng của Ngài. Qua
công tŕnh sưu khảo và nghiên cứu Lục Độ Tập Kinh. Thầy
viết:
"... Nếu lịch sử văn học và văn hóa thành
văn thời Hùng Vương c̣n để lại cho đến nay qua một bài
Việt Ca duy nhất c̣n đang bàn căi th́ lịch sử văn học và
văn hóa Việt Nam sau thời Hai Bà Trưng và trước Lư Nam
Đế có thể được nghiên cứu qua một loạt những tác giả lớn
như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, Đạo Hinh, Đạo Cao, Pháp
Minh và Lư Miễu, trong đó nổi bật nhất là Khương Tăng
Hội với Lục Độ Tập Kinh.
Lục Độ Tập Kinh là văn
bản đầu tiên và xưa nhất ghi lại t́nh tiết 100 trứng của
truyền thuyết khởi dân tộc tính. Lục Độ Tập Kinh cũng là
tác phẩm đầu tiên và xưa nhất ngoài bài Việt Ca, c̣n bảo
lưu được một số trên 15 trường hợp các cấu trúc ngữ học
theo văn pháp tiếng Việt và cung cấp một số lượng đáng
kể các tá âm cho việc nghiên cứu tiếng Việt cổ và phục
chế lại diện mạo tiếng nói ấy cách đây 2000 năm. Lục Độ
Tập Kinh c̣n là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng
lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước,
mất nước v.v... làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt
Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục Độ Tập Kinh
c̣n là văn bản thiết định những chủ đề tư tưởng lớn của
Phật Giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát triển tư
duy Phật Giáo Việt Nam, mà thành quả đầu tiên phát hiện
cho đến nay là sáu lá thư trao đổi giữa Lư Miễu, Đạo Cao
và Pháp Minh vào khoảng những năm 450.
Lục Độ Tập
Kinh v́ thế là một tác phẩm văn học lớn không chỉ của
lịch sử Phật Giáo Việt Nam mà c̣n là lịch sử văn học tư
tưởng và văn hóa dân tộc."
Để thấy rơ hơn về nội
dung tư tưởng Lục Độ Tập Kinh, đủ nguồn cảm hứng và khả
năng truyền tải giá trị cao thượng, xây dựng đời sống
dân sinh thăng hoa trên giai tầng tâm linh mà c̣n là bản
kinh ḷng, lời kinh ruột của Bồ Tát đạo, Bồ Tát hạnh và
Bồ Tát nguyện:
"... Lục Độ Tập Kinh như nhan đề
chỉ ra, là một tập kinh tŕnh bày sáu hạnh vượt bờ của
Bồ Tát, tức bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí tuệ. Lư tưởng Bồ Tát trong thời kỳ đầu của
Phật Giáo ở nước ta, do thế, đă được xiển dương mạnh mẽ,
đề cao những con người có ḷng thương rộng lớn đối với
tất cả người vật (bố thí), tự ḿnh kiểm soát lấy ḿnh
(tŕ giới), kiên tŕ chịu đựng gian khổ, khó khăn (nhẫn
nhục), năng động phấn đấu hoàn thành mục tiêu đă định
(tinh tấn), b́nh tĩnh (thiền định) và sáng suốt (trí
tuệ). Mẫu người lư tưởng của Phật Giáo, mẫu người có
ḷng thương, có kỷ luật, kiên tŕ, năng động, b́nh tĩnh
và sáng suốt, được định h́nh và kế hoạch thể hiện mẫu
người này trong cuộc sống được vạch ra thông qua khuôn
khổ các câu chuyện tiền thân của Đức Phật, cho các Phật
tử Việt Nam thời Khương Tăng Hội và trước đó."
Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển II, Thầy giới
thiệu một số tác dịch phẩm của Khương Tăng Hội như: Cựu
Tạp Thí Dụ Kinh, Pháp Kính Kinh Tự, An Ban Thủ Ư Kinh,
Tạp Thí Dụ Kinh và sáu lá thư, Lư Miễu, Đạo Cao và Pháp
Minh.
Ngang qua các bản dịch của Cựu Tạp Thí Dụ
Kinh, Pháp Kính Kinh Tự và An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải...
chúng ta thấy nội dung là những truyện cổ tích dân gian
hướng con người trên việc hành thiện, trong nhân nghĩa
thuần hậu và ư thức tôn vinh phẩm hạnh con người nhằm
xây dựng một đời sống chân hạnh phúc trong cuộc đời này.
Chính những truyện cổ tích này đă mang một nội dung giáo
pháp nhân quả, nghiệp báo...:
"... Truyện một sự
tích dưa hấu thực chất là một thuyết giảng về giáo lư
nhân quả "ở hiền gặp lành" của Phật Giáo dân gian. Nó
gồm hai đoạn. Đoạn 1 kể An Tiêm gốc là một nô tỳ, lấy
được người con gái nuôi của Vua Hùng, ăn mặc sung sướng,
của cải giàu có. Có người khen, An Tiêm nói đó là "vật
tiền thân" của An Tiêm. Vua Hùng nổi giận, đày An Tiêm
ra đảo. Đoạn 2 kể, Tiêm ở đảo, nhờ chim đem hạt dưa hấu
đến, trở nên giàu có và được gọi về..." Và c̣n rất
nhiều những cốt truyện tương tự như vậy được tŕnh bày
trong Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, một cách khuyến tấn con người
phải biết ăn ở hiền lành, có thảo có ngay, sống đời đạo
đức.
Về mặt Triết học kinh viện của giai tầng tri
thức, của bậc thượng căn, thượng trí chúng ta thấy trong
An Ban Thủ Ư Kinh Chú Giải lời văn khúc chiết, rành rơi,
âm hưởng trùng điệp vang ngân bất tận, khi định nghĩa về
tâm, Khương Tăng Hội đă viết:
"Tâm Chi dật đảng,
vô vi bất hiệp hoảng hốt phảng phất, xuất nhập vô
gián thị chi vô h́nh, thính chi vô thanh nghênh
chi vô tiền, tầm chi vô hậu thâm vi diệu tế, h́nh vô
ty phát phạn thích tiên thánh, bất năng chiếu minh
mặc chủng vu thử, hóa sinh hồ bỉ phi phàm sở đổ, vi
chi ấm giả..."
Đây là bản
kinh cốt lơi, làm chuẩn đích cho ai có ḷng nghiên tầm,
khảo cứu để hướng tâm trên con đường đạo. Nhưng đồng
thời cũng chú trọng đến các lănh vực như nghệ thuật, âm
nhạc, văn học, Phật Giáo, chính trị, tư tưởng.... Qua
bộ môn âm nhạc, Thầy viết:
".... Về vấn đề âm
nhạc, những đóng góp của sáu lá thư ấy lại càng đặc sắc
và quư giá hơn. Quư giá, bởi v́ chúng là những văn kiện
xưa nhất và duy nhất nói đến sự hiện diện một các không
chối căi ở nước ta những "ca tán tụng vịnh".
Từ
đó, cho thấy tối thiểu vào đầu thế kỷ thứ V, âm nhạc
Việt Nam và âm nhạc Phật Giáo Việt Nam gồm những thứ ǵ.
Đặc sắc, bởi v́ nếu phối hợp báo cáo âm nhạc vừa nói với
những h́nh ảnh nhạc cụ trên những bệ đá của nền nghệ
thuật Tiên Sơn, chúng ta có thể rút ra những kết luận
rất lôi cuốn về lịch sử âm nhạc Việt Nam và lịch sử âm
nhạc Phật Giáo Việt Nam, đồng thời giải thích cho thấy,
tại sao trên những bệ đá ấy chúng ta chỉ có mười nhạc
thần và chín thứ nhạc cụ tấu nhạc, để ca ngợi cúng dường
người giác ngộ."
Từ những tư liệu có được của
thời gian phôi thai, thuở ban sơ, trên ḍng lịch sử của
dân tộc, qua các tác phẩm đă xuất bản, Tiến sỹ Sử gia Lê
Mạnh Thát đă công bố một cách minh nhiên và sẽ tiếp tục
cống hiến những sưu khảo nhiều hơn nữa để hoàn thành sứ
mạng của một Sử gia thời đại.
