HỎI:
Tôi được biết Phật giáo chủ trương
vô ngă, vậy theo kinh Địa Tạng, ai
sẽ là người thọ h́nh trong địa ngục.
Cũng theo kinh này, đọc tụng kinh
Địa Tạng th́ cầu ǵ sẽ được như ư,
vậy điều này có trái với luật Nhân
quả không?
(TRẦN VĂN PHÁT, Lê
Thánh Tôn, Thanh B́nh, Biên Ḥa,
Đồng Nai)
ĐÁP: Bạn Trần Văn Phát thân
mến!
Đúng như bạn đă nhận
thức, Phật giáo chủ trương con người
năm uẩn này vô ngă, không có linh
hồn. Mọi khổ đau sanh tử luân hồi
của con người đều bắt nguồn từ chấp
ngă tức chấp thủ và nhận thức sai
lầm về tự ngă, cái tôi thuần nhất,
bất biến. V́ chấp ngă nên có năng (chúng
sanh) và sở (cảnh giới), và do đó,
không chỉ thọ h́nh trong địa ngục mà
ngay cả hưởng phước trong các cơi
trời cũng nằm trong ṿng tương đăi
này. Bởi chấp ngă nên cái tôi và của
tôi có mặt. Cũng từ đó, h́nh thành
nên chúng sanh và cảnh giới thọ dụng
của chúng sanh. Ngă chấp là tác nhân
chính, động lực chủ đạo đưa chúng
sanh trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi.
Do vậy, thọ h́nh ở địa ngục là sự
chiêu cảm nghiệp báo của những tâm
thức có sự chấp thủ nặng nề, tạo
nhiều ác nghiệp. Nhân như thế nào
th́ quả báo như thế ấy. Tuy nhiên,
theo Phật giáo, dù thọ h́nh nơi địa
ngục hay hưởng phước nơi cơi trời
đều không vĩnh hằng mà vận động,
thay đổi. Và ṿng luân hồi sẽ vô tận,
chỉ chấm dứt khi con người giác ngộ
hoàn toàn, thành tựu tuệ giác vô ngă.
Việc kinh Địa Tạng đề cập đến
công năng tŕ tụng kinh này sẽ được
như ư có nghĩa là nếu đọc tụng, thâm
nhập nghĩa lư và ứng dụng thực hành
trong cuộc sống th́ mọi điều tốt đẹp
sẽ đến. Và như thế, điều này không
có ǵ chống trái với luật Nhân quả.
Một trong những đặc điểm của kinh
điển Bắc truyền như Pháp Hoa, Địa
Tạng v.v… là nhận thức ư nghĩa sâu
kín của kinh văn qua những h́nh ảnh,
biểu tượng cụ thể. Do đó, nếu đọc
kinh và hiểu theo nghĩa “đen”, chấp
chặt vào câu chữ sẽ khó lănh hội
được tinh nghĩa.
Chúc các bạn
tinh tấn!
HỎI:
Xin cho biết
có bao nhiêu cách tống táng, đồng
thời cho biết một cách chi tiết nghi
thức hỏa táng trước kia của người
Việt gốc Khmer miền Tây Nam Bộ.
(TRẦN V.THÂN,
Tam
B́nh, Vĩnh Long)
ĐÁP:
Từ Hán Việt, “táng” không có tiếng
Nôm nào có nghĩa tương đương cả v́
nếu bảo “táng” là chôn th́ thủy táng
hay hỏa táng th́ chôn thế nào được!?
Vậy chữ “táng” chỉ có nghĩa đại khái
là “giải quyết xác người chết bằng
cách nào đó” mà thôi. Do đó chúng ta
có các từ “thổ táng” hay “mai táng”
là đem chôn xuống đất, “hỏa táng”
hay trà tỳ là đem thiêu trong lửa, “thủy
táng” là đem thả xuống sông hoặc
biển, “khí táng” hay c̣n gọi là “dă
táng” hoặc “lâm táng” là đem bỏ thây
vào trong rừng bụi cho trùng thú mổ
rỉa, “điểu táng” là đem thây lên núi
chặt nhỏ chia cho kên kên ăn, “thố
táng” là quàn trong nhà mồ, “không
táng” là đem quan tài treo trên cây
hoặc gác bên vách núi.
