Thù hận
có thể có những lợi ích ngắn hạn trong việc thúc đẩy những hành vi
vị tha nhưng về lâu về dài sẽ làm hao ṃn nhân cách. - Đức Đạt Lai
Lạt Ma & Paul Ekman -
Nhà tâm lư học Paul
Ekman thừa nhận rằng ông chỉ hơi thích thú với Đạo Phật khi ông được
mời đến Dharamsala, Ấn Độ, trong năm 2000 cho một cuộc đối thoại của
Đức Đạt Lai Lạt Ma với những nhà khoa học, được bảo trợ bởi Viện Tâm
Thức và Đời Sống. Nhưng Ekman, một khoa học gia chức năng nổi
tiếng là một chuyên gia hàng đầu về những biểu hiện trên mặt, đă mê
mẫn về đề tài được bàn thảo: những cảm xúc tàn phá. Sự
tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma đă chuyển hóa đời sống của ông, đến
một mức độ mà ông ngạc nhiên vô cùng.
Ngày nay, cả hai là những
người bạn tốt. Với sự gợi ư của Ekman, họ đă dành gần 40 giờ
trong cuộc đàm luận giữa tháng Tư năm 2006 và tháng Sáu năm
2007. Nhuận sắc với b́nh luận của Ekman, sự thảo luận của họ
đă xuất hiện trong Nhận Thức
T́nh Cảm: Vượt Thắng những Chướng Ngại đến sự Cân Bằng Tâm Lư
Học (Henry Holt, 2009, $15.00;
Chăm Nom T́nh Cảm, an audio/video download, paulekman.com ).
Ekman vẫn là một người không tín ngưỡng, nhưng ông và Đức Đạt Lai
Lạt Ma đă t́m ra nhiều nền tảng thông dụng, nhất là hai niềm vui đặc
biệt, tâm thức sống động khám phá bản chất tự nhiên của cảm xúc
trong một tinh thần khám phá hổ tương.
Bây giờ giáo sư danh dự của
Đại Học Y Khoa California
tại San Francisco, nơi ông thành lập
Pḥng Thí Nghiệm Sự Tương Tác của Con Người,
Ekman, không giảng dạy nữa, nhưng ông bận rộn hơn lúc nào hết.
Kế hoạch gần đây của ông bao gồm
Hội Nghị về Ngôn Ngữ của Đời Sống Tinh Thần,
chương tŕnh nảy sinh từ những cuộc nói chuyện của ông với Đức Đạt
Lai Lạt Ma, tổ chức từ ngày 15 đến ngày 19 tại Tulluride, Colorado,
và vai tṛ cố vấn của ông trong Lừa
Dối với Tôi, một loạt chương tŕnh
cùa Fox TV, mà trong ấy những nhân vật chính khám phá những tội ác
qua việc sử dụng những kỷ thuật khám phá – lừa dối căn cứ trên sự
nghiên cứu của Ekman. Sau mỗi chương tŕnh Ekman viết những
kiến thức khoa học phía sau lời đối thoại của câu chuyện. Đấy
không phải là sự tiếp xúc đầu tiên của ông với Hollywood: những công
ty như Pixar thường yêu cầu ông cố vấn về những biểu lộ trên khuôn
mặt cho những phim hoạt họa của họ. Rồi th́, cũng thế,
có sự tiếp tục cố vấn của ông cho những cơ quan chống khủng bố của
chính quyền. Nhưng khi Joan Duncan Oliver của
Tricycle
gọi điện thoại cho Ekman đến văn pḥng của ông ở California vào
tháng Mười Một vừa qua, điều mà ông mong muốn nhất là thảo luận với
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
PHỎNG VẤN
1.-
HỎI: Tôi thật say mê
đọc thấy rằng sau cuộc gặp gở với Đức Đạt Lai Lạt Ma lần đầu tiên,
ông không có kinh nghiệm giận dữ trong bảy tháng. Mặc dù ông
ngờ vực về việc nó xăy ra như thế nào, nhưng ông đă hơi nghi ngờ về
một sự tái tổ chức đời sống t́nh cảm của ông đă xăy ra. Ông
giải thích cho sự chuyển biến ấy như thế nào?