Công tŕnh khảo cứu
ấy, qua Tổng Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam quyển III,
Thầy đă dănh trọn quyển để in lại tác phẩm Thiền Uyển
Tập Anh, chứng tỏ tác phẩm này đă nói lên vai tṛ vô
cùng quan trọng trên lănh vực văn học nước nhà và c̣n
mang nhiều sắc thái độc đáo của lịch sử Phật Giáo đời
Trần:
"... Thiền Uyển Tập Anh có một cống hiến
thật đặc sắc, bởi v́ nó là một tác phẩm đời Trần duy
nhất c̣n lại, chứa đựng nhiều tên ấp, tên làng, tên
quận, tên phủ và tên Châu của đời Lư cũng như đời Trần
hơn bất cứ một tác phẩm nào khác, nếu hoàn thành, có thể
nói ta đă vẽ lại được một phần bản đồ địa lư chi tiết
của nước ta vào thời Lư một cách cụ thể nhờ vào tên các
ngôi chùa gắn liền với các tên đất ấy."
Đó là
trên b́nh diện địa lư, c̣n trên lănh vực văn học, Thiền
Uyển Tập Anh đă đóng một phận vị có tầm vóc ách yếu trên
nền học thuật và thiền học ngang qua tinh thần tu chứng
của Chư vị Thiền sư Tổ đức:
"... Rơ ràng, đối với
lịch sử dân tộc ta, Thiền Uyển Tập Anh đóng một vai tṛ
hết sức quan trọng và thiết yếu. Thiếu nó, th́ cả mấy
trăm năm lịch sử văn học dân tộc phai mờ thất tán đi
không phải ít.... và vai tṛ ấy, thực tế, có một tầm
quan trọng hơn nhiều, khi ta nhớ rằng nó tự bản chất là
một bộ sử chuyên môn về Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam.
Mà Phật Giáo Thiền Tông Việt Nam vào mấy trăm năm ấy,
nếu không nói là hệ tư tưởng chiếm ưu thế trong giai
đoạn lịch sử đó."
Một Vạn Hạnh Thiền Sư đă hộ
quốc an dân, xây dựng một triều đại vàng son cho dân cho
nước, mà tinh thần tu chứng đă thể hiện qua bài kệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh
thu hựu khô Tùy vận thạnh suy hưu bố úy Thịnh suy
như lộ thảo đầu phô.
Người đọc các
văn kiện lịch sử, các chứng tích văn học, các nền văn
hóa dân tộc và Phật Giáo Việt Nam qua Tổng Tập Văn Học
Phật Giáo Việt Nam 3 quyển sẽ thấy được sự lịch lăm uyên
bác đầy thực nghiệm của một sử gia đương đại, chỉ thu
ḿnh trong 3 quyển văn học ấy không thôi cũng đủ để
chứng minh cho chúng ta thấy đâu là tri thức không
chướng ngại, đâu là tài năng tập thành xuyên suốt thời
gian không ngằn mé, và đâu là vượt thắng mọi chướng
duyên để kiện toàn nguồn tư tưởng hăn hữu.
Qua bộ
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, bằng cái nh́n tổng thể của
một sử gia, Thầy đă phân chia các chặng đường lịch sử
không giống các nhà nghiên cứu khác. Trước tiên bằng
nhận định xác thực thế nào là lịch sử? Và cấu trúc lịch
sử được vận hành như thế nào qua mỗi thời đại, qua từng
lớp người của bối cảnh lịch sử đó:
"... Đối với
chúng tôi, lịch sử là một vận động có ư thức của con
người. Riêng đối với các tư trào văn hóa như Phật Giáo
th́ lịch sử như một cuộc vận động có ư thức lại càng rơ
nét hơn.
Lịch sử vận động trên căn bản tương tác
của nhiều cấu trúc khác nhau. Có cấu trúc hạ tầng, có
cấu trúc thượng tầng và những cấu trúc hàng ngang, hàng
dọc đan xen lẫn nhau, trong đó cấu trúc hạ tầng tất
nhiên giữ vai tṛ chủ chốt, nhưng không phải là tuyệt
đối. Xuất phát từ một cái nh́n như thế, quan điểm của
chúng tôi là nh́n lịch sử Phật Giáo như một bộ phận của
cuộc vận động chung của dân tộc."
Từ nhận định và
lập trường trên, Thầy đă chia ḍng lịch sử Phật Giáo
Việt Nam 2000 năm thành 5 thời kỳ:
"Đó là thời
kỳ Phật Giáo quyền năng, thời kỳ Phật Giáo vận động độc
lập, thời kỳ Phật Giáo thế sự, thời kỳ Phật Giáo cư trần
lạc đạo và thời kỳ Phật Giáo quần chúng... Mỗi thời kỳ
này có một nét đặc trưng nổi bật của nó, mà ngay cả sự
đổi thay của các triều đại và sự tồn tại những ḍng
Thiền khác nhau không có một ảnh hưởng to lớn nào. Lịch
sử tuy là một vận động có ư thức của con người, nhưng
đồng thời cũng có quy luật của nó. Mà đă nói đến quy
luật tức là nói đến tính tất yếu, mà mỗi ư chí của cá
nhân không thể cưỡng lại được."
Đọc qua lịch sử
Phật Giáo Việt Nam 3 tập dày khoảng 2500 trang, chúng ta
thấy hệ thống tư liệu từng niên đại, từng nhân vật, từng
cốt truyện được thẩm định rơ nét, chính xác để định vị
trí chứng nhân của ḍng lịch sử. Điều này chúng ta thấy
trong phần Pháp Thuận và bài thơ Thần Nước Nam Sông Núi.
Từ trước đến giờ theo tính truyền khẩu được luân lưu qua
từng thế hệ, chúng ta cho rằng bài thơ Thần Nước Nam là
của Lư Thường Kiệt trong cuộc chiến chống ngoại xâm năm
1076. Nhưng qua các tư liệu chứng minh thời bấy giờ, bài
thơ Thần Nước Nam đó được coi là hiện hữu dưới thời Vua
Lê Đại hành, trong cuộc chiến tranh năm 981:
Bài
thơ Thần Sông Núi 1. Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư
Tiệt nhiên dĩ định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai
xâm phạm Nhử đẳng hành khan thủ bại hư.
2. Nam Quốc
Sơn Hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhử đẳng hành khan thủ
bại hư.
3. Nam Quốc
Sơn Hà Nam đế cư Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư
Như Kim Bắc lỗ lai xâm phạm Hội kiến hải trần tận tảo
trừ.
4. Nam Quốc
Sơn Hà Nam đế cư Hoàng Thiên dĩ định tại thiên thư
Như Hà Bắc lỗ cảm xâm phạm Hội kiến phong trần tận
tảo trừ.
Qua các luận
cứ được thẩm định, để thấy được bài thơ Thần phát xuất
từ đâu:
"... Theo chúng tôi, ta nên trả bài thơ
Thần trên về cho cuộc chiến tranh 981 và chúng ta có đủ
dữ kiện để làm như thế. Đây không phải là một kết luận
mới. Hai bộ sử viết bằng tiếng Việt vào thế kỷ thứ 16 và
17, là Việt Sử Diễn Âm và Thiên Nam Ngữ Lục đều thống
nhất có cùng một kết luận. Việt Sử Diễn Âm đă dành một
đoạn dài nói về lai lịch của bài thơ này."
Đến
đây, chúng ta thấy Toàn Tập Toàn Nhật Quang Đài là một
tác phẩm sưu khảo và tác biên về cuộc đời và sự nghiệp
của Toàn Nhật. Một cách sơ lược về sự nghiệp văn học
chúng ta thấy trong phần Tam Giáo Nguyên Lưu Kư, Viên
Quang Tự Sa Môn Toàn Nhật Pháp hiệu Quang Đài, Ngài đă
thể hiện tinh thần Tam Giáo Đồng Nguyên qua những vần
thơ song thất lục bát:
"Thuở trời Xuân say nhuần
mầu đạo Trót nom theo Tam giáo chân tôn Am mây gởi
dấu thong dong Tu thân ngày tháng sửa ḷng hôm mai
Trải xưa định vị tam tài Là trời, người, đất muôn
loài nổi sinh."