Người Việt ta
cũng như người Hoa trước kia v́ chịu
ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo cấm
chỉ các h́nh thức tống táng khác nên
chỉ có thổ táng c̣n gọi là mai táng
hay an táng. Chỉ riêng các nhà sư
th́ mới dùng đến hỏa táng. Người ta
cho rằng sống có nhà, chết phải có
mồ. Ngoài ra chôn xuống mồ th́ thấy
như c̣n đó, nhất là đến lễ Thanh
minh hàng năm con cháu có dịp tảo mộ,
cúng kiến ông bà. Nghi thức mai táng
người chết gọi là táng thức, táng
nghi, táng tống, táng lễ, tống táng,
tống vong.
Bên Ấn Độ khi
xưa thịnh hành bốn phép táng là thổ
táng (nikhata) tức liệm xác chết vô
ḥm đem chôn xuống đất như người
Việt hay Hoa, khí táng (prasta) cũng
c̣n gọi là lâm táng hay dă táng, tức
đem thây không có liệm vô áo quan bỏ
vô rừng cho trùng thú ăn thịt mà
rừng Thi Đà ở bên ngoài Vương Xá
thành là một nơi lâm táng trứ danh.
Hỏa táng (agnidagdha) có mấy cách
như đem quan tài đặt lên giàn hỏa
rồi chất củi đốt, hoặc lập giàn hỏa
bằng một đống cây củi rồi để thây
vào chính giữa mà châm lửa. Riêng
theo truyền thuyết Thiền tông th́
chư Phật và các vị Tổ đều hóa lửa
tam muội mà tự thiêu ḿnh trên không
trung. Thủy táng là đem thây người
chết thả xuống sông Hằng (Gàngà),
hoặc giả dùng thuyền chở thây đem
thả ngoài cửa biển cho trôi về nơi
vô định. Một số sắc dân thiểu số th́
bỏ thây xuống hồ thiên tạo trên núi.
Ngoài ra cũng c̣n phải kể đến một
kiểu thủy táng bất đắc dĩ là khi tàu
đang lênh đênh trên biển mà có người
chết, v́ để tránh bệnh dịch, người
ta đặt xác chết lên một cái máng cử
hành chút nghi thức tống biệt rồi
cho xuống biển.
Người Tây Tạng
hay có tục điểu táng. Thân nhân mang
thây người chết lên trên núi cao rồi
một vị trưởng lăo (Hoàng giáo) đạo
cao đức trọng được vinh dự cử ra
dùng búa chặt xác chết cho kên kên
ăn.
Thố táng chỉ
thịnh hành ở một số vùng người
Thượng trên cao nguyên. Đó là xác
người chết được liệm vô quan tài hay
chỉ bó lại rồi quàn tại nhà bằng cây
lá cách xa nhà rông chừng vài trăm
thước, chung quanh được rào bằng các
loại chà gai để thú rừng không bươi
móc ăn xác. Tuy nhiên, ngay người
Việt ở miền kinh cũng có tục thố
táng. Bằng cớ là trong bộ Gia Định
thành thông chí của cụ Trịnh Hoài
Đức mà chúng tôi đă dịch có nói đến
sự tích sông Đôi Ma thật xúc động
ḷng người như sau: Có cô con gái
rất đẹp con ông bá hộ yêu một anh
học tṛ nghèo. Anh học tṛ cũng yêu
lại nhưng nghĩ thân phận ḿnh nghèo
hèn nên không dám mở lời. Phần cô
gái v́ thầm yêu trộm nhớ uất kết nên
tương tư mà chết. V́ chỉ có một mụn
gái duy nhất nên ông bà bá hộ thương
yêu đứt ruột không nỡ chôn mà quàn
lại trong nhà mồ sau vườn, mỗi ngày
dọn cơm cho ăn như người sống. Phần
anh học tṛ khi hay tin cô gái v́
ḿnh mà chết nên lén đến chỗ nhà mồ
thắt cổ tự ải chết theo người yêu.