ĐÁP: Cung cách
mà tôi nhận thức nó từ khuôn thức của khoa học Tây phương là sau cái
chết của mẹ tôi – tôi được mười bốn tuổi khi bà tự tử - tôi đă gia
tăng sự thù hận đối với cha tôi, người tôi cho là chịu trách nhiệm.
Ông ta là một người tàn nhẫn, lăng mạ, và ngược đăi, và rất ganh đua
với tôi. Loại thù hận như thế là một thể trạng chịu đựng của
sự mong muốn làm tổn thương một người khác: nó không phải là bạn
đang cảm thấy ghét bỏ trong mọi thời khắc, nhưng bất cứ khi nào
người ấy hiện ra trong tâm thức, một cách trực tiếp hay gián tiếp,
sự thù hận ấy tái diễn. Nó gậm ṃn nhân cách, v́ thế nó trở
thành một căn cứ cho việc phát triển sự sân hận mà nó quá sẳn sàng
và quá mạnh mẽ. Khi tôi gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma, cha tôi đă
chết hơn bốn mươi năm, nhưng tôi vẫn ghét ông. Trong buổi sơ
giao với Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi nghĩ ngài sẽ tập trung “tính chất”
trên vết thương mà tôi vẫn cảm nhận từ cái chết của mẹ tôi, và mặc
dù sự thù hận vẫn hiện hữu cho đến một vài năm sau đó, nhưng nó đă
phát sinh một sự thay đổi sâu sắc.
Những đồng nghiệp
phân tích tâm lư của tôi nghĩ rằng tôi đă có một phản ứng thuyên
chuyển đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma. Nhưng tôi chưa bao giờ cảm
nhận ngài như h́nh ảnh của một người cha, dù chỉ trong một khoảnh
khắc; tôi cảm thấy ngài như một người anh mà tôi chưa bao giờ có.
Sự giải thích của ngài là trong một tiền kiếp chúng tôi đă là anh em.
2.- HỎI:
Ông nghĩ thế nào về điều ấy?
ĐÁP: Ô, tôi
nghĩ tái sinh là một câu chuyện thần tiên dễ thương, như thiên đàng
và địa ngục, nhưng tôi không bất cung kính ngài v́ sự tin tưởng ấy.
Tôi chưa bao giờ có niềm tin trong nghĩa lư giáo thuyết, v́ thế tôi
không biết giải thích thế nào về nó. Tôi tin rằng tại một điểm
nào đó, chúng tôi sẽ hiểu nền tảng của sự chuyển biến này một cách
khoa học. Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi không đồng ư về điều này.
Ngài nghĩ tôi là một người giản hóa luận và nó sẽ măi măi là một
điều huyền bí. Tuy nhiên, niềm tin của tôi là không có điều ǵ
của tâm thức mà không là sản phẩm của năo bộ.
3.- HỎI:
Một vài năm trước đây, cuối cùng
ông đă tha thứ cho cha ông. Ông có nghĩ rằng khả năng để tha
thứ có liên hệ với sự tiếp xúc với Đức Đạt Lai Lạt Ma không?
ĐÁP: Mặc dù lần đầu
tiên gặp gở Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi đă tranh luận một cách mạnh mẽ
với ngài về những lợi ích của thù hận. Nói rằng, tôi đă nghĩ
nó có thể thúc đẩy những hành vi xây dựng. Tôi không biết rằng
tôi sẽ cố gắng để hoàn thành tất cả những thứ mà tôi đă làm hay
không nếu tôi đă không được thúc đẩy bởi một khát vọng trả thù cha
tôi. Tuy thế, Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi đă kết thúc với một
quan điểm chung rằng thù
hận có thể có những lợi ích ngắn hạn trong việc thúc đẩy những hành
vi vị tha nhưng trong lâu dài sẽ làm hao ṃn nhân cách.
