|
Tóm
tắt: Chùa
Dâu là một trong những ngôi chùa nổi tiếng ở Việt Nam.
Đây cũng là nơi mà rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu
đến t́m hiểu và nghiên cứu. Mặc dù đă có không ít bài
viết và tác phẩm viết về chùa Dâu, nhưng đề tài: “chùa
Dâu trong bước chuyển biến tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt
Nam” là một sự tiếp cận mới mà trước đó chưa có công
tŕnh nào nghiên cứu. Với đề tài này người nghiên
cứu không chỉ cho người đọc thấy được bao quát về
những đặc điểm chùa Dâu, Phật giáo dưới góc độ
lịch sử, văn hóa, lâu đời từ khi phật giáo
bắt đầu du nhập vào nước ta cho tới tận ngày nay, mà c̣n
tổng hợp, phân tích quá tŕnh chuyển biến giữa tín
ngưỡng bản địa từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam.
Đây là một vấn đề có ư nghĩa rất lớn khi chúng ta đang
sống trong một đất nước mà hầu như không có sự xung đột
tôn giáo và sắc tộc, nghiên cứu vấn đề này vừa có
ư nghĩa khẳng định nền văn hóa Việt Nam là rất đậm đà
bản sắc dân tộc những cũng luôn “mở” để đón nhận những
yếu tố văn hóa mới một cách hết sức linh hoạt. Chính sự
tiếp nhận linh hoạt đó đă không ngừng làm mới mà không
mất đi bản chất của văn hóa Việt Nam đồng thời cũng là
một yếu tố tích cực để chống lại những yếu tố văn hóa
lạc hậu cổ hủ.
Sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo là
một quá tŕnh lâu dài, nó diễn ra liên tục và thay
đổi về cách thức cùng với sự
thay đổi của lịch sử. Sự chuyển biến tín
ngưỡng tôn giáo sẽ không dừng lại cho đến
khi các tôn giáo, tín ngưỡng không c̣n
tồn tại hoặc sự phát triển của sự vật
là độc lập với nhau. Nhưng thực tế
th́ điều này không và chưa thể diễn ra, như thế nó
càng khẳng định sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo là
một quá tŕnh vận động liên tục với nhiều h́nh thức và
cách thức khác nhau. Ở Việt Nam, sự chuyển biến, sự ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các tôn giáo và tín ngưỡng là
rất phổ biến, trong đó quan trọng hơn cả
là sự chuyển biến ảnh hưởng lẫn nhau giữa Phật
giáo - một yếu tố văn hóa ngoại nhập với các yếu
tố văn hóa tín ngưỡng bản địa.
Chùa Dâu là một trong những nới tiếp
nhận đầu tiên của Phật giáo, chính v́ vậy đây cũng là
nơi đầu tiên diễn ra sự
chuyển biến tín ngưỡng tôn
giáo giữa Phật giáo với
các tín ngưỡng bản địa, mở đầu cho sự chuyển biến
trên toàn cơi Việt Nam. Sự chuyển biến đó đă đặt
ra cho chúng ta những câu
hỏi rằng những cơ sở nào
để Phật giáo và các tín
ngưỡng bản địa có thể chuyển biến với nhau và chuyển
biến như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi ấy ta cần t́m
hiểu những vấn đề sau:
- Đặc điểm chùa Dâu
- Đặc điểm Phật giáo
- Những biểu hiện của sự chuyển biến
tín ngưỡng tôn giáo.
1. Đặc điểm chùa Dâu
Đặc điểm thứ nhất là ở chùa dâu là
thờ các hiện tượng tự nhiên. Nói đến chùa ai không nghĩ
đến thờ phật, ở chùa Dâu người ta
cũng thờ phật, nhưng phật ở đây không phải là một
Thích ca như thường lệ, ít ai đến chùa Dâu mà có thể bắt
gặp được một h́nh tượng của phật Thích ca, thậm chí nếu
có th́ cũng chỉ được thờ ở ban phụ. Ở đây người ta đă
h́nh tượng hóa những hiện tượng của tự nhiên như mây,
mưa, sấm, chớp thành những con người cụ thể và tạc tượng
để thờ. Các hiện tượng tự nhiên này đă được nhân dân
thần điệu hóa cùng với sự cộng hưởng của Phật giáo khi
được du nhập vào Việt Nam th́ các hiện tượng
tự nhiên này bỗng chốc trở lên có h́nh khối,
có tính cách và được nhân dân tôn thờ như một con
người cụ thể.
Có hiện tượng thờ các
hiện tượng tự nhiên như vậy là do mây,
mưa, sấm, chớp là những yếu tố không
thể thiếu đối với những người dân nông nghiệp. Đó
là bốn yếu tố quan trọng biểu hiện khi trời
có mưa, mà mưa th́ có nước tưới cây trồng. Họ thờ các
hiện tượng trên tức họ đă hiểu được rằng
nguồn nước là rất quan trong đồi với
sự sống. Với một nền nông nghiệp c̣n sơ khai
th́ điều kiện “mưa thuận gió ḥa” là
rất quan trọng.
