Ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu trên
lơng thực, dinh dưỡng
Biến
đổi khí hậu sẽ làm giảm sản
lượng lương thực trên thế giới
và tạo ra các cơn khủng hoảng
lương thực trầm trọng.
Khi
nồng độ khí CO2 trong không khí
tăng lên th́ năng suất của một
số thực vật gọi là C3 như lúa,
lúa ḿ, đậu nành, khoai tây, rau
…tăng lên nhiều hơn các thực vật
C4 như bắp, mía , kê, lúa miến.
Tuy nhiên chất lượng của chúng
có phần giảm đi, thí dụ như hàm
lương can xi, tinh bột trong hạt
gạo thay đổi cũng như nhiệt độ
gelatin hóa của nó.
Nhiệt
độ không khí có ảnh hưởng lớn
đến năng suất cây trồng v́ các
loại cây lương thực hiện nay đă
thích nghi với nhiệt độ b́nh
thường, sự tăng hay giảm nhiệt
độ sẽ làm giảm năng suất của
chúng. Người ta dự đoán rằng,
với việc trái đất ấm dần lên
năng suất nông nghiệp ở các nước
đang phát triển sẽ giảm đi từ 9
đến 21%, trong khi ở các nước
phát triển năng suất chỉ giảm
6%. Theo báo cáo Stern của chính
phủ Anh quốc, nếu nhiệt độ trái
đất tăng lên 3oC, giá lương thực
trên thế giới sẽ tăng 40%và ở
vùng nhiệt đới sẽ có từ 100 đến
500 triệu người thiếu đói.
Các
hiện tượng cực đoan như nắng
nóng, rét đậm rét hại, băo lũ
cũng làm cho sản xuất lương thực
bị ảnh hưởng. Trong đợt nắng
nóng vào mùa hè năm 2003, sản
lượng bắp ở Pháp đă giảm đi 20%
so với năm 2002 c̣n sản lượng
hoa quả giảm 25%.
Một ảnh
hưởng xấu của biến đổi khí hậu
đến sản xuất lương thực xảy ra
khi mực nước biển dâng cao.
Người ta tính rằng vào năm 2100,
mực nước biển sẽ cao hơn mực
nước năm 2000 là 0,48 m trong
trường hợp tốt nhất (nồng độ CO2
khí quyển là 450 ppm) và là 0,96
m trong trường hợp xấu (nồng độ
khí CO2 là 950 ppm) Theo báo cáo
của Ngân hàng Thế giới năm 2007,
Việt Nam là một trong 5 nước
chịu ảnh hưởng xấu nhất của hiện
tượng mực nước biển dâng cao
(h́nh 10).
Khi mực
nước biển dâng cao 1m, trong số
5 nước nêu trên th́ Việt Nam bị
thiệt hại nhiều nhất về số dân
bị ảnh hưởng (gần 11%), về giá
trị GDP bị giảm (11%). về diện
tích các đô thị bị ngập (10%) và
về diện tích các vùng ngập nước
ngập mặn đă bị mất đi. Về tỷ lệ
đất nông nghiệp bị mất (7%) Việt
nam chỉ ít hơn Ai Cập (13%). Sản
lượng nông nghiệp của ta sẽ bị
giảm đi khoảng 5 triệu tấn thóc.
Một
nguyên nhân có liên quan đến
biến đổi khí hậu và làm cho an
ninh lương thực trên thế giới bị
tổn hại: đó là việc nhiều quốc
gia chuyển một phần đất trồng
cây lương thực thành đất trồng
cây sản xuất nhiên liệu sinh
học. Một khi không đủ lương thực
th́ người ta phải chấp nhận sự
suy giảm về mặt dinh dưỡng.
Cộng
đồng quốc tế hiện nay đang t́m
các biện pháp giảm thiểu các khí
thải nhà kính, đặc biệt là thành
phần quan trọng nhất, khí CO2.
Các khí khác như mê tan, oxit
nitrơ cũng được để ư đến nhiều
và người ta thường quy các khí
thải nhà kính vào CO2 để có khí
CO2 tương đương (CO2e). Mặc dù
lượng mê tan trong không trung
ít hơn nhiều so với lượng CO2
nhưng tác động của nó để gây ra
biến đổi khí hậu lại lớn hơn
nhiều, một phân tử mêtan gây ảnh
hưởng trên khí hậu gấp 21 lần
một phân tử CO2. Đối tương mà
khoa học nhắm đến trước hết là
các nhiên liệu hóa thạch (than,
dầu mỏ…) v́ chúng tạo ra nhiều
khí thải nhà kính. Ngành chăn
nuôi súc vật để lấy thịt cũng là
một nguồn tạo ra khí thải nhà
kính quan trọng cho nên việc
giảm thiểu các loại gia súc cũng
là một biện pháp hữu hiệu.