Qua phần Tống
Vương truyện đă thể hiện một nhân sinh quan vô cùng an
nhiên tích cực, cho thấy Toàn Nhật là một trong những
nhà thơ, nhà văn, nhà tư tưởng lớn của dân tộc Việt.
Tống Vương truyện đă dệt nên một truyện t́nh thơ mộng
của một Thái tử, con vua, với người con gái mộc mạc làng
chài lưới miền sông nước:
"... Long phi vân hán,
Phụng nhiễu quang minh Ứng trinh tường xảy gặp điềm
lành Vừng đẩu tú trổ sanh thụy lạ Có người Giang
hạ Tánh thật ngư ông Việc vơng la lưới tổ (chài)
tôm Nghề hà hải Giang Tân Sở trú Kết duyên phu phụ
Hiệp bạn Châu Trần Vô nam nhi kế tự tôn thân Sinh
nữ tử nối ḍng tổ phụ..."
Và cuối cùng
cái hậu của cốt truyện là Vua cha đi tu, giao ngôi Vua
lại cho con:
"... Vua đà cao kỷ Tác lớn trên
đầu Nhượng vị cho con Sửa sang chính sự
......... Hồi đầu Phật Tổ Thế phát tu hành Con
nối ngôi truyền dơi đạo thanh Muôn đời để lưu danh
thiên hạ."
Những vần thơ
ấy đă đề cao tinh thần dân chủ, tôn trọng tinh thần b́nh
đẳng giữa loài người, không phân biệt giai cấp, ngôi vị.
Giá trị ở đây là tư cách đạo đức nhân luân là nền tảng
nhân bản được xây dựng trong tâm tư của mỗi con người.
Dù người đó có địa vị, quyền cao, tước trọng nơi triều
đ́nh, hay lớp người dân giả b́nh dị vẫn được tôn trọng
trong ư niệm hướng thượng. Từ đó, chúng ta thấy Lục Tổ
Truyện Diễn Ca, Toàn Nhật đă hướng dẫn con người trên
đường t́m cầu Chân lư và cuối cùng thành đạt đạo quả
giác ngộ. Đó là h́nh ảnh của Lục Tổ Huệ Năng, Người mang
đá giă gạo suốt bao năm tháng, nhưng ư vị giác ngộ vẫn
miên viễn trường tồn:
"... Đêm ngày chuyên niệm
Di Đà Chịu phần giă gạo vậy ḥa tám thu Bảo làm
cho thấy công phu Vai mang khối đá chuyên tu đến ngày
Phật Tổ khổ hạnh lắm thay Sáu năm tuyết lănh mới
thành Kim thân."
Đó là giá trị
của sự tu tập, mà bằng cái nh́n của Toàn Nhật lao tác là
một thể thức của Thiền định - gánh nước, bửa củi, giă
gạo. Từ tự tướng của chân tay đă thể hiện được tánh giác
ngộ, trong sáng nơi tâm thanh tịnh thuần khiết của Phật
tánh thường hằng như nhiên bất động"
"... Ca Sa
b́nh bát pháp thiền Bèn trao phú chúc về miền Thiền
Châu Dặn ḍ y chánh trước sau Mấy lời Phật Tổ thẳm
cao nhiệm mầu Huệ Năng lễ tạ khấu đầu Lạy từ Ḥa
thượng sẽ hầu lui ra."
Bước sang Toàn
Tập Minh Châu Hương Hải được sưu khảo và tác thành qua
những tư liệu có được. Thiền Sư là một nhà Văn hóa,
Triết gia, Tư tưởng gia của Phật Giáo và dân tộc Việt
Nam. Qua tác phẩm này, chúng ta thấy công tŕnh văn học
đồ sộ đă được lưu lại qua các tác dịch phẩm, hoặc chú
giải như: Giải Kim Cương Kinh Lư Nghĩa, Giải Di Đà Kinh
Sớ Sao, Giải Tâm Kinh Ngũ Chỉ, Sự Lư Dung Thông, Giải
Pháp Hoa Kinh, Giải Sa Di Giới Luật, Soạn Quán Vô Lượng
Thọ Kinh Quốc Ngữ ... tất cả trên 20 tác phẩm, gồm 30
quyển.
Là một nhà tư tưởng lớn của thế kỷ 17,
Thiền Sư đă xây dựng một ngữ pháp để giải và dịch Kinh
mới mẻ nhất, mà không theo lối cổ dịch của những thế kỷ
15, 16. Lối dịch này được diễn tả, giải thích Kinh Văn
phóng khoáng theo cái nh́n và sự hiểu biết của ḿnh mà
không dịch sát chữ, sát nghĩa, cựu dịch. Do cách dịch
thuật sáng tạo này mà Thiền Sư đă thật sự đóng góp một
gia tài văn học đồ sộ cho nền lịch sử văn học tiếng
Việt. Một thí dụ điển h́nh qua lối dịch giải đó nơi bài
Kệ Kinh Kim Cương:
Nhất thiết hữu vi pháp Như
mộng huyễn bào ảnh Như lộ diệc như điển Ứng tác
như thị quán.
"Hết thảy pháp
hữu vi là trên tự thiên địa tạo hóa, dưới đến nhân gian
vạn vật, dầu sanh lăo bệnh tử, giàu có sang hèn, sĩ nông
công thương, mọi loài sắc vật, dầu nhẫn xanh vàng thâm
trắng thô tế thanh trọc, dầu có dầu không, dầu hư dầu
thiệt, sâu cạn, thấp cao, ách thật vọng tâm khởi diệt.
Hết thảy thiện ác muôn pháp cũng là hữu vi vậy..."
Tóm lại Toàn tập Minh Châu Hương Hải là một công
tŕnh to lớn trong chốn Thiền gia và nhân gian, là một
nền văn học, tư tưởng vô giá cho thế hệ hậu sinh, để có
cái nh́n, suy tư chín chắn trên diễn đàn văn học của Chư
vị Lịch Đại Tổ Sư c̣n lưu truyền đến ngày hôm nay và
ngàn sau.
Bằng thực chứng giá trị bề dày lịch sử
văn học tư tưởng Phật Giáo và dân tộc Việt Nam xuyên
suốt qua tác phẩm Toàn Tập Trần Nhân Tông, một tác phẩm
toàn bích, trên hai phạm trù thế gian và xuất thế gian
của kẻ sỹ.
Nói đến Vua Trần Nhân Tông là nói đến
bậc xuất trần vi thượng sỹ. Nói đến bị Bồ Tát hóa thân
vào đời, ḥa quang đồng trần để độ sinh. Nhà Vua đă đem
tài danh thật đức của ḿnh để an bang tế thế, xây dựng
nước nhà thanh b́nh thạnh trị. Dân tộc được ấm no, quốc
gia phú cường để từ đó thăng hoa trong cuộc sống tâm
linh là chuyển mê khai ngộ, đổi phàm thành thánh.
Toàn Tập Trần Nhân Tông đă phô bày một cách thật rơ
nét qua Vương vị và Thánh vị của nhà Vua. Là Vương vị,
nhà Vua là anh hùng dân tộc đă viết nên ḍng sử oai hùng
bảo vệ giang sơn gấm vóc, quét sạch ngoại xâm ra khỏi bờ
cơi, xây dựng một nền ḥa b́nh chân chính cho dân cho
nước. Công cuộc bảo vệ giang sơn này, qua chương III và
IV, Vua Trần Nhân Tông và cuộc chiến tranh bảo vệ quốc
gia dân tộc năm 1285, 1288 qua các trận Nội Bàng, Vạn
Kiếp, B́nh Than, Thăng Long, Hàm Tử, Chương Dương, Như
Nguyệt... chúng ta ngưỡng mộ tài thao lược, anh hùng túc
trí của nhà vua hy sinh v́ dân v́ nước. Là Thánh vị nhà
Vua đă bỏ ngai vàng điện ngọc để đi tu và thành Tổ Đức.
Nhà Vua là Sơ Tổ của Thiền Phái Trúc Lâm, một ḍng Thiền
thực thụ của Phật Giáo Việt Nam. Nhà Vua đă đề ra tư
tưởng Cư Trần Lạc Đạo và được coi là cốt lơi, yếu chỉ
ḍng Thiền:
"Trần tục mà nên, phú ấy càng yêu hết
sức, Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá đồ công."