Không chỉ thờ các hiện
tượng tự nhiên như trên mà nhân dân nới đây
c̣n thờ thần đất thông qua h́nh tượng của
một Thạch Quang phật. Đất đai là yếu tố quan trọng hàng
đầu của một cuộc sống định cư và làm nông nghiệp lúa
nước. Thờ các hiện tượng tự nhiên như trên đó là một
điểm khác biệt quan trọng của chùa dâu, đồng thời nó
cũng thể hiện sự gần gũi giữa con người với tự nhiên.
Đặc điểm thứ hai là việc thờ tự ở
chùa dâu thiên về nữ tính. Có lẽ ít có một dân tộc nào
có đối tượng tín ngưỡng là phụ nữ
nhiều như ở Việt Nam. Đi suốt từ Bắc
chí Nam, gần như ở địa phương nào cũng có một đền thờ Bà
hoặc Cô. Đầu tiên phải kể đến hệ thống Tứ Pháp ở miền
Bắc thờ Bà Pháp Vân (bà dâu), Pháp Vũ (bà đậu), Pháp Lôi
(bà tướng), Pháp Điện (bà dàn). Sau đó là
Cửu Thiên Huyền Nữ, đến Bà Chúa Liễu Hạnh, Diêu Tŕ
Thánh Mẫu, Bà Chúa Ba, Bà Đá, Bà Đanh. Ở Nha Trang người
ta thờ Bà Thiên Yana, ở Sài G̣n người ta thờ Ngũ hành
Nương Nương, rồi Bà Đen ở Tây Ninh, Bà Chúa Xứ ở Châu
Đốc… Đâu đâu chúng ta cũng thấy các Bà, các
Bà ở đây đều là những biểu tượng linh thiêng nên
không phải là những cô gái trẻ đẹp mà đều là những người
lớn tuổi, quyền uy, có năng lực làm cho mùa
màng tươi tốt, giúp cho các gia đ́nh con đàn
cháu đống, hay ban cho những
đứa con hiếm muộn. Đối với một
nền văn hóa nông nghiệp thuần
túy, hiện tượng này cũng dễ hiểu. Đối với ngư nghiệp th́
người ta cũng có một đối tượng tôn thờ, như ở Long Hải
có Dinh Cô hàng năm lễ hội cũng rất đông.
Thật ra, người Việt Nam xem tất cả
các thần linh là các bà, khuynh hướng đề cao nữ tính ấy
hoàn toàn phù hợp với nền
văn minh nông nghiệp sau khi
đă kết hợp nhuần nhuyễn thuyết âm
dương. Các bà đă có một vị trí linh thiêng trong ḷng
người dân, tất cả đều xem các bà như mẹ, và nhân dân đă
nâng lên gọi là đạo Mẫu. Từ nền tảng này, bất kỳ một
tín ngưỡng ngoại nhập nào
vào đến Việt Nam đều được bản
địa hóa và thành tín ngưỡng Việt
Nam. Bồ tát Quán Thế Âm trở thành Phật Bà cũng từ lư do
đó.
Như vậy việc thờ các phật là nữ là
h́nh thức được nâng cao lên từ tư tưởng trọng nữ, thờ
thần nữ vốn rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc Việt Nam
mà chùa Dâu là một trong những số đó. Đó cũng
là lư do sự chuyển biển giữa Phật giáo với
các tôn giáo bản địa không chỉ diễn ra
ở vùng Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) mà
c̣n diễn ra phổ biến khắp toàn cơi Việt Nam.
2. Cơ sở của phật giáo
Thứ nhất, đạo Phật là một tôn
giáo cho nên không tránh khỏi những yếu tố tự nhiên thần
bí. Trong đạo Phật cũng tồn tại những phép lạ, tồn tại
những nhân vật có sức mạnh siêu nhiên. Đây cũng là
điểm nổi bật của các tôn giáo nhằm thu hút
mọi người, nó làm cho mọi người tin rằng họ sẽ
được bảo hộ bởi một đấng siêu nhiên nào đó.
Thứ hai, đạo Phật tôn trọng con người
và không phân biệt đối xử với phụ nữ. Đây là một đặc
điểm rất phù hợp với quan niệm sống của dân tộc Việt
Nam, chính v́ vậy mà khi Phật giáo vào Việt Nam đă nhanh
chóng nhận được sự đón nhận của nhân dân Việt Nam.
Thứ ba, đạo Phật chỉ cho con người
ta phải sống gấn gũi thương yêu, giúp đỡ lẫn
nhau.
Thư tư, đạo Phật
rất tôn trọng sự sống. Không
sát sanh, ăn chay, là
những điều tượng trưng cụ thể
cho đặc điểm ấy. Đạo Phật xem sự sống
là trên tất cả, cho nên
tôn trọng sự sống không chỉ bằng cách giúp đỡ nhau để
sống mà c̣n phải hy sinh sự sống để bảo vệ sự sống.