Tôi không thể định rơ khi tôi chấm dứt cảm nhận thù hận đối với cha
tôi: nó không phải là một sự thay đổi đột ngột, nên nó không được
chú ư. Nhưng bây giờ, tôi hoàn toàn tỉnh thức về việc không
c̣n cảm thấy mối thù hận ấy nữa – không c̣n bị làm bận tâm với việc
tôi sẽ trả thù ông như thế nào nữa.
4.- HỎI:
Ông gọi những cuộc đàm luận của
ông với Đức Đạt Lai Lạt Ma là “một tiến tŕnh đối thoại”. Ông
đă học hỏi được ǵ từ cuộc đàm luận này đến cuộc đàm luận khác?
ĐÁP: Tôi cho
bạn một thí dụ, nếu tôi đă không từng nói chuyện với ngài, tôi sẽ
không đảm nhiệm đề tài về việc làm thế nào để hiểu những cảm xúc tốt
hơn là chỉ nghĩ về chúng như tích cực và tiêu cực như trong tâm lư
học Tây phương. Tôi sẽ không thấy rằng bạn không thể chỉ đơn
giản nói một cảm xúc làm ưu phiền hay không làm ưu phiền, bởi v́
không ưu phiền là trung tính. Từ quan điểm của Darwin, chúng
ta sẽ không có cảm xúc nếu chúng không lợi ích cho chúng ta.
V́ thế, làm thế nào chúng ta quyết định cùng chính cảm xúc là xây
dựng hay tàn phá? Điều ấy tủy thuộc trên việc nó diễn ra thế
nào trong một phạm vi cụ thể.
Tám hay mười năm
trước, tôi không thừa nhận quan điểm của Richard Dawkins rằng sự lừa
dối xăy ra do bởi một sự thích thú căn bản trong việc khai thác
người khác. Tôi nói, không, nếu ông nh́n vào lịch sử của đời
sống con người trên hành tinh này, ở một mức độ lớn trong những nhóm
nhỏ cộng tác đă đối phó với con mồi và thú săn mồi. Đây là
những ǵ mà Đạo Phật liên hệ đến như sự liên hệ hổ tương, nhưng Đức
Đạt Lai Lạt Ma hay tôi đều không áp dụng đến cảm xúc. Và khi
chúng tôi thực hiện, một ư tưởng đă phát sinh từ những cuộc đàm luận
của chúng tôi. Tôi đă đề nghị rằng bất cứ khi nào một t́nh
tiết cảm xúc đưa đến một sự cộng tác tốt hơn chúng tôi nên xem nó là
xây dựng, và khi nó gây trở ngại với sự cộng tác xăy ra sau th́ nó
nên được xem như tàn phá. Ngài đă đồng ư.
Trên một đề mục khác,
sự thảo luận về từ bi yêu thương đưa đến một công thức hoàn toàn
khác, mà tôi tiếp tục sửa soạn kỷ lưỡng. Vào thời gian những
cuộc gặp gở của chúng tôi, tôi đă phân biệt ḷng thương hay từ bi
yêu thương trong gia đ́nh với ḷng từ bi yêu thương phổ quát – ḷng
từ bi yêu thương cho tất cả chúng sinh – mà nó th́ khác biệt với
những ǵ ngài gọi là ḷng từ bi yêu thương vô giới hạn bao gồm tất
cả mọi tạo vật sinh sống. Ngài đă thấy điều đó hữu ích và đă
thay đổi quan điểm của ngài, v́ thế ngài đă không c̣n nghĩ về ḷng
từ bi yêu thương như cảm xúc. Cảm xúc liên hệ trong từ bi yêu
thương, nhưng như là động cơ của từ bi yêu thương. Đấy là một
vấn đề nữa đă cống hiến đến sự suy nghĩ của tôi: bất cứ khi
nào bạn nh́n váo một cảm xúc, bạn phải nh́n vào động cơ cho cảm xúc
ấy. Điều ấy là quyết định cho việc hoặc là nó sẽ đóng vai tṛ
trong một h́nh thức xây dựng hay tàn phá. Tôi chưa từng nghĩ
về điều ấy trong cách này.