Hay là:
"Sạch giới ḷng, dồi giới tướng, Nội
ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm. Ngay thờ Chúa, thảo
thờ Cha, Đi đổ mới trượng phu trung hiếu."
Và cuối cùng
là Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam gồm 2 tập.
Đây là một công tŕnh khảo cứu tập thể của quư Thầy học
tăng trong các Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, Quảng
Hương Già Lam. Nhưng phần chủ biên và hoàn thành Từ Điển
vẫn là công tŕnh của Thượng Tọa Tuệ Sỹ và Sử Gia Lê
Mạnh Thát đồng tác giả.
Bộ Từ Điển Bách Khoa Phật
Giáo Việt Nam được có mặt ngày hôm nay, dù rằng chỉ có
được 2 tập là A Tập I, từ A đến A Di Đà và A Tập II, từ
A Di Đà đến A Di Đà Tự, chưa hoàn tất toàn bộ Từ Điển
Phật Học. Nhưng, rơ thật là một sự nỗ lực vượt bậc để
cống hiến cho sự t́m hiểu tra cứu về từ ngữ Phật pháp và
cũng nói lên tâm nguyện chí thành của Chư vị Tôn Túc có
cái nh́n sâu xa, suốt chặng đường lịch sử văn học Phật
Giáo hiện đại.
Bằng việc làm của đàn hậu duệ,
bằng khả năng sơ lậu của người học tṛ mang khai, giới
thiệu các tác phẩm của Thầy, Sử gia Lê Mạnh Thát, chúng
tôi có cảm tưởng như làm công việc vốc muối bỏ biển, đội
đá vá trời. Tuy nhiên khi nghĩ đến công ơn của bậc giáo
thọ sư tài bồi huấn dục qua bao năm tháng, nên mạo muội
tự nhủ ḿnh trải tấm ḷng thành, ngơ hầu có chút phần
nào nghĩ về Thầy trong muôn một. Do vậy, nên chỉ có đôi
lời b́nh dị để nói lên công tŕnh khảo cứu ngàn đời của
ḍng lịch sử văn học nước nhà mà Thầy là một sử gia trác
việt anh tài, đă cấu trúc thành những chuỗi chứng tích,
tư liệu ḍng lịch sử đó. Trước khung trời kiến văn quảng
bác, trí tuệ siêu nhiên của Thầy và những kho tư liệu vô
giá của lịch sử văn hóa, chỉ biết ḿnh đang là kẻ ḍ dẫm
lần bước. Ngưỡng mong Thầy từ bi lượng thứ.
Kính
mong Chư Tôn Đức, Chư vị thức giả cao minh, rộng ḷng
cảm thông, hỷ xả cho những điều thất thố.
Nam Cali,
11 tháng 6-2005 Nguyên Siêu
|
|
Tóm
tắt: Chùa
Dâu là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam.
Đây cũng là nơi mà rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu
đến t́m hiểu và nghiên cứu. Mặc dù đă có không ít bài
viết và tác phẩm viết về chùa Dâu, nhưng đề tài: “chùa
Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt
Nam” là một sự tiếp cận mới mà trước đó chưa có công
tŕnh nào nghiên cứu. Với đề tài này người nghiên
cứu không chỉ cho người đọc thấy được bao quát về
những đặc điểm chùa Dâu, Phật giáo dưới góc độ
lịch sử, văn hóa, lâu đời từ khi phật giáo
bắt đầu du nhập vào nước ta cho tới tận ngày nay, mà c̣n
tổng hợp, phân tích quá tŕnh chuyển biến giữa tín
ngưỡng bản địa từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam.
Đây là một vấn đề có ư nghĩa rất lớn khi chúng ta đang
sống trong một đất nước mà hầu như không có sự xung đột
tôn giáo và sắc tộc, nghiên cứu vấn đề này vừa có
ư nghĩa khẳng định nền văn hóa Việt Nam là rất đậm đà
bản sắc dân tộc những cũng luôn “mở” để đón nhận những
yếu tố văn hóa mới một cách hết sức linh hoạt. Chính sự
tiếp nhận linh hoạt đó đă không ngừng làm mới mà không
mất đi bản chất của văn hóa Việt Nam đồng thời cũng là
một yếu tố tích cực để chống lại những yếu tố văn hóa
lạc hậu cổ hủ.
Sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo là
một quá tŕnh lâu dài, nó diễn ra liên tục và thay
đổi về cách thức cùng với sự
thay đổi của lịch sử. Sự chuyển biến tín
ngưỡng tôn giáo sẽ không dừng lại cho đến
khi các tôn giáo, tín ngưỡng không c̣n
tồn tại hoặc sự phát triển của sự vật
là độc lập với nhau. Nhưng thực tế
th́ điều này không và chưa thể diễn ra, như thế nó
càng khẳng định sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo là
một quá tŕnh vận động liên tục với nhiều h́nh thức và
cách thức khác nhau. Ở Việt Nam, sự chuyển biến, sự ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các tôn giáo và tín ngưỡng là
rất phổ biến, trong đó quan trọng hơn cả
là sự chuyển biến ảnh hưởng lẫn nhau giữa Phật
giáo - một yếu tố văn hóa ngoại nhập với các yếu
tố văn hóa tín ngưỡng bản địa.
Chùa Dâu là một trong những nới tiếp
nhận đầu tiên của Phật giáo, chính v́ vậy đây cũng là
nơi đầu tiên diễn ra sự
chuyển biến tín ngưỡng tôn
giáo giữa Phật giáo với
các tín ngưỡng bản địa, mở đầu cho sự chuyển biến
trên toàn cơi Việt Nam. Sự chuyển biến đó đă đặt
ra cho chúng ta những câu
hỏi rằng những cơ sở nào
để Phật giáo và các tín
ngưỡng bản địa có thể chuyển biến với nhau và chuyển
biến như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi ấy ta cần t́m
hiểu những vấn đề sau:
- Đặc điểm chùa Dâu
- Đặc điểm Phật giáo
- Những biểu hiện của sự chuyển biến
tín ngưỡng tôn giáo.
1. Đặc điểm chùa Dâu
Đặc điểm thứ nhất là ở chùa dâu là
thờ các hiện tượng tự nhiên. Nói đến chùa ai không nghĩ
đến thờ phật, ở chùa Dâu người ta
cũng thờ phật, nhưng phật ở đây không phải là một
Thích ca như thường lệ, ít ai đến chùa Dâu mà có thể bắt
gặp được một h́nh tượng của phật Thích ca, thậm chí nếu
có th́ cũng chỉ được thờ ở ban phụ. Ở đây người ta đă
h́nh tượng hóa những hiện tượng của tự nhiên như mây,
mưa, sấm, chớp thành những con người cụ thể và tạc tượng
để thờ. Các hiện tượng tự nhiên này đă được nhân dân
thần điệu hóa cùng với sự cộng hưởng của Phật giáo khi
được du nhập vào Việt Nam th́ các hiện tượng
tự nhiên này bỗng chốc trở lên có h́nh khối,
có tính cách và được nhân dân tôn thờ như một con
người cụ thể.
Có hiện tượng thờ các
hiện tượng tự nhiên như vậy là do mây,
mưa, sấm, chớp là những yếu tố không
thể thiếu đối với những người dân nông nghiệp. Đó
là bốn yếu tố quan trọng biểu hiện khi trời
có mưa, mà mưa th́ có nước tưới cây trồng. Họ thờ các
hiện tượng trên tức họ đă hiểu được rằng
nguồn nước là rất quan trong đồi với
sự sống. Với một nền nông nghiệp c̣n sơ khai
th́ điều kiện “mưa thuận gió ḥa” là
rất quan trọng.
Không chỉ thờ các hiện
tượng tự nhiên như trên mà nhân dân nới đây
c̣n thờ thần đất thông qua h́nh tượng của
một Thạch Quang phật. Đất đai là yếu tố quan trọng hàng
đầu của một cuộc sống định cư và làm nông nghiệp lúa
nước. Thờ các hiện tượng tự nhiên như trên đó là một
điểm khác biệt quan trọng của chùa dâu, đồng thời nó
cũng thể hiện sự gần gũi giữa con người với tự nhiên.