Thứ năm, đạo Phật chỉ
thấy và chỉ nói những sự
thật mà sự vật có, không
thêm không bớt. Đạo Phật cấm đoán những tín ngưỡng và
những hành động không phát sinh từ sự kém hiểu biết của
con người.
Thứ sáu của đạo Phật là xác nhận
"người là trung tâm điểm của xă hội loài người". Trên
thế giới loài người này không có ǵ tự nhiên sinh ra hay
từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt
động của con người tạo thành. Năng lực
hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả. Tất cả
khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người
dă man hay văn minh.
Thứ bảy là đạo
Phật dạy phải "tự lực giải
thoát". Con người mới là phải tự
rèn luyện, để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. Với
một số những đặc điểm trên của Phật giáo cho chúng ta
thấy rắng giữa Phật giáo và các tín ngưỡn bản địa là rất
gần gũi với nhau, cùng hướng đến để xây dựng một cuộc
sống con người tốt đẹp hơn, văn minh hơn.
3. Những biểu hiện của sự
chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo.
Với những đặc điểm như trên của chùa
Dâu và Phật giáo cho chúng ta thấy chúng có một sự
tương đồng lớn. Chính sự tương đồng ấy đă
làm cho các tin ngưỡng và tôn giáo này cùng
tồn tại trong một bầu văn hóa chung ở Việt
Nam. Sự chuyên biến giữa chúng không chỉ diễn ra ở vùng
Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) mà c̣n diễn ra trên toàn đất
nước Việt Nam.
v Phật giáo với các
phong tục tập quán
Phong tục tập quán
thể hiện đặc sắc và tính đặc thù về
văn hoá của mỗi dân tộc. Thông qua việc t́m
hiểu phong tục tập quán, người ta t́m lại được những giá
trị văn hoá mang bản chất truyền thống của các dân tộc.
Đối với người Việt Nam, những phong tục tập quán chịu
ảnh hưởng Phật giáo khá nhiều. Sự ảnh hưởng ấy thể hiện
ở một số tập tục phổ biến sau:
Về
ăn chay, hầu
như tất cả người Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của
nếp sống văn hoá này. Ăn chay hay ăn lạt là xuất phát từ
quan niệm từ bi của Phật giáo. Phật giáo với quan điểm
là không sát sinh hại vật, mà
trái lại phải thương yêu mọi
loài. Trong hành động lời nói, nếp nghĩ phải thể
hiện từ bi. Để đạt được mục đích đó con người phải
ăn chay. Ở Việt Nam ngoài những
người xuất gia ăn chay th́
người dân cũng ăn chay. Nhưng họ
ăn chay theo những ngày nhất định, tuần nhất định hoặc
là tháng nhất định tuỳ vào mỗi người. Theo thiền
sư Đinh Lực và cư sĩ Nhất Tâm
“ăn chay rất phù hợp với
phong cách ăn uống Á Đông, chú trọng ăn ngũ cốc nhiều
hơn tực phẩm động vật, vả lại ăn chay giúp cho cơ thể
được nhẹ nhàng, trí óc dược minh măn sáng suốt”
Ăn chay và thờ phật là hai việc đi
đôi với nhau của người Việt Nam. Việc thờ phật trong dân
gian cũng có nhiều thú vị. Người phật tử mộ đạo thờ phật
đă đành, nhiều người không phải phật
tử cũng dùng tượng phật
hay tranh ảnh có yếu tố
phật giáo để chiêm ngưỡng và trang trí
cho cảnh nhà thêm đẹp và trang nghiêm.
Cũng xuất phát từ tinh thần từ bi của
đạo Phật, tục lệ phóng sinh đă ăn sâu vào đời sống sinh
hoạt của quần chúng. Đến các ngày rằm và mùng một, người
Việt Nam thường hay mua cá, mua chim… đem về chú nguyện
sau đó đem đi phóng sinh. Đây là yếu tố thể hiện ḷng từ
bi bác ái như đạo Phật vậy. Mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên luôn gần gũi và gắn bó, nó thể hiện một sự
tác động qua lại nhất định. Người Việt Nam cũng thích
làm phước bố thí và sẵn sàng giúp kẻ nghèo khó hoạn nạn,
nhất là vào các ngày hội, họ thường tập chung về chùa và
tại đây ít nhiều th́ ai cũng bỏ chút ít tiền bạc để gọi
là ḷng thành, và cũng là để góp sức giúp đỡ cho những
người nghèo khó. Tuy nhiên trong xă hội
hiện nay th́ sự tập chung này đă bị
thu hẹp nhưng không v́ thế mà tinh thần giúp đỡ lẫn nhau
của nhân dân bị suy giảm. Ngược lại tinh thần giúp đỡ
lẫn nhau vẫn đựơc phát huy hơn bao giờ hết. Mỗi
khi gặp thiên tai lũ lụt…
th́ mọi người lại cùng nhau chung vai
chung sức, quyên góp của cải để giúp đỡ cho những ngươi
bị nạn. Truyền thống ấy có thể bị thay đổi về h́nh
thức làm việc thiện nhưng nó không bao giờ
mất và vẫn đang ngày càng dày nên cùng với bề dày của
lịch sử dân tộc. Và tinh thần giúp đỡ lẫn nhau đă được
nhân dân đúc kết thành những câu ca, câu thơ
để mọi người có thể dễ dàng chuyền cho
nhau từ đời này sang đời khác:
Lá lành đùm lá rách
Hay
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung
một giàn.