Tổng
quan về ngành chăn nuôi trên thế
giới
Ngành
chăn nuôi súc vật để lấy thịt
dùng cho bữa ăn đang phát triển
rất nhanh chóng nhất là ở những
nước đang phát triển. Lượng thịt
sản xuất trên thế giới tăng lên
rất nhanh trong những năm cuối
của thế kỷ 20:
Năm
....... Sản lượng thịt (triệu
tấn)
1950
.......... 45
1980 .......... 73
1990 .......... 170
1997 .......... 210
1999 .......... 217
2000 .......... 233
2002 .......... 239
2006 .......... 276
Từ năm
1950 đến năm 2000, lượng thịt
sản xuất trên thế giới đă tăng
từ 45 triệu tấn lên 233 triệu
tấn tức là khoảng 5 lần trong
khi dân số trên thế giới chỉ
tăng gấp đôi, từ 2,7 tỷ lên 6,7
tỷ người. Lượng thịt tiêu thụ
hàng năm tính theo đầu người ở
các nước đang phát triển tăng
lên từ 14 đến 28 kg giữa các năm
1980 và 2002, con số tương ứng ở
các nước phát triển là 73 và 78
kg, sản lượng thịt trên toàn thế
giới tăng từ 73 triệu tấn lên
239 triệu tấn.. Thịt từ các súc
vật thuộc loài nhai lại (trâu,
ḅ, dê cừu) tăng ít hơn thịt
heo,gà, vịt. Trên h́nh 11, ta
thấy có những thay đổi rất lớn
về lượng thịt tiêu thụ hàng năm
của mỗi người dân ở một số nước.
Ngành
chăn nuôi gia súc để lấy thịt
không những tạo ra những lượng
khí thải nhà kính quan trọng gây
biến đổi khí hậu trong tương lai
mà trước mắt nó c̣n là một nguồn
gây ô nhiễm môi trường quan
trọng.
Ngành chăn nuôi lấy thịt gây ô
nhiễm môi trường
Chăn
nuôi là một ngành gây ô nhiễm
môi trường rất lớn.
Ô nhiễm
không khí : những chất khí như
mêtan, ammônhác… bay ra từ các
chất thải và phân súc vật gây ô
nhiễm trầm trọng chung quanh các
trại chăn nuôi lớn
Ô nhiễm
nguồn nước: những chất thải ra
từ các trại chăn nuôi vào các
nguồn nước có thể là ni tơ (dưới
dạng ammônhác, Nitơ phân tử, các
nitrát,…). 64% lượng ammônhác do
con người tạo nên là từ chăn
nuôi. Ammônhac trong không khí
sẽ gây ra những trận mưa axit
rất tai hại. Nitrát là một chất
có hại cho sức khỏe con người
nhất là trẻ em nếu uống nước có
lẫn các nitrat. Phốtpho có trong
phân súc vật thải vào các nguồn
nước cũng là một chất gây ô
nhiễm, tuy không độc như ni tơ.
Trong một tài liệu của Tổ chức
Lương Nông quốc tế năm 2004,
người ta đă xác định lượng nitơ
và phốt pho chảy vào biển Đông
từ Việt Nam, Thái Lan và tỉnh
Quảng Đông (Trung quốc) có nguồn
gốc từ việc chăn nuôi heo. Riêng
đối với Việt Nam, các ô nhiễm
Nitơ và Phốt pho từ việc nuôi
heo chiếm 38 và 92% của tổng
lượng trong các nguồn nước,
trong khi tỷ lệ đóng góp của các
loại nước thải gia đ́nh chỉ là
12 và 5%.
Các
loại vi sinh vật và kư sinh
trùng thải ra từ phân, rác chăn
nuôi cũng là một hiểm họa lớn
cho sức khỏe con người.
Ngoài
ra ngành chăn nuôi c̣n thải vào
các nguồn nước uống những kháng
sinh, hoóc môn tăng trọng đă
được đưa vào thức ăn gia súc.
Ngoài các tác động đến môi
trường của những phân, rác trong
chăn nuôi th́ các khâu giết mổ,
thuộc da …cũng đều gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng. Các kim
loại nặng do súc vật thải ra sau
khi ăn các thực phẩm có trộn
thuốc chữa bệnh hay thuốc tăng
trọng cũng có hại cho sức khỏe
con người.
Một tác
động lớn đến môi trường của
ngành chăn nuôi là việc chiếm
giữ tài nguyên nước, đặc biệt
quan trong ở các vùng khô cằn.