Đặc điểm thứ hai là việc thờ tự ở
chùa dâu thiên về nữ tính. Có lẽ ít có một dân tộc nào
có đối tượng tín ngưỡng là phụ nữ
nhiều như ở Việt Nam. Đi suốt từ Bắc
chí Nam, gần như ở địa phương nào cũng có một đền thờ Bà
hoặc Cô. Đầu tiên phải kể đến hệ thống Tứ Pháp ở miền
Bắc thờ Bà Pháp Vân (bà dâu), Pháp Vũ (bà đậu), Pháp Lôi
(bà tướng), Pháp Điện (bà dàn). Sau đó là
Cửu Thiên Huyền Nữ, đến Bà Chúa Liễu Hạnh, Diêu Tŕ
Thánh Mẫu, Bà Chúa Ba, Bà Đá, Bà Đanh. Ở Nha Trang người
ta thờ Bà Thiên Yana, ở Sài G̣n người ta thờ Ngũ hành
Nương Nương, rồi Bà Đen ở Tây Ninh, Bà Chúa Xứ ở Châu
Đốc… Đâu đâu chúng ta cũng thấy các Bà, các
Bà ở đây đều là những biểu tượng linh thiêng nên
không phải là những cô gái trẻ đẹp mà đều là những người
lớn tuổi, quyền uy, có năng lực làm cho mùa
màng tươi tốt, giúp cho các gia đ́nh con đàn
cháu đống, hay ban cho những
đứa con hiếm muộn. Đối với một
nền văn hóa nông nghiệp thuần
túy, hiện tượng này cũng dễ hiểu. Đối với ngư nghiệp th́
người ta cũng có một đối tượng tôn thờ, như ở Long Hải
có Dinh Cô hàng năm lễ hội cũng rất đông.
Thật ra, người Việt Nam xem tất cả
các thần linh là các bà, khuynh hướng đề cao nữ tính ấy
hoàn toàn phù hợp với nền
văn minh nông nghiệp sau khi
đă kết hợp nhuần nhuyễn thuyết âm
dương. Các bà đă có một vị trí linh thiêng trong ḷng
người dân, tất cả đều xem các bà như mẹ, và nhân dân đă
nâng lên gọi là đạo Mẫu. Từ nền tảng này, bất kỳ một
tín ngưỡng ngoại nhập nào
vào đến Việt Nam đều được bản
địa hóa và thành tín ngưỡng Việt
Nam. Bồ tát Quán Thế Âm trở thành Phật Bà cũng từ lư do
đó.
Như vậy việc thờ các phật là nữ là
h́nh thức được nâng cao lên từ tư tưởng trọng nữ, thờ
thần nữ vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc Việt Nam
mà chùa Dâu là một trong những số đó. Đó cũng
là lư do sự chuyển biển giữa Phật giáo với
các tôn giáo bản địa không chỉ diễn ra
ở vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) mà
c̣n diễn ra phổ biến khắp toàn cơi Việt Nam.
2. Cơ sở của phật giáo
Thứ nhất, đạo Phật là một tôn
giáo cho nên không tránh khỏi những yếu tố tự nhiên thần
bí. Trong đạo Phật cũng tồn tại những phép lạ, tồn tại
những nhân vật có sức mạnh siêu nhiên. Đây cũng là
điểm nổi bật của các tôn giáo nhằm thu hút
mọi người, nó làm cho mọi người tin rằng họ sẽ
được bảo hộ bởi một đấng siêu nhiên nào đó.
Thứ hai, đạo Phật tôn trọng con người
và không phân biệt đối xử với phụ nữ. Đây là một đặc
điểm rất phù hợp với quan niệm sống của dân tộc Việt
Nam, chính v́ vậy mà khi Phật giáo vào Việt Nam đă nhanh
chóng nhận được sự đón nhận của nhân dân Việt Nam.
Thứ ba, đạo Phật chỉ cho con người
ta phải sống gấn gũi thương yêu, giúp đỡ lẫn
nhau.
Thư tư, đạo Phật
rất tôn trọng sự sống. Không
sát sanh, ăn chay, là
những điều tượng trưng cụ thể
cho đặc điểm ấy. Đạo Phật xem sự sống
là trên tất cả, cho nên
tôn trọng sự sống không chỉ bằng cách giúp đỡ nhau để
sống mà c̣n phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống.
Thứ năm, đạo Phật chỉ
thấy và chỉ nói những sự
thật mà sự vật có, không
thêm không bớt. Đạo Phật cấm đoán những tín ngưỡng và
những hành động không phát sinh từ sự kém hiểu biết của
con người.
Thứ sáu của đạo Phật là xác nhận
"người là trung tâm điểm của xă hội loài người". Trên
thế giới loài người này không có ǵ tự nhiên sinh ra hay
từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt
động của con người tạo thành. Năng lực
hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả. Tất cả
khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người
dă man hay văn minh.
Thứ bảy là đạo
Phật dạy phải "tự lực giải
thoát". Con người mới là phải tự
rèn luyện, để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Với
một số những đặc điểm trên của Phật giáo cho chúng ta
thấy rắng giữa Phật giáo và các tín ngưỡn bản địa là rất
gần gũi với nhau, cùng hướng đến để xây dựng một cuộc
sống con người tốt đẹp hơn, văn minh hơn.
3. Những biểu hiện của sự
chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo.
Với những đặc điểm như trên của chùa
Dâu và Phật giáo cho chúng ta thấy chúng có một sự
tương đồng lớn. Chính sự tương đồng ấy đă
làm cho các tin ngưỡng và tôn giáo này cùng
tồn tại trong một bầu văn hóa chung ở Việt
Nam. Sự chuyên biến giữa chúng không chỉ diễn ra ở vùng
Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) mà c̣n diễn ra trên toàn đất
nước Việt Nam.
v Phật giáo với các
phong tục tập quán
Phong tục tập quán
thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về
văn hoá của mỗi dân tộc. Thông qua việc t́m
hiểu phong tục tập quán, người ta t́m lại được những giá
trị văn hoá mang bản chất truyền thống của các dân tộc.
Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu
ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều. Sự ảnh hưởng ấy thể hiện
ở một số tập tục phổ biến sau:
Về
ăn chay, hầu
như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của
nếp sống văn hoá này. Ăn chay hay ăn lạt là xuất phát từ
quan niệm từ bi của Phật giáo. Phật giáo với quan điểm
là không sát sinh hại vật, mà
trái lại phải thương yêu mọi
loài. Trong hành động lời nói, nếp nghĩ phải thể
hiện từ bi. Để đạt được mục đích đó con người phải
ăn chay. Ở Việt Nam ngoài những
người xuất gia ăn chay th́
người dân cũng ăn chay. Nhưng họ
ăn chay theo những ngày nhất định, tuần nhất định hoặc
là tháng nhất định tuỳ vào mỗi người. Theo thiền
sư Đinh Lực và cư sĩ Nhất Tâm
“ăn chay rất phù hợp với
phong cách ăn uống Á Đông, chú trọng ăn ngũ cốc nhiều
hơn tực phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho cơ thể
được nhẹ nhàng, trí óc dược minh măn sáng suốt”
Ăn chay và thờ phật là hai việc đi
đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ phật trong dân
gian cũng có nhiều thú vị. Người phật tử mộ đạo thờ phật
đă đành, nhiều người không phải phật
tử cũng dùng tượng phật
hay tranh ảnh có yếu tố
phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí
cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm.
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của
đạo Phật, tục lệ phóng sinh đă ăn sâu vào đời sống sinh
hoạt của quần chúng. Đến các ngày rằm và mùng một, người
Việt Nam thường hay mua cá, mua chim… đem về chú nguyện
sau đó đem đi phóng sinh. Đây là yếu tố thể hiện ḷng từ
bi bác ái như đạo Phật vậy. Mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên luôn gần gũi và gắn bó, nó thể hiện một sự
tác động qua lại nhất định. Người Việt Nam cũng thích
làm phước bố thí và sẵn sàng giúp kẻ nghèo khó hoạn nạn,
nhất là vào các ngày hội, họ thường tập chung về chùa và
tại đây ít nhiều th́ ai cũng bỏ chút ít tiền bạc để gọi
là ḷng thành, và cũng là để góp sức giúp đỡ cho những
người nghèo khó. Tuy nhiên trong xă hội
hiện nay th́ sự tập chung này đă bị
thu hẹp nhưng không v́ thế mà tinh thần giúp đỡ lẫn nhau
của nhân dân bị suy giảm. Ngược lại tinh thần giúp đỡ
lẫn nhau vẫn đựơc phát huy hơn bao giờ hết. Mỗi
khi gặp thiên tai lũ lụt…
th́ mọi người lại cùng nhau chung vai
chung sức, quyên góp của cải để giúp đỡ cho những ngươi
bị nạn. Truyền thống ấy có thể bị thay đổi về h́nh
thức làm việc thiện nhưng nó không bao giờ
mất và vẫn đang ngày càng dày nên cùng với bề dày của
lịch sử dân tộc. Và tinh thần giúp đỡ lẫn nhau đă được
nhân dân đúc kết thành những câu ca, câu thơ
để mọi người có thể dễ dàng chuyền cho
nhau từ đời này sang đời khác:
Lá lành đùm lá rách
Hay
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn.