Ấy há chẳng phải là tinh thần từ bi
bác ái của đạo Phật đó ư. Cho đến ngày nay khi quay nh́n
lại cũng khó có thể phân biệt rạch ṛi, chi li một yếu
tố này là của Phật giáo hay yếu tố kia là văn hoá bản
địa.
Hoà vào văn hoá truyền thống th́ tập
tục cúng rằm mùng một vẫn diễn ra một cách khá phổ biến.
Tại địa bàn huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nơi mà
người nghiên cứu đă từng sống và quan sát th́ vào
các ngày như vậy nhân dân nơi đây thường mua hoa
quả hay làm một mâm cơm để cúng lễ. Trong những buổi
cúng lễ, họ cầu nguyện để mời ông bà tổ tiên – những
người đă khuất về dự cùng bữa cơm sum họp với con cháu.
Theo thiền sư Đinh Lực và sư sĩ
Nhất Tâm th́ “tập tục cúng rằm mùng một
là tập tục cúng sóc vọng, túc là ngày mặt trời mặt
trăng thông suốt nhau, cho nên thần thánh tổ tiên có thể
liên lạc, thông thương với con người. Sự cầu nguyện sẽ
đạt đến sự cảm ứng với các cơi giới khác và sự cảm
thông sẽ được thiết lập, là ngày
trong sạch để các vị tăng kiểm điểm hành vi của
ḿnh gọi là ngày bồ tát và ngày sám hối, người tín đồ về
chùa để tham dự ngày sóc vọng là những ngày trường tịnh,
sám hối, ăn chay là xuất phát từ ảnh hưởng của Phật giáo
Đại Thừa”. Vào tuần rằm và mùng một th́ chẳng những phật
tử mà nhân dân địa phương, họ cũng đi chùa để sám hối,
họ cũng ăn chay, cũng niệm phật.
Như
vậy, đó chính là sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa Phật giáo và
các tín ngưỡng Việt Nam. Bên cạnh việc đi chùa sám hối
vào ngày rằm mùng một, người Việt Nam c̣n có tập tục
khác là đi lễ chùa viếng chùa vào những ngày hội lớn như
ngày rằm tháng giêng, rằm tháng tư (Phật đản), rằm tháng
bảy (lễ Vu Lan). Đây là những tập tục dường như gắn liền
với đời sống của người dân Việt Nam. Việc lên chùa vào
những ngày này lại tuỳ vào mục đích của mỗi người, có
người lên chùa để thắp hương cầu nguyện, nhưng có những
người lên chùa chỉ là để thăm văn cảnh chùa. Nhưng dù
với bất cứ mục đích nào th́ chỉ cần đó là một mục đích
chân chính, nhà chùa lúc nào cũng mở rộng cánh của
chào đón đối với thập phương bá tánh, nhất
là các ngày lễ hội lớn của Phật giáo và của
dân gian. Những h́nh ảnh mà mọi người lên chùa đó đă góp
phần tạo nên bản sắc và nét đẹp văn hoá của dân
tộc Việt Nam. Họ hội nhập vào bầu không khí trang
nghiêm và cũng thấy ḿnh trở nên an định
hơn. Đây cũng là yếu tố làm cho đạo Phật trở nên gần gũi
với nếp sống của người dân. Đó là yếu tố
riêng có của văn hoá Việt Nam, hiếm có một nơi nào mà
Phật giaó lại gần gũi với cuốc sống của người dân như
vậy.
Như vậy là giữa Phật giáo và phong
tục tập quán của người Việt dường như đă gắn bó với
nhau. Chúng tồn tại cùng nhau nhưng vẫn không làm mất đi
cái bản chất riêng có của nó. Các phong tục
tập quán của người Việt như ăn uống, lễ tết…
ngoài chịu sự tác động của một nền nông
nghiệp sâu sắc th́ nó cũng bị các yếu tố của
Phật giáo tác động mạnh mẽ. Trong Phật giáo ngoài
thờ Phật th́ cũng có bàn thờ ông bà tổ
tiên hay những người không phải là
phật tử nhưng cũng lên
chùa thăm viếng. Chính sự tác
động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau đó giữa Phật giáo
và các phong tục tập quán đă làm cho chúng bớt phần “đơn
điệu” và cũng góp phần làm phong phú thêm cho bản sắc
văn hoá Việt.
v Phật giáo với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên
H́nh thức thờ cúng
tổ tiên đó là tín ngưỡng nhớ đến người
đă khuất. Đó là truyền thống ăn quả nhớ kẻ
trồng cây của nhân dân Việt Nam. Những người được
thờ cúng là những người có công lao đặc biệt trong
các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, hay những người có
công khai phá đất đai, mở rộng lănh thổ. Và gần gũi hơn
đó là những người có công sinh thành dưỡng dục. Đó là
những bậc ông bà, cha mẹ. V́ vậy mà nhân dân đă có câu:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn
chảy ra.
