Đáp:
Bạn Lệ
Thu thân mến!
Theo
quan điểm
Phật giáo (Bắc
tông), một
người sau
khi chết có
thể lập tức
tái sanh
(đối với
người tạo
nghiệp cực
thiện hay
cực ác) hoặc
trải qua
giai đoạn
trung gian
từ 1 đến 49
ngày rồi tùy
theo nghiệp
mà tái sanh
vào cảnh
giới tương
ứng. Trừ
những trường
hợp đặc biệt
chết do đột
tử, bất đắc
kỳ tử thường
gọi là chết
oan, c̣n lại
đa phần sau
49 ngày các
hương linh
đều theo
nghiệp tái
sanh.
Khi thần
thức đă theo
nghiệp tái
sanh vào một
cảnh giới
tương ứng
rồi, tất
nhiên phải
chịu thọ báo
(tốt hoặc
xấu) ở trong
cảnh giới ấy.
Cho đến khi
măn nghiệp ở
cơi ấy, nếu
không có
duyên lành
tu tập giải
thoát, th́
thần thức
lại theo
nghiệp tái
sanh vào một
cơi khác. Cứ
thế, chúng
sanh luân
hồi trong ba
cơi sáu
đường không
cùng tận.
Theo
giáo lư Nhân
quả-Nghiệp
báo, những
nỗ lực của
người thân
hướng về
hương linh
như tạo
phước, cầu
nguyện v.v…
chỉ trợ
duyên, ảnh
hưởng tốt
đến hương
linh được
phần nào
thôi chứ
không can
thiệp sâu
vào khuynh
hướng tái
sanh của họ.
V́ mỗi người
đều phải ‘thừa
tự’ nghiệp
lực của
chính ḿnh.
Để được giải
thoát, tự
thân hương
linh phải
tỉnh thức và
hướng thiện.
Không ai có
thể cứu vớt
chúng ta
ngoại trừ
những nỗ lực
tu tập của
chính chúng
ta. Thế Tôn
đă dạy: “Hăy
tự ḿnh thắp
đuốc lên mà
đi. Hăy tự
ḿnh nương
tựa ḥn đảo
chính ḿnh”.
Do vậy,
không nên
nhờ các nhà
ngoại cảm
gọi hồn
người thân
đă mất. Giả
sử gọi được
và gọi đúng
người thân
th́ chúng ta
cũng chẳng
giải quyết
được vấn đề
ǵ. V́ giải
thoát khổ
đau phải do
tự thân mỗi
người thực
hiện. Đó là
chưa kể đến
các trường
hợp gọi
không được
hoặc gọi
không đúng
th́ càng làm
cho vấn đề
phức tạp
thêm. Các
“hương linh”
tiếp xúc với
nhà ngoại
cảm hầu hết
là những
chúng sanh
trong loài
ngạ quỷ (quỷ
thần) và một
số các thần
thức chưa
t́m được
cảnh giới
thọ sanh.
Điều này
chúng ta cần
hết sức lưu
ư v́ giáo lư
đạo Phật
không đề cập
đến cơi âm
mà chỉ nói
đến lục đạo
(trời, a tu
la, người,
súc sanh,
ngạ quỷ và
địa ngục)
cùng thân
trung ấm (thân
trung gian
sau khi chết
mà chưa hội
đủ duyên để
tái sanh).
Do đó, nếu
các hương
linh tiếp
xúc với nhà
ngoại cảm
th́ chắc
chắn họ chưa
giải thoát,
có thể họ đă
tái sanh vào
ngạ quỷ
(loài đông
nhất trong
lục đạo,
sống gần gũi
và có thể
giao tiếp,
thọ hưởng
vật thực
loài người
dâng cúng).
Đối với
vấn đề các
hương linh
đă siêu
thoát th́ có
về nơi thờ
tự không? Ở
đây, chúng
ta cần bàn
thêm về ư
nghĩa siêu
thoát. Siêu
là vượt lên,
thoát là ra
khỏi. Văng
sanh về Tây
phương Cực
lạc (hay các
cơi Phật
khác) hoặc
sanh lên các
cơi lành (thoát
khỏi cảnh
khổ ác đạo)
chính là ư
nghĩa siêu
thoát. Trong
quan niệm
dân gian của
đa phần
người Việt
(ảnh hưởng
văn hóa
Trung Hoa),
bàn thờ gia
tiên là nơi
ngự tọa của
ông bà cha
mẹ sau khi
quá văng. Sự
thật không
phải như vậy.
Theo Phật
giáo, con
người sau
khi chết
theo nghiệp
tái sanh
trong lục
đạo chứ
không ở trên
bàn thờ.
Người Phật
tử lập bàn
thờ để tưởng
nhớ, tri ân
và cầu
nguyện cho
ông bà cha
mẹ quá văng
chứ không
phải là
thiết lập
nơi tọa ngự
cho chư vị.
Theo
Phật giáo,
sự văng sanh
hay siêu
thoát cốt
yếu do sự
tỉnh thức và
chuyển hóa
của hương
linh. Không
có các đấng
siêu nhiên
hay bất cứ
thế lực nào
có thể làm
giúp được.
Đức Phật
cũng chỉ là
đạo sư, bậc
thầy chỉ
đường. Đi
đến đích hay
không là
nhiệm vụ của
chúng ta.
Cũng vậy,
siêu thoát
hay không là
do chính nỗ
lực giác ngộ
của hương
linh. Mặc dù
những trợ
duyên như
tha lực của
Phật và các
vị Bồ tát,
sự hộ niệm
của chư
Tăng, sự
thành tâm
tạo phước
của thân
nhân… là vô
cùng cần
thiết nhưng
không phải
là tác nhân
chính cho
việc thành
tựu siêu
thoát. Ví
như các phạm
nhân đang
thụ án trong
trại giam,
chỉ khi nào
tự thân họ
biết sám hối
ăn năn và
cải tạo tốt
mới có thể
mong ngày
hưởng ân xá,
khoan hồng.
C̣n người
thân dù yêu
thương hay
có điều kiện
đến mấy
quyết lo cho
phạm nhân mà
tự thân phạm
nhân ấy
không tỉnh
thức, cứ
liên tục sai
phạm th́ khó
cứu.
Do vậy,
khi người
thân mất đi,
trách nhiệm
của chúng ta
là tận tâm
dốc ḷng cầu
nguyện và
tạo phước để
hồi hướng,
mong họ siêu
thoát. C̣n
siêu thoát
hay không là
do sự tỉnh
thức chuyển
hóa nghiệp
lực của
chính họ,
thân nhân
chỉ trợ
duyên mà
không thể
can thiệp
được. Cho
nên, không
cần gọi hồn,
triệu hồn,
cầu hồn hay
các phương
pháp tương
tự v́ không
mang đến lợi
ích thiết
thực cho
hương linh
và chỉ tốn
kém, gây lo
lắng hoang
mang thêm
cho thân
nhân.
Trong bối
cảnh cầu
cúng mang
sắc thái
thần quyền
đang nở rộ
hiện nay,
người Phật
tử cần thiết
lập chánh
kiến trong
việc thờ
cúng để khỏi
rơi vào tà
kiến, mê tín
dị đoan.
Chúc bạn
tinh tấn!