V́ thương con nên ông bà bá hộ xin
cha mẹ anh học tṛ cho phép quàn
quan tài anh ấy bên cạnh quan tài
con gái ḿnh. V́ cả hai đều chết tức
tưởi, lại về sau, hai ông bà bá hộ
đều qua đời, gia tộc suy sụp không
ai chăm sóc nhà mồ, nên lâu dần họ
thành đôi ma giữa ban ngày hiện h́nh
chọc ghẹo người qua lại trên sông
nên dân chúng địa phương đặt tên con
sông là sông Đôi Ma. Sau quân Tây
Sơn vào ghét chuyện ma quỷ nên đặt
trọng pháo bắn tan tành ngôi nhà
quàn. Từ đó đôi ma cũng bặt luôn.
Cám cảnh chuyện t́nh đôi ma, năm
1896 một người Hoa chủ tiệm thuốc
bắc Nhơn Ái Đường ở Mỹ Tho và ông
Thượng Tân Thị hồi năm 1907, mỗi
người làm một bài thơ vịnh như sau:
BÀI CỦA
ÔNG CHỦ NHƠN ÁI ĐƯỜNG
Vực thẳm
cây cao chiếm một ṭa
Sống không lẻ
cặp chết đôi ma
Hồn ma đem gởi
cḥm mây bạc
Phách quế nương
theo bóng nguyệt tà
Con nước chảy
ṛng rồi kế lớn
Tấm ḷng có bậu
lại cùng qua
Căn duyên ai
khiến xui cho đấy
Tiếng để ngàn
thu cũng cũng là.
BÀI CỦA
ÔNG THƯỢNG TÂN THỊ
Trải qua
Rạch Kiến ác chinh chinh
Nghe nói đôi ma
bắt lạnh ḿnh
Thảm nỗi con
nhà sao bất hiếu
Ngán cho giọt
nước khéo vô t́nh
Sống thề chưa
vẹn duyên kim cải
Thác nguyện
cùng theo chốn
thủy tinhAi hỡi
hồn thiêng như có biết
Tiếng đời lượn
sóng nỗi lênh đênh.
Tục lệ “không
táng” không được phổ biến, chỉ có
một ít tộc thiểu số vùng núi bên
Trung Quốc mới thực hiện. Người ta
bám theo dây leo lên trên vách núi
đục hai cái lỗ trên vách núi cao
sừng sững rồi đặt vô đá hai thanh gỗ
to thuộc loại danh mộc chịu được
nắng mưa như hai cái cán rồi tḥng
dây thả quan tài từ trên đỉnh núi
xuống đặt trên hai cái cáng ấy. Từ
xa trông lại, các quan tài gác lố
nhố bên vách núi chẳng khác chi tổ
chim. Cũng có nhiều sắc dân thiểu số
lại đặt quan tài lên “chảng hai” các
cây cổ thụ trong rừng. Vùng Đồng
Tháp, Mộc Hóa, Long An của ta cũng
có không táng nhưng là bất đắc dĩ,
nghĩa là nếu ai qua đời trong thời
gian nước lũ dâng cao th́ chẳng có
nơi nào chôn được đành phải gác lên
“chảng hai” cây chờ khi nước xuống
mới tổ chức mai táng được. Một t́nh
trạng không táng bất đắc dĩ chỉ thấy
trong các phim khoa học giả tưởng là
khi đang đáp phi thuyền trong không
gian mà v́ lẽ nào đó có người chết
th́ xác chết này được đẩy ra ngoài
khoảng không và theo lư thuyết th́
xác sẽ bay măi măi trong khoảng
không vô tận.
Riêng đối với
Phật giáo, theo quyển 18, sách Hữu
Bộ Tỳ Nại Da Tạp Sự chép (Tỷ kheo
bệnh nặng phải đem xuống Niết bàn
đường nằm chờ chết): Khi Tỷ kheo qua
đời th́ phải hỏa táng. Chừng nào
không có điều kiện hỏa táng mới phải
thủy táng, thổ táng hay dă táng.