Tưởng nhớ đến người đă khuất, đó là
một đạo lư của người Việt Nam. Chính đạo lư ấy đă góp
phần hoàn thiện “mặt người” của con người. Chỉ trong thế
giới của con người mới h́nh thành được cái yếu tố nhớ về
cội nguồn. Nhớ về cội nguồn, thờ cúng người đă khuất
chẳng là một cái mốc quan trọng để con người nguyên thuỷ
thoát khỏi loài vượn đó sao! Đó là yếu tố đánh dấu sự
phát triển của bộ óc, đánh dấu sự phát triển của
tư duy.
Con người Việt Nam ngay từ khi sinh
ra đă được sự giáo dục của người đi trước là phải có
ḷng biết ơn, ghi nhớ những ǵ người đi trước đă xây đắp
mà bây giờ các thế hệ con cháu đang thừa hưởng. Đó là
nền tảng để mỗi con người Việt biết nhớ về cội nguồn.
Có thể nói con người Việt Nam
ngay từ khi sinh ra cho đến khi chết đi, con người
Việt Nam đă được sống trong truyền thống thờ cúng tổ
tiên. Truyền thống này ngày càng được củng cố thêm qua
các thế hệ của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng là
một yếu tố làm chất xúc tác để cho tính cộng đồng,
tính dân tộc thêm bền
chặt. Nhờ đó mà người Việt Nam thêm
đoàn kết, nhất là những lúc đất nước
gặp nguy hiểm, họ sẵn sàng đoàn kết nhau lại trở thành
một khối với sức mạnh to lớn. V́ vậy, kẻ thù dù nguy
hiểm đến đâu cũng bị đánh bại. Giai cấp phong kiến
phương Bắc sau hơn ngàn năm đô hộ nhưng không thể đồng
hoá được nhân dân Việt Nam. Truyền thống thờ
cúng tổ tiên “đậm đặc” của dân tộc
là một đặc trưng của người Việt.
Phật giáo, một tôn giáo có giáo lư từ
bi bác ái hướng con người đến cuộc sống b́nh yên,
rất phù hợp với yếu tố
“uống nước nhớ nguồn” của
nhân dân. Người Việt Nam thường thắp hương cầu
nguyện ông bà tổ tiên phù hộ cho cuộc sống của họ được
b́nh yên vô sự. Như vậy, Phật giáo chẳng phải rất phù
hợp với tín ngưỡng cổ truyền đó sao! Khi làm lễ táng cho
người đă khuất, những người sống đă ra các chùa mời các
vị sư về cầu cho linh hồn người chết nhanh chóng được
giải thoát. Cầu cho linh hồn trên đường về “suối vàng”
được thuận lợi. Trong việc thờ cúng ông bà tổ tiên của
người Việt th́ trên bàn thờ ngoài bát hương dành cho ông
bà tổ tiên, thông thường c̣n có một bát hương cho Phật
và thông thường cũng là Phật bà quan âm. Trong tất cả
các buổi cúng lễ tuần, năm… người Việt Nam trong cầu
nguyện hay đọc rằng “nam mô A-di-đà Phật”. Câu nói ấy
hẳn là một bằng chứng xác thực chứng minh rằng sự chuyển
biến lẫn nhau giưa đạo thờ cúng tổ tiên của người Việt
Nam và Phật giáo. Người Việt Nam thờ Phật hoặc có những
hoạt động nghi lễ thờ Phật
nhưng họ không hẳn là
những người theo Phật giáo. Họ
chỉ là nhưng người dân b́nh thường nhưng có ḷng
hướng Phật, hướng theo cái đạo lư từ bi của Phật giáo.
Ngược lại, Phật giáo là một tôn giáo nên có giáo lư
riêng của ḿnh nhưng khi vào Việt Nam, nó phải mở
rộng giáo lư của ḿnh để đón nhận
các yếu tố bản địa của
người Việt. Một trong số các yếu tố
đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như đă phân tích ở
trên. Trong thờ cúng, th́ các vật phẩm dùng để thờ cúng
cũng khó có thể phân biệt rạch ṛi là cái nào vốn có của
Phật giáo và cái nào vốn có của bản địa. Điều đó nói lên
sự hoà đồng các yếu tố bản địa và các yếu tố ngoại lai.
Trong chùa ngoài thờ cúng Phật c̣n có thờ cúng
những anh hùng có công với đất nước. Tại nhà th́
người Việt Nam ngoài thờ cúng tổ tiên c̣n có thờ
cúng Phật.
v Phật giáo với đạo
Mẫu
Tín ngưỡng thờ mẫu
là một tín ngưỡng bản địa
của người Việt. Ngay từ nguyên thuỷ,
khi mà khoa học c̣n chưa phát triển, tự
nhiên c̣n chi phối cuộc sống con người.