5.- HỎI:
Vậy th́ động cơ và xu hướng, là
trung tâm của Đạo Phật, đă không thật sự là những bộ phận trong sự
suy tư của ông?
ĐÁP: Bạn có thể
đánh mất bằng chứng như một nhà khoa học bằng việc thừa nhận rằng
người ta có những khuynh hướng. Chúng ta có thể lượng định
thái độ rơ ràng hay có thể thấy của con người, nhưng không dễ dàng
để ước lượng những ư định của họ là ǵ, v́ thế tâm lư học hầu như đă
hành động giống như chúng ta thật sự không thể dễ dàng đo lường
những thứ không hiện hữu. Không phải ngẫu nhiên mà tâm lư trị
liệu nhận thức thái độ– mà nó đă nhấn mạnh những ǵ chúng ta có thể
sáng tạo và thay đổi mục tiêu của chúng ta – đă liên hệ tự nó đến
chính niệm. Nhưng điều đó không phải là những ǵ đă từng ngự
trị tâm lư học Tây phương.
6.- HỎI:
Khi ông hỏi Đức Đạt Lai Lạt Ma những thực tập nào sẽ giúp những
người mà cảm xúc trổi dậy một cách nhanh chóng và mănh liệt, câu trả
lời của ngài một cách căn bản là khái niệm phương tiện thiện xảo của
Đức Phật – mà những phương pháp cũng nhiều như con người trên
trái đất này. Điều này có đưa đến câu vấn đề có bất cứ sự
nghiên cứu nhân rộng nào về thiền quán và cảm xúc hay không?
ĐÁP: Không, bời
v́ sự nghiên cứu mà chúng tôi đă thực hiện, được gọi là Trau Dồi Cân
Bằng Cảm Xúc – mà chúng tôi nhận hành động dưới sự yêu cầu của Đức
Đạt Lai Lạt Ma – phối hợp những loại thiền quán khác nhau cũng cũng
như những sự thực hành của phương Tây. Những loại khác biệt có
thể hữu ích hơn cho người này đến người nọ. Và ngay cả cùng
một người, những thứ khác nhau có thể lợi lạc trong những ngày khác
nhau.
7.- HỎI:
Ông đánh giá tác dụng của thiền
quán như thế nào?
ĐÁP: Điều định
lượng quan trọng nhất mà chúng tôi dùng là, nó có thay đổi mối quan
hệ của họ với người phối ngẫu và con cái của họ không?
Chúng tôi đă dùng những lượng định tiêu chuẩn của sự chán năn và lo
lắng, và chúng tôi đă thấy một sự thay đổi khổng lồ - nó to lớn như
bất cứ điều ǵ mà chưa từng được ghi nhận bởi bất cứ một kỷ thuật
nào. Điều mà chúng tôi có thể nói đấy là một tác nhân thay đổi
đúng đắn. Có phải đấy đă là một điều đă hoạt động tốt nhất cho
mọi người hay không? Chúng tôi không có cách nào để biết.
Chúng tôi có một bửa ăn với nhiều món nóng – nguội, mà chúng ta
không thể nói món nào hương vị tốt hơn.
8.-HỎI:
Có một sự đối thoại tiếp tục giữa
Đạo Phật và tâm lư trị liệu trong những năm gần đây, nhiều thứ phát
sinh qua những cuộc gặp gở của Viện Tâm Thức và Đời Sống. Điều
ǵ ông đă đối lập với Đức Đạt Lai Lạt Ma đă thêm vào cho sự đối
thoại này?