Ngành chăn nuôi cần rất nhiều
nước, sử dụng 8% lượng nước do
con người khai thác không những
để cho súc vật uống (nước chiếm
từ 60 đến 70% trọng lượng cơ
thể) mà c̣n trong việc trồng cây
thực phẩm cho súc vật. Trên thế
giới, 90% đậu nành được dùng làm
thức ăn gia súc. Nếu để sản xuất
1kg bắp người ta chỉ cần 900 lít
nước th́ muốn có 1kg thịt ḅ,
lượng nước cần dùng lên đến
15500 lít.
Ngành
chăn nuôi cũng chiếm giữ rất
nhiều diện tích đất để làm các
đồng cỏ và để trồng các cây thực
phẩm cho súc vật. Đất làm đồng
cỏ chiếm đến 26% diện tích đất
trên thế giới không bị băng
tuyết bao phủ, đất trồng thức ăn
chăn nuôi chiếm 33% đất trồng
trọt được trên thế giới. Khoảng
70% rừng vùng Amazon đă bị phá
để dùng cho chăn nuôi.
Thịt
là một sản phẩm sử dụng không
hợp lư
Thịt là
một loại prôtêin cao cấp nhưng
việc sản xuất ra nó tỏ ra rất
lăng phí. Người ta tính rằng,
hiện nay trên thế giới 1/3 ngũ
cốc được dùng làm thức ăn trong
chăn nuôi cũng như 90% sản lượng
đậu nành. Để có được 1kg thịt ḅ
người ta cần 10 kg ngũ cốc làm
thức ăn cho chăn nuôi, 1 kg thịt
heo cần từ 4 đến 5,5 kg ngũ cốc,
1 kg thịt gia cầm cần 2,1 đến 3
kg ngũ cốc.
Phải sử
dụng từ 7 đến 16 kg đậu nành để
tạo ra 1 kg thịt do đó người ta
đă lăng phí 90% prôtêin, 99%
hydratcacbon và 100% chất xơ là
những chất cần cho sức khỏe con
người. Nếu chỉ trồng rau, quả,
ngũ cốc cho người ăn th́ 1 hécta
đất có thể nuôi 30 người trong
khi nếu sử dụng đất để trồng
thức ăn cho chăn nuôi để sản
xuất ra thịt, trứng, sữa th́ 1
hécta chỉ nuôi được từ 5 đến 10
người dân.
Tác
động quan trọng nhất của ngành
chăn nuôi trên biến đổi khí hậu
là việc thải ra nhiều khí nhà
kính trong quá tŕnh sản xuất
thịt.
Ngành chăn nuôi tạo nhiều khí
thải nhà kính gây biến đổi khí
hậu
Chăn
nuôi là một ngành tạo ra nhiều
khí thải nhà kính trong rất
nhiều khâu, phá rừng để dành đất
trồng trọt các thức ăn cho gia
súc, sản xuất phân đạm, sử dụng
nhiên liệu trong các máy nông
nghiệp…. Các gia súc thuộc loài
nhai lại c̣n phát ra khí mê tan
qua việc tiêu hóa trong ruột của
chúng và phân súc vật nếu không
được ủ kín sẽ cho thoát mêtan và
oxit nitrơ ra không trung. Trên
h́nh 12, người ta biểu thị lượng
khí CO2 tương đương (tính bằng
kg) phát tán ra cho mỗi kg thành
phẩm như lúa gạo, thịt, len
cừu….
Hiện
nay, ngành nông nghiệp tạo ra
22% khí thải nhà kính trong
lượng khí thải tổng cộng phát
tán ra không trung. Trong số đó,
chăn nuôi đóng góp đến 80%,
nghĩa là ngành chăn nuôi tạo ra
18% tổng lượng khí thải nhà
kính. Trong lượng khí thải này
có 9% là CO2, 37% là mêtan và
65% là oxit nitrơ. Nếu mêtan
mạnh gấp 21 lần CO2 trong việc
gây ra biến đổi khí hậu th́ oxit
nitrơ c̣n mạnh gấp 296 lần. Năm
2007, một nhà nghiên cứu người
Nhật đă tính rằng để có 1 kg
thịt ḅ người ta đă cho thoát ra
không trung 36,4 kg khí CO2 tức
là tương đương với việc lái xe
liên tục trong 3 tiếng đồng hồ
đồng thời quên tắt đèn trong nhà
hay cũng tương đương với việc
thắp một bóng đèn 100 watt trong
20 ngày. Khí thải nhà kính có
nguồn gốc từ ngành chăn nuôi c̣n
nhiều hơn khí thải nhà kính có
nguồn gốc từ mọi phương tiện
giao thông trên thế giới (xe cộ
đường bộ, hàng không ...) chỉ là
14%.