Nền nông nghiệp lúa nước là yếu tố
sản xuất đầu tiên, là cơ sở để tồn tại của con người.
Nền nông nghiệp cũng đă phụ thuộc vào yếu tố đó là
đất, nước… v́ vậy mà mẹ đất, mẹ nước đă h́nh thành. Cuộc
sống buổi đầu phải phụ thuộc vào các nguồn thức ăn mà họ
săn bắt được từ rừng và thế là mẹ rừng xuất hiện (mẫu
thượng ngàn). Như vậy, thờ mẫu là họ quan niệm đến một
sự sinh sôi nảy nở. Mẫu có thể là những
thành tố của tự nhiên như một số yếu tố kể
trên nhưng có thể là một con người cụ thể như mẫu Liễu
Hạnh hay Man Nương trong truyền thuyết cổ về chùa Dâu..
Thế nhưng với sự du nhập và
phát triển của Phât giáo, đạo Mẫu đă nhanh chóng dung
hoà và tiếp nhận những yếu tố của Phật giáo.
Trong hầu hết các đền thờ Mẫu của Việt Nam, th́
ngoài việc thờ mẫu vẫn dành riêng một phần cho thờ Phật.
Yếu tố Phật giáo gần như bị bản địa hoá hoà nhập vào với
đạo Mẫu mà ít có một dân tộc nào trên thế giới có sự hoà
nhập như vậy.
Trong khi các nước khác trên thế
giới, th́ sự phát triển của các tôn giáo dường như là
độc lập và cạnh tranh nhau. Ở Việt Nam th́ đó là sự phát
triển xen kẽ. Trong các chùa thờ Phật th́ vẫn thờ các
cô, các cậu. Đó là tín ngưỡng thờ Mẫu. Thậm chí, các
Phật trong chùa Việt Nam cũng thiên về nữ tính. Theo
Trần Ngọc Thêm th́: “các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là
đàn ông, sang Việt Nam biến thành Phật ông - Phật bà, bồ
tát Quán thế âm đă được biến thành Phật bà quan âm với
ngh́n mắt, ngh́n tay, là vị thần hộ mệnh của cư dân khắp
vùng sông nước Đông Nam Á. Ở một số vùng ngay cả Phật
tổ Thích ca cũng được coi là phụ nữ. Người Việt c̣n tạo
ra Phật bà riêng của ḿnh. Đứa con gái của Man Nương,
tương truyền sinh vào ngày 8/4, được xem là Phật tổ Việt
Nam. Bản thân bà Man Nương trở thành Phật mẫu”. Việc đạo
Phật có ảnh hưởng đến đạo thờ Mẫu
c̣n thể hiện qua hàng loạt tên
các chùa như chùa bà Dâu, chùa bà Đậu, chùa
bà Tướng… không những vậy mà người đi chùa theo
quan sát của nhóm nghiên cứu tại địa bàn chùa Dâu, Thuận
Thành, Bắc Ninh và các chùa trong hệ thống chùa Tứ Pháp
th́ người đi chùa cũng chủ yếu là phụ nữ và các bà
già. Thật đúng theo tinh thần “trẻ
vui nhà, già vui chùa”. Tại chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ
Pháp ở Bắc Ninh, th́ người trực
tiếp trông chùa, chịu trách
nhiệm bảo vệ dọn dẹp chùa cũng
đều là các bà tại địa phương. Các bà với
kinh nghiệm của ḿnh đă được Sở Văn hóa Thông tin giáo
cho trách nhiệm trông chùa và hướng dẫn du khách tham
quan và đi lễ chùa.
Tất cả những điều như trên cho thấy
tư tưởng trọng nữ của người dân Việt Nam đă có tác động
mạnh đến đạo Phật như thế nào. Có những đặc điểm như vậy
là do Phật giáo Việt Nam thiên về nữ tính mà nguồn gốc
sâu xa của nó là đạo thờ Mẫu.
v Phật giáo với lễ
hội văn hoá ở chùa Dâu
Lễ hội cổ truyền là một h́nh thức
sinh hoạt văn hoá dân gian có lịch sử rất lâu đời và
mang tính dân tộc vô cùng sâu sắc. Cùng với lịch sử phát
triển nhân loại, lễ hội cũng trải qua những biến đổi
thăng trầm. Có những thời kỳ h́nh thức sinh hoạt văn hoá
này hầu như bị lăng quên, thậm chí bị bài xích, cho rằng
lễ hội mang màu sắc mê tín dị đoan. Sở dĩ có hiện
tượng đó là v́ lễ hội vốn là
loại h́nh rất phức tạp, bao gồm nhiều đặc
điểm, nhiều tính chất và nhiều phương diện. Thoạt nh́n,
tưởng như chúng trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau. Trong
lễ hội ta thấy sự nghiêm trang, kính cẩn, mực thước của
các nghi lễ và nghi thức khá chặt
chẽ, đồng thời lại có
những tṛ diễn, tṛ chơi
dân gian hết sức vui nhộn, những
tṛ chơi đặc biệt độc đáo mà ai đó thử một lần th́ chắc
sẽ khó quên.