Riêng về chuyện tống táng trong nhà
chùa th́ có hai cách là trà tỳ (tức
hỏa táng) và toàn thân nhập tháp (tức
một h́nh thức thổ táng). Cao tăng
nhiều đời trong Phật giáo thường
dùng hỏa táng, nhưng không thiếu chi
người trước khi lâm chung thường
trăn trối lại phải đem thây bỏ trong
rừng cho trùng thú ăn để thể hiện
ḷng từ bi tuyệt đối như Tổ Tuệ Viễn
đời Đông Tấn, trước khi lâm chung đă
dặn ḍ đệ tử phải đem thây ḿnh bỏ
trên núi cho chim muông ăn thịt. Tuy
nhiên cũng có nhiều vị cao tăng như
ngài Đường Huyền Trang, ngài Khuy Cơ
hay Lục tổ Huệ Năng th́ lại toàn
thân nhập tháp. Theo phép tống táng
của Thiền tông như sách Tăng đường
thanh quy chép, khi Ḥa thượng trụ
tŕ chùa Thiền Tông thị tịch th́ do
pháp duyên hoặc do tôn túc các núi
lân cận chủ tŕ tang lễ, thi hành đủ
chín bước Phật sự như:
“Nhập khám thờ,
dời khám thờ, khóa khám thờ, mang
h́nh tượng, tiểu tham trước linh
sàng, nâng khóm thờ, cúng trà, cúng
canh, đốt đuốc lớn”.
Riêng người
Việt gốc Khmer ở miền Tây Nam Bộ th́
tuyệt đối theo tục hỏa táng tức “Bồ
che xóp”. Khi trong nhà có người nằm
xuống rồi th́ trước nhà phải treo
một cây cờ đuôi nheo dài màu trắng
có h́nh tương tự như con tắc kè để
báo tang. Sau đó cũng đến chùa nhờ
vị Lục cả coi ngày giờ tẩn liệm,
động quan và đem thiêu. Trước khi
tẩn liệm cũng đến chùa rước sư tới
tụng kinh cầu siêu tức “Băng xơ cô
lờ”. Tùy theo vai vế cùng địa vị
người qua đời trong sóc mà rước một
hay nhiều sư, sư cả hay sư phó. Về
quan tài th́ cũng tùy theo gia thế
giàu nghèo mà mua cỗ áo quan to hay
vừa, bằng cây danh mộc hay gỗ tạp.
Nhưng do không cần tính chịu đựng
nước đất ngấm lâu năm như ḥm chôn
nên thường người ta hay chọn ḥm
bằng gỗ trung b́nh. Đám ma chay cũng
che rạp, đón tiếp người đến chia
buồn. Mỗi ngày sư ở chùa đến tụng
kinh cầu siêu vào buổi tối. Ngoài ra
tại sóc của người Khmer nào cũng có
một ban đạo tỳ mà người đứng đầu gọi
là “À cha dù ky” hay “À cha đách kha
mót” lo việc tẩn liệm và hướng dẫn
ban hộ niệm đọc kinh cầu an, cầu
siêu nếu như lúc không có Lục của
chùa đến tụng kinh. Lễ hỏa táng gọi
là “Bồ che xóp” và cũng do “À cha dù
ky” tổ chức thực hiện. Người Khmer
xưa kia thiêu quan tài lộ thiên chứ
không dùng ḷ như ngày nay. Địa điểm
thiêu là một cái sân rộng răi cao
ráo tọa lạc bên cạnh chùa. Xưa kia
người ta dựng giàn thiêu bằng cây to
cho nên khi xác cháy tan ra tro th́
giàn cây cũng cháy tiêu theo. Gần
đây người ta dùng loại cọc sắt ráp
lại, hàn thành một cái giàn dùng măi
và do nhà chùa quản lư, người trong
sóc mượn dùng không phải trả tiền.
Ngoài giàn sắt, nhà chùa cũng sắm
thêm bốn hoặc sáu cây xiên bằng sắt
để ghim vào xác chết giữ cho xác
không bật dậy dưới tác động của lửa
dữ. À cha chỉ huy ban đạo tỳ chất
củi dưới giàn cao chừng một mét.
Chung quanh giàn, À cha cho dựng củi
đước thanh dài chừng một thước dựng
đứng quanh giàn. Tới giờ, quan tài
được mang ra băi thiêu và dừng lại
bên cạnh giàn đặt trên hai con ngựa
gỗ để sư làm lễ. Tùy theo ư gia đ́nh
mà nắp ḥm được đóng kín khi liệm,
hay chỉ đóng hờ để ra tới băi thiêu
người ta kéo nắp ḥm để thân nhân
thấy được mặt người chết. Một đầu
sợi chỉ trắng cột vào nút áo người
chết và nhà sư đưa cuộn chỉ cho thân
nhân người chết cầm. Xung quanh
người cầm cuộn chỉ này là thân nhân
người chết. Trong khi vị sư đứng
cạnh quan tài cầm sợi chỉ tụng kinh
th́ thân nhân người chết sau khi
nh́n mặt xác chết lần chót, vừa tháo
cuộn chỉ vừa bước lui cho đến khi
sợi chỉ được căng thẳng th́ dừng lại.