ĐÁP:
Điều khác nhau là sự tập trung trên hai vấn đề - cảm xúc và từ bi
yêu thương. Như tôi hiểu nó, chính khái niệm cảm xúc là không
đơn giản trong tư tưởng Phật Giáo – thể trạng tinh thần ấy, với
những đặc trưng của nó, hay việc nó khác biệt với những thể trạng
tinh thần khác. Những cảm xúc của chúng ta chịu trách nhiệm
cho t́nh trạng tốt nhất cả tệ hại nhất của chúng ta. Chính
danh xưng của cuộc gặp gở Tâm Thức và Đời Sống 2000 – Những Cảm Xúc
Tàn Phá – đối với tôi dường như tôi tiếp nhận một nhận thức sai lạc.
Nó hổ trợ xa hơn cho ư tưởng rằng mục tiêu là để xa lánh cảm xúc của
chúng ta, mà chúng là quá tàn phá. Điều đó không bao giờ là
mục tiêu, và ngay cả nếu nó là thế, th́ chúng ta sẽ không bao giờ
đạt đến được.
Tôi cố gắng đề có
thêm 30 phút nữa với Đức Đạt Lai Lạt Ma để tập trung trên một vấn đề
mà tôi cho là rất quan trọng: từ bi yêu thương quả cảm và từ
bi yêu thương phổ quát – hai vấn đề này quan hệ như thế nào và mục
tiêu của chúng ta nên là thế nào trong sự quan tâm như thế.
Làm thế nào và tại sao “từ bi quả cảm” xăy ra? Và làm thế nào chúng
ta biết là chúng ta có “từ bi quả cảm” hay không?
9.-HỎI:
Ông đă đọc về một người đàn ông,
người đă nhảy qua một đường xe điện ngầm New York để cứu một người
lạ đă té ngă trên đường rầy và ông ta chút nữa th́ bị một đoàn xe
chạy tới đụng phải. Đó có phải là từ bi quả cảm hay không?
ĐÁP: Nếu bạn
đang đứng bên cạnh người ấy, và bạn đă không nhảy ra, bạn biết là
bạn không có“từ bi quả cảm” . Điều ǵ giống như thế để
biết rằng chúng ta không có? Điều ǵ giống như là người đứng
bên cạnh mà không hành động? Điều ấy thay đổi chúng ta như thế
nào? Đó có phải là một sự thay đổi hữu ích? Tôi không biết câu
trả lời, và không có người nào khá hơn để khám phá vấn đề này hơn là
Đức Đạt Lai Lạt Ma.
10.-HỎI:
Khi ông và Đức Đạt Lai Lạt Ma thảo
luận về sự liên hệ hổ tương (duyên sinh) và khoa học, ông đă nói
rằng một hứng thú trong sự cộng tác là “từ từ vào” khoa học.
Như vậy là thế nào?
ĐÁP: Một lư
thuyết nền tảng của quan điểm Darwin trong mỗi thế hệ sẽ luôn luôn
biến đổi đa dạng ở trong bản chất tự nhiên của con người: chúng ta
cần những nguyên vật liệu sống bởi v́ chúng ta không bao giờ biết
những ǵ của môi trường sẽ được chiếu cố. Chúng ta sống trong
một thế giới mà một quốc gia thực hiện những ảnh hưởng trên những xứ
sở khác, v́ thế chúng ta phải bắt đầu có một nhận thức phổ quát rộng
răi hơn. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải đề cập đến một khía
cạnh cộng tác về tính chất tự nhiên của con người – và dĩ nhiên, đủ
để mà ngạc nhiên, đấy là nhận thức của Đạo Phật. Thế giới đă
nhận ra. Những thay đổi trên thế giới một cách kỷ thuật bây
giờ đă làm cho quan điểm của Đạo Phật thích hợp hơn bao giờ hết.