Một điểm đặc biệt của lễ hội Việt Nam
là lễ hội thường được tổ chức tại chùa. Việc tổ chức như
vậy cho thấy ngay được mối quan hệ giữa yếu tố văn hoá
dân gian và lễ hội với Phật giáo. Lễ hội chùa Dâu từ lâu
đă đi vào tâm trí của của người dân nơi đây, nó như một
món ăn tinh thần mà hàng năm vào ngày 8-4 mọi người từ
khắp mọi nơi đều tụ họp về đây để chẩy hội chùa.
Dù ai ăn đâu làm đâu
Tháng tư ngày tám hội Dâu th́ về
Dù ai xuôi ngược trăm bề
Tháng tư ngày tám nhớ về hội Dâu.
Hằng năm đến ngày
8 tháng 4, nhân dân Tổng
Khương xưa và nhân dân
Thuận Thành ngày nay đều tổ chức lễ hội chùa Dâu để
tưởng nhớ Man Nương và Tứ Pháp và hội Dâu đi
vào ḷng nhân dân từ thủa
ấy. Vào ngày 6-4 hằng năm
là các xă thuộc huyện Thuận
Thành vào đám. Thứ tự tổ chức ngày hội: Ngày 6-4, làm lễ
hạ bệ để phong áo các tượng, riêng có mẫu tổ là không
hạ, chỉ phong áo. Ngày 7-4, rước đức Pháp Vân về đ́nh
Công Hà, rước đức Pháp Vũ về đ́nh An Khao, rước đức Pháp
Lôi về đ́nh Luỹ, rước đức Pháp Điện về đ́nh Văn Quan,
bốn bà được thờ tại các đ́nh đă kể trên một đêm, sáng
ngày mùng 8-4 th́ rước từ các đ́nh trở về chùa Dâu, qua
hành động rước Phật qua lại như vậy cho ta thấy quan hệ
giữa đạo Phật với tục thờ Thành hoàng. Đ́nh là nơi sinh
hoạt chung cho cả làng nên thường gọi là đ́nh làng, nơi
dùng thờ tự những người có công với làng, với đất nước
hoặc nhiều nơi đ́nh cũng là nơi thờ Thành hoàng làng. Và
như thế giữa việc thờ Thành hoàng làng và thờ Phật đều
đă có ảnh hưởng lẫn nhau. Đó là một nét đặc trưng của
văn hoá Việt Nam.
Trong tín
ngưỡng dân gian tôn thờ các hiện tượng
tự nhiên, liên quan đến sản suất nông nghiệp,
người Việt cúng trời đất, tôn
thờ các hiện tượng tự nhiên như mây,
mưa, sấm, chớp. Lễ hội Tứ Pháp là sự mô phỏng lại quá
tŕnh sinh ra mưa của trời đất. Nhưng tại chùa Dâu, cụ
thể là tại thôn Khương Tự, hội chùa Dâu được giải thích
rơ là: “ngày hội con
đưa mẹ nuôi về thăm mẹ đẻ”.
Hội chùa Dâu ngoài việc rước tượng Tứ
Pháp để cầu mưa giống như một số nơi. Ngày
hội ở chùa Dâu c̣n có điểm khác với một số nơi, đó là
trở thành ngày hội kết chạ giữa các làng quê (là việc
giao lưu giữa các làng này với làng khác).
Như vậy, hội chùa Dâu vừa thể hiện
yếu tố Phật giáo là hội chùa, nhưng đồng thời nó cũng
chất chứa nhiều yếu tố văn hoá dân gian như kéo
co, hát, múa… Hội chùa Dâu c̣n mang t́nh chất cộng đồng
sâu sắc, mỗi dịp lễ hội là mỗi dịp mọi người cùng nhau
lên chùa, cùng nhau vui chơi. Những bầu không khí đẹp
như vậy càng trở nên cần thiết hơn trong bối cảnh ngày
nay khi mà môi trường công nghiệp đang ngày càng phát
triển, mọi người làm việc có tính chất độc lập hơn so
với sản xuất nông nghiệp. Chính v́ vậy mà cơ hội gặp gỡi
chuyện tṛ để hiểu nhau cũng ít diễn
ra. Do vậy, những ngày hội là những ngày mọi người
có cơ hội tập chung, có cơ hội gần gũi nhau để từ đó
thắt chặt thêm t́nh đoàn kết dân tộc.