Ấy há chẳng phải là tinh thần từ bi
bác ái của đạo Phật đó ư. Cho đến ngày nay khi quay nh́n
lại cũng khó có thể phân biệt rạch ṛi, chi li một yếu
tố này là của Phật giáo hay yếu tố kia là văn hoá bản
địa.
Hoà vào văn hoá truyền thống th́ tập
tục cúng rằm mùng một vẫn diễn ra một cách khá phổ biến.
Tại địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi mà
người nghiên cứu đă từng sống và quan sát th́ vào
các ngày như vậy nhân dân nơi đây thường mua hoa
quả hay làm một mâm cơm để cúng lễ. Trong những buổi
cúng lễ, họ cầu nguyện để mời ông bà tổ tiên – những
người đă khuất về dự cùng bữa cơm sum họp với con cháu.
Theo thiền sư Đinh Lực và sư sĩ
Nhất Tâm th́ “tập tục cúng rằm mùng một
là tập tục cúng sóc vọng, túc là ngày mặt trời mặt
trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh tổ tiên có thể
liên lạc, thông thương với con người. Sự cầu nguyện sẽ
đạt đến sự cảm ứng với các cơi giới khác và sự cảm
thông sẽ được thiết lập, là ngày
trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của
ḿnh gọi là ngày bồ tát và ngày sám hối, người tín đồ về
chùa để tham dự ngày sóc vọng là những ngày trường tịnh,
sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo
Đại Thừa”. Vào tuần rằm và mùng một th́ chẳng những phật
tử mà nhân dân địa phương, họ cũng đi chùa để sám hối,
họ cũng ăn chay, cũng niệm phật.
Như
vậy, đó chính là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa Phật giáo và
các tín ngưỡng Việt Nam. Bên cạnh việc đi chùa sám hối
vào ngày rằm mùng một, người Việt Nam c̣n có tập tục
khác là đi lễ chùa viếng chùa vào những ngày hội lớn như
ngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật đản), rằm tháng
bảy (lễ Vu Lan). Đây là những tập tục dường như gắn liền
với đời sống của người dân Việt Nam. Việc lên chùa vào
những ngày này lại tuỳ vào mục đích của mỗi người, có
người lên chùa để thắp hương cầu nguyện, nhưng có những
người lên chùa chỉ là để thăm văn cảnh chùa. Nhưng dù
với bất cứ mục đích nào th́ chỉ cần đó là một mục đích
chân chính, nhà chùa lúc nào cũng mở rộng cánh của
chào đón đối với thập phương bá tánh, nhất
là các ngày lễ hội lớn của Phật giáo và của
dân gian. Những h́nh ảnh mà mọi người lên chùa đó đă góp
phần tạo nên bản sắc và nét đẹp văn hoá của dân
tộc Việt Nam. Họ hội nhập vào bầu không khí trang
nghiêm và cũng thấy ḿnh trở nên an định
hơn. Đây cũng là yếu tố làm cho đạo Phật trở nên gần gũi
với nếp sống của người dân. Đó là yếu tố
riêng có của văn hoá Việt Nam, hiếm có một nơi nào mà
Phật giaó lại gần gũi với cuốc sống của người dân như
vậy.
Như vậy là giữa Phật giáo và phong
tục tập quán của người Việt dường như đă gắn bó với
nhau. Chúng tồn tại cùng nhau nhưng vẫn không làm mất đi
cái bản chất riêng có của nó. Các phong tục
tập quán của người Việt như ăn uống, lễ tết…
ngoài chịu sự tác động của một nền nông
nghiệp sâu sắc th́ nó cũng bị các yếu tố của
Phật giáo tác động mạnh mẽ. Trong Phật giáo ngoài
thờ Phật th́ cũng có bàn thờ ông bà tổ
tiên hay những người không phải là
phật tử nhưng cũng lên
chùa thăm viếng. Chính sự tác
động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đó giữa Phật giáo
và các phong tục tập quán đă làm cho chúng bớt phần “đơn
điệu” và cũng góp phần làm phong phú thêm cho bản sắc
văn hoá Việt.
v Phật giáo với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên
H́nh thức thờ cúng
tổ tiên đó là tín ngưỡng nhớ đến người
đă khuất. Đó là truyền thống ăn quả nhớ kẻ
trồng cây của nhân dân Việt Nam. Những người được
thờ cúng là những người có công lao đặc biệt trong
các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, hay những người có
công khai phá đất đai, mở rộng lănh thổ. Và gần gũi hơn
đó là những người có công sinh thành dưỡng dục. Đó là
những bậc ông bà, cha mẹ. V́ vậy mà nhân dân đă có câu:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra.
Tưởng nhớ đến người đă khuất, đó là
một đạo lư của người Việt Nam. Chính đạo lư ấy đă góp
phần hoàn thiện “mặt người” của con người. Chỉ trong thế
giới của con người mới h́nh thành được cái yếu tố nhớ về
cội nguồn. Nhớ về cội nguồn, thờ cúng người đă khuất
chẳng là một cái mốc quan trọng để con người nguyên thuỷ
thoát khỏi loài vượn đó sao! Đó là yếu tố đánh dấu sự
phát triển của bộ óc, đánh dấu sự phát triển của
tư duy.
Con người Việt Nam ngay từ khi sinh
ra đă được sự giáo dục của người đi trước là phải có
ḷng biết ơn, ghi nhớ những ǵ người đi trước đă xây đắp
mà bây giờ các thế hệ con cháu đang thừa hưởng. Đó là
nền tảng để mỗi con người Việt biết nhớ về cội nguồn.
Có thể nói con người Việt Nam
ngay từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, con người
Việt Nam đă được sống trong truyền thống thờ cúng tổ
tiên. Truyền thống này ngày càng được củng cố thêm qua
các thế hệ của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng là
một yếu tố làm chất xúc tác để cho tính cộng đồng,
tính dân tộc thêm bền
chặt. Nhờ đó mà người Việt Nam thêm
đoàn kết, nhất là những lúc đất nước
gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng đoàn kết nhau lại trở thành
một khối với sức mạnh to lớn. V́ vậy, kẻ thù dù nguy
hiểm đến đâu cũng bị đánh bại. Giai cấp phong kiến
phương Bắc sau hơn ngàn năm đô hộ nhưng không thể đồng
hoá được nhân dân Việt Nam. Truyền thống thờ
cúng tổ tiên “đậm đặc” của dân tộc
là một đặc trưng của người Việt.
Phật giáo, một tôn giáo có giáo lư từ
bi bác ái hướng con người đến cuộc sống b́nh yên,
rất phù hợp với yếu tố
“uống nước nhớ nguồn” của
nhân dân. Người Việt Nam thường thắp hương cầu
nguyện ông bà tổ tiên phù hộ cho cuộc sống của họ được
b́nh yên vô sự. Như vậy, Phật giáo chẳng phải rất phù
hợp với tín ngưỡng cổ truyền đó sao! Khi làm lễ táng cho
người đă khuất, những người sống đă ra các chùa mời các
vị sư về cầu cho linh hồn người chết nhanh chóng được
giải thoát. Cầu cho linh hồn trên đường về “suối vàng”
được thuận lợi. Trong việc thờ cúng ông bà tổ tiên của
người Việt th́ trên bàn thờ ngoài bát hương dành cho ông
bà tổ tiên, thông thường c̣n có một bát hương cho Phật
và thông thường cũng là Phật bà quan âm. Trong tất cả
các buổi cúng lễ tuần, năm… người Việt Nam trong cầu
nguyện hay đọc rằng “nam mô A-di-đà Phật”. Câu nói ấy
hẳn là một bằng chứng xác thực chứng minh rằng sự chuyển
biến lẫn nhau giưa đạo thờ cúng tổ tiên của người Việt
Nam và Phật giáo. Người Việt Nam thờ Phật hoặc có những
hoạt động nghi lễ thờ Phật
nhưng họ không hẳn là
những người theo Phật giáo. Họ
chỉ là nhưng người dân b́nh thường nhưng có ḷng
hướng Phật, hướng theo cái đạo lư từ bi của Phật giáo.