H́nh 13
cho thấy tỷ lệ khí thải nhà kính
phát ra từ các khâu có liên quan
đến chăn nuôi.
Trước
hết là khí mê tan sinh ra trong
tiêu hóa của các loài nhai lại.
(86 triệu tấn/ năm). Trong dạ
dày của chúng, hiện tượng lên
men vi sinh biến các chất xơ
thành những sản phấm hấp thụ
được trong ruột, mê tan là một
chất thải tiêu hóa sẽ bị tống ra
ngoài.
Phân
súc vật khi phân hủy trong môi
trường yếm khí cũng phát ra khí
mê tan (18 triệu tấn mỗi năm).
Người ta có thể sử dụng phân súc
vật để tạo ra khí sinh vật trong
các hầm ủ hay bể tiêu hóa. Phân
súc vật c̣n cho thoát ra một
lượng lớn oxit nit rơ (khoảng
3,6 triệu tấn/năm).
Khí CO2
phát tán ra không trung có nguồn
gốc từ chăn nuôi có thể là:
CO2
phát sinh trong việc sản xuất
phân đạm để bón cho các loại cây
dùng làm thức ăn gia súc. Phần
lớn khí này phát ra từ các nhiên
liệu hóa thạch như khí đốt (hay
than đá) dùng trong công nghiệp
chế biến ammônhác. Người ta tính
rằng khí CO2 phát ra trong khâu
này khoảng 41 triệu tấn/năm.
CO2
phát sinh trong việc sử dụng
nhiên liệu hóa thạch để sản xuất
thức ăn gia súc, phân bón, thuốc
trừ sâu… trong máy móc nông
nghiệp, trong vận chuyển, cày
cấy, gặt hái, trong tưới tiêu
…Tổng lượng CO2 phát ra khoảng
90 triệu tấn/năm.
CO2 từ
việc sử dụng đất cho chăn nuôi,
thí dụ như phá rừng để cải tạo
thành đồng cỏ, đất trồng trọt
cây thực phẩm gia súc, bón phân
chuồng để trồng lúa nước…Người
ta ước tính lượng CO2 phát ra
trong khâu này lên đến 2,4 tỷ
tấn/năm. Thay đổi việc sử dụng
đất cũng làm phát tán ra không
trung khoảng 28 triệu tấn CO2
c̣n hiện tượng sa mạc hóa do
chăn nuôi cũng phát tán ra không
trung 100 triệu tấn khác mỗi
năm.
CO2
thoát ra không trung qua hiện
tượng thở của súc vật tuy rất
lớn (khoảng 3 tỷ tấn) nhưng v́
các loại thực vật chúng ăn vào
đă h́nh thành bằng cách rút CO2
từ khí trời cho nên trong nghị
định thư Kyoto, người ta không
tính đến lượng khí thải này, đây
chỉ là chu kỳ tuần hoàn của CO2
trong thiên nhiên mà thôi.
Giảm
số lượng súc vật chăn nuôi để
chống lại biến đổi khí hậu
Các khí
thải nhà kính là nguyên nhân chủ
yếu của hiện tượng biến đổi khí
hậu. Hiện tượng này chỉ có càng
ngày càng trầm trọng, ít ra cũng
trong nhiều thế kỷ tới. Ngành
chăn nuôi là một trong những
nguồn phát ra khí thải nhà kính
quan trọng, cho nên một biện
pháp hữu hiệu là giảm số lượng
súc vật chăn nuôi và giảm lượng
thịt tiêu thụ trong các bữa ăn.
Tháng 8
năm 2008, tiến sĩ Rajendra
Pachauri, chủ tịch Ủy ban Liên
Chính phủ về biến đổi khí hậu
IPCC, người đă thay mặt Ủy ban
nhận giải thưởng Nobel đă lên
tiếng khuyên người ta nên ăn ít
thịt để góp phần vào việc bảo vệ
môi trường và chống lại biến đổi
khí hậu. Ông đưa ra những con số
rất hùng hồn là một người ăn
chay trong 70 năm đă giảm được
100 tấn khí CO2 tung ra không
trung và chỉ cần ăn chay mỗi
tuần một ngày th́ một người dân
châu Âu có thể làm giảm đi 170
kg CO2 trong một năm. Chính tiến
sĩ Pachauri đă ăn chay từ 10 năm
nay và cho là đă giảm được 12
tấn CO2.
Có lẽ
không cần ăn trường chay nhưng
ăn ít thịt đă là một đóng góp
của mỗi người trong công cuộc
chung của nhân loại nhằm tránh
các hệ lụy của biến đổi khí hậu.