Như vậy, Phật
giáo từ khi vào Việt Nam đă gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến
mọi người dân Việt Nam. Phật giáo đă thâm nhập vào tâm
hồn, nếp nghĩ, lối sống của dân tộc Việt và đă trở thành
bản sắc của dân tộc. Trong bài xă luận của tạp chí “Phật
giáo Việt Nam” đă viết:
“Trong tâm hồn dân tộc Việt Nam
thật đă có sẵn mầm mống tinh thần Phật giáo. Hèn ǵ mà
đạo Phật với dân tộc việt Nam trong gần 2000
năm nay, bao giờ cũng theo nhau như bóng với h́nh.
Đă là viên đá nền tảng cho văn hóa dân tộc, cố nhiên
Phật giáo Việt Nam vĩnh viễn phải là một yếu
tố bất ly của cuộc sống toàn diện. Ngày nay
những hào nhoáng của một nền văn minh vật chất đă làm mờ
mắt một số đông người, nhưng nền tảng cơ bản cảu nền văn
hóa Việt Nam vẫn đang c̣n bền chặt, khiến cho người Việt
Nam dù có bị lôi cuốn phần nào trong một
thời gian rồi cũng quay đầu trở lại với cội
nguồn yêu dấu ngày xưa”.
Đạo Phật đă ảnh hưởng đến mọi sinh
hoạt của người Việt Nam từ triết lư tư tưởng, đạo đức
văn hóa, nghệ thuật cho đến phong tục tập quán. Càng t́m
hiểu và càng suy ngẫm ta càng thấy nhận định trên đúng
đắn. Từ nhân sinh quan, thế giới quan đạo lư thẩm
mỹ cho đến những lời hay ư
đẹp, tục ngữ chẳng hạn “Ở
hiền gặp lành” cũng đâu đó
bắt nguồn từ triết lư nhân quả của đạo Phật, rồi đến các
ngày rằm, mồng một, lễ tết, lễ hội… mọi người đều bận
rộn nhưng vẫn bớt chút thời gian lên chùa có thể là đi
lễ cầu nguyện, song cũng có thể là chỉ đi thăm viếng
b́nh thường, chung vui lễ hội hoặc là để t́m hiểu
những nơi linh thiêng ấy. Chùa làng cho đến ngày nay vẫn
giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng của cư dân Việt Nam nhất là những vùng nông nghiệp
như tại địa phận huyện Thuận Thành là nơi có chùa Dâu
tọa lạc. Tại đây từ các cụ ông, cụ bà hay thanh niên
trai gái đều không quên lên chùa mỗi khi lễ hội hay các
ngày rằm lễ tết.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không
ít kẻ đă lợi dụng Phật giáo, bày ra những điều mê
tín dị đoan, làm ảnh hưởng đến h́nh ảnh tốt
đẹp của Phật giáo trong ḷng nhân dân.
Do đó chúng ta cần phải có một sự
nhận thức đúng đắn, cần phát huy những mặt tích cực,
đồng thời cũng loại bỏ những yếu tố hủ
tục lạc hậu, để làm cho Phật giáo thêm
“trong sạch” và phát triển phù hợp với xu
thế của thời đại. Nhất là trong bối
cảnh ngày nay xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, các
nền văn hóa ngoại nhập đang tràn vào Việt Nam một cách ồ
ạt, v́ vậy cần phải có một nhận thức đúng đắn, biết gạn
lọc tiếp thu những cái tốt và giải trừ những cái
xấu. Do đó việc xây dựng một nền văn hóa lành mạnh
đậm đà bản sắc dân tộc với những tư tưởng truyền thống
tốt đẹp cũng là cơ sở giúp có thể nhận định, sàng lọc
t́m ra những yếu tố văn hóa tiên tiến, mới
mẻ, phù hợp với yêu cầu phát triển của xă hội Việt Nam.
Sự chuyển biến tín ngưỡng tôn giáo đă tạo nên một sự hoà
hợp giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo trong lịch sử,
đó chính là sự thích nghi “tuyệt hảo” giữa yếu tố
bản địa và yếu tố ngoại nhập. Ngày nay Việt Nam
vẫn c̣n tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín
ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng và nghi lễ nông nghiệp… nhưng
Việt Nam vẫn có Phật giáo. Đó chính là nét riêng có
trong văn hoá Việt Nam.
Trần Tiến Đạt
Ảnh internet
Tài liệu tham khảo:
1. Năm 2003,
Tạp chí nghiên cứu Phật
học, số 3.
2. Thiền sư
Đinh Lực, cư sĩ Nhất Tâm (2003),
Tôn giáo và lịch sử văn minh
nhân loại – Phật giáo Việt Nam và thế giới,
Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
3. Trần ngọc
Thêm (1998), Cơ sở Văn
hoá Việt Nam, Nxb Giáo
Dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Hữu
(2007), Chùa Dâu lịch
sử và truyền thuyết,
Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
5. Nguyễn Lang
(1994), Việt Nam Phật
giáo sử luận, tập1,Văn
học,Hà Nội.
6. Nguyễn Mạnh
Cường (2003),
Chùa Dâu – Tứ pháp và hệ
thống các chùa Tứ pháp,
Nxb Khoa học Xă hội, Hà Nội
|