11.-HỎI:
Đức Đạt Lai Lạt Ma hẳn không ngạc
nhiên.
ĐÁP: Tôi nghĩ
ngài hài ḷng. Nhưng ngài nhiều lúc rất hài ḷng, và nhiều khi
ngài cũng rất gieo neo. Nó tùy thuộc trên những ǵ đối diện
với ngài. Nhưng ngài là một người lạc quan. Và đó là một
trong những điều thay đổi xăy ra trong tôi từ khi tôi gặp ngài: tôi
thường là một người bi quan. Bây giờ tôi không biết tự gọi tôi
là một người lạc quan hay một người bi quan cải thiện. Tôi vẫn
tránh suy nghĩ về những trường hợp tệ hại nhất.
12.-HỎI:
Ông nghĩ
Đức Đạt Lai Lạt Ma có nghĩ về
những trường hợp tệ hại nhất không?
ĐÁP: Tôi nghĩ
Đức Đạt Lai Lạt Ma có một nhận thức thực tiển về thế giới, và ngài
nghĩ tôi có một quan điểm thiếu kiên nhẫn tiêu biểu của Tây phương
đối với thế giới. Trái lại, tôi không tin rằng tôi sẽ tái sinh.
Đó là một cung cách thông thường để tiếp nhận một quan điểm vô cùng
lâu dài, nhưng tôi không thể thoát khỏi quan niệm Tây phương là điều
mà chúng ta không phải vĩnh viễn và chúng ta không thể bảo đảm rằng
chúng ta sẽ không làm nổ tung thế giới trước khi sự tiến hóa thay
đổi xăy ra trong một cách tự nhiên hơn.
Chỗ mà Đức Đạt Lai
Lạt Ma có quan điểm đúng đắn là thiếu kiên nhẫn có thể bóp méo thế
giới quan của chúng ta và làm cho những hành động của chúng ta thiếu
hiệu quả hơn. Thiếu kiên nhẫn có thể rất tốt bằng việc giúp
chúng ta không nhẫn nại chịu đựng hành động bạo ngược nhưng có thể
bóp méo quan điểm của chúng ta về những ǵ khả dĩ và làm thế nào đem
đến sự thay đổi. Chúng ta phải trau dồi kiên nhẫn để cho nhận
thức của chúng ta không bị bóp méo.
13.-HỎI:
Có phải ông đang nói rằng khi
chúng ta đang ở trong những nổi đau khổ của cảm xúc, điều đó xác
định tính chất suy nghĩ của chúng ta?
ĐÁP: Vâng, đúng
đấy. Cảm xúc nối kết những ǵ chúng ta suy nghĩ. Tuy thế,
hăy trở lại ông bạn phóng ra trên đường rầy xe điện ngầm. Nó
là một cảm xúc đă làm cho ông ta hành động như thế, và chúng ta biết
điều đó là không thể cưỡng lại được. Ông ta không do dự, ông
ta không chọn lựa. Ông ta hành động do bởi cảm xúc đ̣i hỏi ông
ta hành động. Và điều đó là một ân huệ cứu độ duyên dáng của
con người.
&&&
The Best and Worst of Us
- Tricycle
– Issue # 72
nói chuyện với nhà tâm lư học Paul Ekman về
công việc của ông với Đức Đạt Lai Lạt Ma về những cảm xúc tàn phá và
xây dựng.
Phụ chú:
Paul Ekman:
sinh ngày 15/02/1934, tại
Washington, D.C.,
và lớn lên ở
Newark, New Jersey, Washington, Oregon,
cùng Southern
California. Ông là một nhà
tâm lư học tiên phong trong việc nghiên cứu những cảm xúc và sự liên
hệ của chúng với sự biểu hiện trên khuôn mặt. Ông được xem là
một trong 100 nhà tâm lư học xuất sắc nhất của thế kỷ hai mươi.
Ẩn Tâm Lộ
ngày 25/02/2011