Ngược lại, Phật giáo là một tôn giáo nên có giáo lư
riêng của ḿnh nhưng khi vào Việt Nam, nó phải mở
rộng giáo lư của ḿnh để đón nhận
các yếu tố bản địa của
người Việt. Một trong số các yếu tố
đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như đă phân tích ở
trên. Trong thờ cúng, th́ các vật phẩm dùng để thờ cúng
cũng khó có thể phân biệt rạch ṛi là cái nào vốn có của
Phật giáo và cái nào vốn có của bản địa. Điều đó nói lên
sự hoà đồng các yếu tố bản địa và các yếu tố ngoại lai.
Trong chùa ngoài thờ cúng Phật c̣n có thờ cúng
những anh hùng có công với đất nước. Tại nhà th́
người Việt Nam ngoài thờ cúng tổ tiên c̣n có thờ
cúng Phật.
v Phật giáo với đạo
Mẫu
Tín ngưỡng thờ mẫu
là một tín ngưỡng bản địa
của người Việt. Ngay từ nguyên thuỷ,
khi mà khoa học c̣n chưa phát triển, tự
nhiên c̣n chi phối cuộc sống con người.
Nền nông nghiệp lúa nước là yếu tố
sản xuất đầu tiên, là cơ sở để tồn tại của con người.
Nền nông nghiệp cũng đă phụ thuộc vào yếu tố đó là
đất, nước… v́ vậy mà mẹ đất, mẹ nước đă h́nh thành. Cuộc
sống buổi đầu phải phụ thuộc vào các nguồn thức ăn mà họ
săn bắt được từ rừng và thế là mẹ rừng xuất hiện (mẫu
thượng ngàn). Như vậy, thờ mẫu là họ quan niệm đến một
sự sinh sôi nảy nở. Mẫu có thể là những
thành tố của tự nhiên như một số yếu tố kể
trên nhưng có thể là một con người cụ thể như mẫu Liễu
Hạnh hay Man Nương trong truyền thuyết cổ về chùa Dâu..
Thế nhưng với sự du nhập và
phát triển của Phât giáo, đạo Mẫu đă nhanh chóng dung
hoà và tiếp nhận những yếu tố của Phật giáo.
Trong hầu hết các đền thờ Mẫu của Việt Nam, th́
ngoài việc thờ mẫu vẫn dành riêng một phần cho thờ Phật.
Yếu tố Phật giáo gần như bị bản địa hoá hoà nhập vào với
đạo Mẫu mà ít có một dân tộc nào trên thế giới có sự hoà
nhập như vậy.
Trong khi các nước khác trên thế
giới, th́ sự phát triển của các tôn giáo dường như là
độc lập và cạnh tranh nhau. Ở Việt Nam th́ đó là sự phát
triển xen kẽ. Trong các chùa thờ Phật th́ vẫn thờ các
cô, các cậu. Đó là tín ngưỡng thờ Mẫu. Thậm chí, các
Phật trong chùa Việt Nam cũng thiên về nữ tính. Theo
Trần Ngọc Thêm th́: “các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là
đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật ông - Phật bà, bồ
tát Quán thế âm đă được biến thành Phật bà quan âm với
ngh́n mắt, ngh́n tay, là vị thần hộ mệnh của cư dân khắp
vùng sông nước Đông Nam Á. Ở một số vùng ngay cả Phật
tổ Thích ca cũng được coi là phụ nữ. Người Việt c̣n tạo
ra Phật bà riêng của ḿnh. Đứa con gái của Man Nương,
tương truyền sinh vào ngày 8/4, được xem là Phật tổ Việt
Nam. Bản thân bà Man Nương trở thành Phật mẫu”. Việc đạo
Phật có ảnh hưởng đến đạo thờ Mẫu
c̣n thể hiện qua hàng loạt tên
các chùa như chùa bà Dâu, chùa bà Đậu, chùa
bà Tướng… không những vậy mà người đi chùa theo
quan sát của nhóm nghiên cứu tại địa bàn chùa Dâu, Thuận
Thành, Bắc Ninh và các chùa trong hệ thống chùa Tứ Pháp
th́ người đi chùa cũng chủ yếu là phụ nữ và các bà
già. Thật đúng theo tinh thần “trẻ
vui nhà, già vui chùa”. Tại chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ
Pháp ở Bắc Ninh, th́ người trực
tiếp trông chùa, chịu trách
nhiệm bảo vệ dọn dẹp chùa cũng
đều là các bà tại địa phương. Các bà với
kinh nghiệm của ḿnh đă được Sở Văn hóa Thông tin giáo
cho trách nhiệm trông chùa và hướng dẫn du khách tham
quan và đi lễ chùa.
Tất cả những điều như trên cho thấy
tư tưởng trọng nữ của người dân Việt Nam đă có tác động
mạnh đến đạo Phật như thế nào. Có những đặc điểm như vậy
là do Phật giáo Việt Nam thiên về nữ tính mà nguồn gốc
sâu xa của nó là đạo thờ Mẫu.
v Phật giáo với lễ
hội văn hoá ở chùa Dâu
Lễ hội cổ truyền là một h́nh thức
sinh hoạt văn hoá dân gian có lịch sử rất lâu đời và
mang tính dân tộc vô cùng sâu sắc. Cùng với lịch sử phát
triển nhân loại, lễ hội cũng trải qua những biến đổi
thăng trầm. Có những thời kỳ h́nh thức sinh hoạt văn hoá
này hầu như bị lăng quên, thậm chí bị bài xích, cho rằng
lễ hội mang màu sắc mê tín dị đoan. Sở dĩ có hiện
tượng đó là v́ lễ hội vốn là
loại h́nh rất phức tạp, bao gồm nhiều đặc
điểm, nhiều tính chất và nhiều phương diện. Thoạt nh́n,
tưởng như chúng trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau. Trong
lễ hội ta thấy sự nghiêm trang, kính cẩn, mực thước của
các nghi lễ và nghi thức khá chặt
chẽ, đồng thời lại có
những tṛ diễn, tṛ chơi
dân gian hết sức vui nhộn, những
tṛ chơi đặc biệt độc đáo mà ai đó thử một lần th́ chắc
sẽ khó quên.
Một điểm đặc biệt của lễ hội Việt Nam
là lễ hội thường được tổ chức tại chùa. Việc tổ chức như
vậy cho thấy ngay được mối quan hệ giữa yếu tố văn hoá
dân gian và lễ hội với Phật giáo. Lễ hội chùa Dâu từ lâu
đă đi vào tâm trí của của người dân nơi đây, nó như một
món ăn tinh thần mà hàng năm vào ngày 8-4 mọi người từ
khắp mọi nơi đều tụ họp về đây để chẩy hội chùa.
Dù ai ăn đâu làm đâu
Tháng tư ngày tám hội Dâu th́ về
Dù ai xuôi ngược trăm bề
Tháng tư ngày tám nhớ về hội Dâu.