Sau khi đọc thêm một thời kinh ngắn
nữa, sư ra hiệu và thân nhân kéo
mạnh làm sợi chỉ đứt cái bựt. Thế là
qua trung gian của vị sư, sợi dây
nối kết quan hệ giữa người chết và
thân nhân lần sau cùng đă chấm dứt.
Sư ra hiệu cho À cha đóng nắp ḥm
lại rồi ban đạo tỳ khiêng quan tài
đặt lên giàn hỏa. Sư đọc một thời
kinh ngắn nữa rồi ra hiệu cho À cha
tưới dầu lên củi và châm lửa ngọn
lửa bùng lên dữ dội. Sư đọc thêm một
thời kinh nữa rồi trở vô chùa. Ngoài
băi thiêu lúc này chỉ c̣n thân nhân
người chết, ít quan khách đưa ma và
ban đạo tỳ. Theo lệnh À cha, sáu
người cầm cây xiên sắt đứng chung
quanh giàn hễ thấy thây chết ưỡn
người lên th́ dùng chĩa xom vào thân
kềm cho nằm im. Sau khi lớp ḥm cây
cháy tan là đầu người chết nổ bụp
cháy tiêu trước, kế đến tứ chi rồi
sau đến thân ḿnh. Chỉ có bộ đồ ḷng
và nhất là quả tim là khó cháy nhất...
Sau hai, ba tiếng đồng hồ hay lâu
hơn nữa, thây người cháy tan hết. À
cha cho rưới nước lên đám than hồng
để tắt lửa rồi dùng que sắt khều lựa
xương và tro tức “thét” cho vô hũ
“coót” để hoặc đem về nhà thờ, hoặc
đem gởi vô chùa. Nhưng không phải
lúc nào việc hỏa táng cũng suôn sẻ
như thế, v́ khi gặp mùa mưa củi ướt
không cháy dữ mà trời sắp tối th́
người ta phải nhờ một người trong
ban À cha dùng búa lớn chặt thây
người ra nhiều mảnh nhỏ cho dễ cháy
tiêu. Thảng hoặc đă dùng tới biện
pháp đó mà cũng chưa xong th́ người
ta chỉ lựa phần xương nào đă cháy
thành tro than cho vô hũ cốt, c̣n
phần nhỏ thân thể nào chưa cháy hết
th́ người ta gom cùng với tro than
đào lỗ chôn nhưng không đắp thành mồ.
Rồi th́ người Khmer cũng làm tuần
thất, hai mươi mốt ngày, bốn mươi
chín ngày, ba tháng mười ngày và
giáp năm như người Kinh.
Riêng vị Lục cả
trong chùa khi thị tịch th́ phải
quàn lại tới ba năm mới làm lễ trà
tỳ, gọi là “Đồng c̣ lơ xóp”. Vào dịp
này tín đồ đến dự lễ thật đông đảo
kéo dài thường đến ba ngày. Đám bài
kha đến chùa tổ chức cờ bạc như lắc
bầu cua, đánh bài cào, hốt me làm
cho lễ hội càng thêm náo nhiệt. Có
nhiều chùa c̣n rước gánh hát dù kê
tức như cải lương hoặc ḷ băm tức
hát chằn đến diễn tuồng được bổn đạo
hưởng ứng tích cực. Ban đêm bên cạnh
gánh dù kê công diễn, bổn đạo c̣n
nhảy tập thể lâm thôn và phù dam
trước sân chùa trong tiếng nhạc rập
ŕnh ḥa điệu. Nhiều chùa lớn c̣n có
cả giàn nhạc ngũ âm biểu diễn thật
hấp dẫn. Các cuộc vui trong lễ hội
Đồng cờ lơ thật không sao tả xiết
nét độc đáo.
Giờ xin nêu một
bài song thất lục bát để khép lại
bài giải đáp về tống táng:
Vật hoán
tinh di thiên sái lệ
Thủy lưu hoa
lạc địa hàm bi
Hồng trần sanh
kư tử quy
Phù sinh nhược
mộng, hiệp ly vô thường.