Hằng năm đến ngày
8 tháng 4, nhân dân Tổng
Khương xưa và nhân dân
Thuận Thành ngày nay đều tổ chức lễ hội chùa Dâu để
tưởng nhớ Man Nương và Tứ Pháp và hội Dâu đi
vào ḷng nhân dân từ thủa
ấy. Vào ngày 6-4 hằng năm
là các xă thuộc huyện Thuận
Thành vào đám. Thứ tự tổ chức ngày hội: Ngày 6-4, làm lễ
hạ bệ để phong áo các tượng, riêng có mẫu tổ là không
hạ, chỉ phong áo. Ngày 7-4, rước đức Pháp Vân về đ́nh
Công Hà, rước đức Pháp Vũ về đ́nh An Khao, rước đức Pháp
Lôi về đ́nh Luỹ, rước đức Pháp Điện về đ́nh Văn Quan,
bốn bà được thờ tại các đ́nh đă kể trên một đêm, sáng
ngày mùng 8-4 th́ rước từ các đ́nh trở về chùa Dâu, qua
hành động rước Phật qua lại như vậy cho ta thấy quan hệ
giữa đạo Phật với tục thờ Thành hoàng. Đ́nh là nơi sinh
hoạt chung cho cả làng nên thường gọi là đ́nh làng, nơi
dùng thờ tự những người có công với làng, với đất nước
hoặc nhiều nơi đ́nh cũng là nơi thờ Thành hoàng làng. Và
như thế giữa việc thờ Thành hoàng làng và thờ Phật đều
đă có ảnh hưởng lẫn nhau. Đó là một nét đặc trưng của
văn hoá Việt Nam.
Trong tín
ngưỡng dân gian tôn thờ các hiện tượng
tự nhiên, liên quan đến sản suất nông nghiệp,
người Việt cúng trời đất, tôn
thờ các hiện tượng tự nhiên như mây,
mưa, sấm, chớp. Lễ hội Tứ Pháp là sự mô phỏng lại quá
tŕnh sinh ra mưa của trời đất. Nhưng tại chùa Dâu, cụ
thể là tại thôn Khương Tự, hội chùa Dâu được giải thích
rơ là: “ngày hội con
đưa mẹ nuôi về thăm mẹ đẻ”.
Hội chùa Dâu ngoài việc rước tượng Tứ
Pháp để cầu mưa giống như một số nơi. Ngày
hội ở chùa Dâu c̣n có điểm khác với một số nơi, đó là
trở thành ngày hội kết chạ giữa các làng quê (là việc
giao lưu giữa các làng này với làng khác).
Như vậy, hội chùa Dâu vừa thể hiện
yếu tố Phật giáo là hội chùa, nhưng đồng thời nó cũng
chất chứa nhiều yếu tố văn hoá dân gian như kéo
co, hát, múa… Hội chùa Dâu c̣n mang t́nh chất cộng đồng
sâu sắc, mỗi dịp lễ hội là mỗi dịp mọi người cùng nhau
lên chùa, cùng nhau vui chơi. Những bầu không khí đẹp
như vậy càng trở nên cần thiết hơn trong bối cảnh ngày
nay khi mà môi trường công nghiệp đang ngày càng phát
triển, mọi người làm việc có tính chất độc lập hơn so
với sản xuất nông nghiệp. Chính v́ vậy mà cơ hội gặp gỡi
chuyện tṛ để hiểu nhau cũng ít diễn
ra. Do vậy, những ngày hội là những ngày mọi người
có cơ hội tập chung, có cơ hội gần gũi nhau để từ đó
thắt chặt thêm t́nh đoàn kết dân tộc.
Như vậy, Phật
giáo từ khi vào Việt Nam đă gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến
mọi người dân Việt Nam. Phật giáo đă thâm nhập vào tâm
hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt và đă trở thành
bản sắc của dân tộc. Trong bài xă luận của tạp chí “Phật
giáo Việt Nam” đă viết:
“Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam
thật đă có sẵn mầm mống tinh thần Phật giáo. Hèn ǵ mà
đạo Phật với dân tộc việt Nam trong gần 2000
năm nay, bao giờ cũng theo nhau như bóng với h́nh.
Đă là viên đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên
Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu
tố bất ly của cuộc sống toàn diện. Ngày nay
những hào nhoáng của một nền văn minh vật chất đă làm mờ
mắt một số đông người, nhưng nền tảng cơ bản cảu nền văn
hóa Việt Nam vẫn đang c̣n bền chặt, khiến cho người Việt
Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một
thời gian rồi cũng quay đầu trở lại với cội
nguồn yêu dấu ngày xưa”.
Đạo Phật đă ảnh hưởng đến mọi sinh
hoạt của người Việt Nam từ triết lư tư tưởng, đạo đức
văn hóa, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán. Càng t́m
hiểu và càng suy ngẫm ta càng thấy nhận định trên đúng
đắn. Từ nhân sinh quan, thế giới quan đạo lư thẩm
mỹ cho đến những lời hay ư
đẹp, tục ngữ chẳng hạn “Ở
hiền gặp lành” cũng đâu đó
bắt nguồn từ triết lư nhân quả của đạo Phật, rồi đến các
ngày rằm, mồng một, lễ tết, lễ hội… mọi người đều bận
rộn nhưng vẫn bớt chút thời gian lên chùa có thể là đi
lễ cầu nguyện, song cũng có thể là chỉ đi thăm viếng
b́nh thường, chung vui lễ hội hoặc là để t́m hiểu
những nơi linh thiêng ấy. Chùa làng cho đến ngày nay vẫn
giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng của cư dân Việt Nam nhất là những vùng nông nghiệp
như tại địa phận huyện Thuận Thành là nơi có chùa Dâu
tọa lạc. Tại đây từ các cụ ông, cụ bà hay thanh niên
trai gái đều không quên lên chùa mỗi khi lễ hội hay các
ngày rằm lễ tết.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không
ít kẻ đă lợi dụng Phật giáo, bày ra những điều mê
tín dị đoan, làm ảnh hưởng đến h́nh ảnh tốt
đẹp của Phật giáo trong ḷng nhân dân.
Do đó chúng ta cần phải có một sự
nhận thức đúng đắn, cần phát huy những mặt tích cực,
đồng thời cũng loại bỏ những yếu tố hủ
tục lạc hậu, để làm cho Phật giáo thêm
“trong sạch” và phát triển phù hợp với xu
thế của thời đại. Nhất là trong bối
cảnh ngày nay xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, các
nền văn hóa ngoại nhập đang tràn vào Việt Nam một cách ồ
ạt, v́ vậy cần phải có một nhận thức đúng đắn, biết gạn
lọc tiếp thu những cái tốt và giải trừ những cái
xấu. Do đó việc xây dựng một nền văn hóa lành mạnh
đậm đà bản sắc dân tộc với những tư tưởng truyền thống
tốt đẹp cũng là cơ sở giúp có thể nhận định, sàng lọc
t́m ra những yếu tố văn hóa tiên tiến, mới
mẻ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xă hội Việt Nam.
Sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo đă tạo nên một sự hoà
hợp giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo trong lịch sử,
đó chính là sự thích nghi “tuyệt hảo” giữa yếu tố
bản địa và yếu tố ngoại nhập. Ngày nay Việt Nam
vẫn c̣n tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín
ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp… nhưng
Việt Nam vẫn có Phật giáo. Đó chính là nét riêng có
trong văn hoá Việt Nam.
Trần Tiến Đạt
Ảnh internet
Tài liệu tham khảo:
1. Năm 2003,
Tạp chí nghiên cứu Phật
học, số 3.
2. Thiền sư
Đinh Lực, cư sĩ Nhất Tâm (2003),
Tôn giáo và lịch sử văn minh
nhân loại – Phật giáo Việt Nam và thế giới,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
3. Trần ngọc
Thêm (1998), Cơ sở Văn
hoá Việt Nam, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Hữu
(2007), Chùa Dâu lịch
sử và truyền thuyết,
Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
5. Nguyễn Lang
(1994), Việt Nam Phật
giáo sử luận, tập1,Văn
học,Hà Nội.
6. Nguyễn Mạnh
Cường (2003),
Chùa Dâu – Tứ pháp và hệ
thống các chùa Tứ pháp,
Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội
|
Nguồn tin lấy từ trang thuvienhoasen
Bài Đă Đăng
- Phật Hoàng Trần Nhân Tông Linh hồn của
Thiền phái Trúc Lâm
-
Văn tưởng niệm Đức vua Lư Thái Tổ, các vị
Quốc sư, Thiền sư nhân Đại lễ PG kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà
Nội
-
Vài nét về Đức Dhak na TulkuRimpoche
-
Bức Thủ Bút chữ Nôm Của Bồ Tát Quảng Đức
-
Nhân cách và sự nghiệp Lư Công Uẩn
-
Tam Tổ Trúc Lâm
|
|