Lịch Sử

Tam Tổ Trúc Lâm

===oOo===

                                                
 
                                        - Hồn nhiên người với hoa vô biệt
                                          Một đóa hoa vàng chợt nở tung
                                                                   (Huyền Quang)
 

        Nói đến Đệ Tam Tổ Trúc Lâm là nói đến sư Huyền Quang. Khi chưa xuất gia, Huyền Quang tên là Lư Đạo Tải, sinh năm 1254 tại làng Vạn Tại, lộ Bắc Giang, bây giờ là làng Vạn Ty tỉnh Hà Bắc.
        Thuở nhỏ, nhà nghèo. Năm 18 đi hỏi vợ. Gia đ́nh nhà gái nhận lễ vật, nhưng  sau lại từ hôn, chê rằng Đạo Tải xấu trai. Sau đó cha mẹ chàng lại t́m cho con một đám khác, nhưng cuộc nhân duyên nầy cũng không thành, v́ nhà gái chê là chú rể có tướng mạo kỳ dị, không có mả khoa bảng, không phải là người xứng đáng để nương tựa.
     Cha Đạo Tải, tuy không đỗ đạt, nhưng là người học rộng hiểu sâu. Ông rất thương yêu con, ông chỉ mong dạy cho con học hành để có chút công danh với đời. Đạo Tải sau mấy lần thất bại về t́nh duyên, nên không c̣n nghĩ đến chuyện hôn nhân nữa, suốt ngày chỉ miệt mài với sách đèn. Nhờ sự chuyên cần và với trí thông minh sẳn có, năm 20 tuổi Đạo Tải đậu thi Hương. Năm sau đậu luôn thủ khoa kỳ thi Hội, tức là Trạng Nguyên thời bấy giờ.
       Nghe tin Đạo Tải đậu trạng, mấy người phú hộ ở trong vùng bắn tin có con gái đến tuổi lấy chồng, kèm theo một gia tài đồ sộ. Một ông quan lớn ở kinh kỳ cũng mời quan tân khoa về thái ấp ḿnh để xem mặt cô gái yêu, tuổi vừa đôi tám. Tiếp đó, Đạo Tải vào kinh bái mạng để nhận chức, một viên nội giám đến gặp riêng và rỉ vào tai. Hoàng Hậu đang kén pḥ mă. Công chúa Liễu Nữ là cháu của vua An Sinh Vương đẹp như tiên. Thật là trai tài, gái sắc, xứng đôi vừa lứa đấy!. Thấy t́nh đời như vậy, ông than:
- Khó khăn th́ chẳng ai nh́n,
Đến khi đỗ trạng, tám ngh́n nhân duyên.
Từ đấy ông nguyện suốt đời không lấy vợ. Trong 30 năm làm quan ở trong triều, được hưởng ơn vua, lộc nước. Có nhà cao, cửa rộng, có kẻ hầu người hạ, có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng Đạo Tải thường bảo với bạn bè:
- Làm quan th́ được lên đảo Bồng (chỗ tiên ở). Đắc đạo th́ đến Phổ Đà(chỗ Phật Quán Thế Âm). Đảo trên nhân gian là bậc tiên. Cảnh giới Tây Thiên là cơi Phật. Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa Thu, mây trắng mùa Hạ, đâu nên quyến luyến!.
Đă mấy lần ông xin từ quan để đi tu, nhưng lần nào cũng không được nhà vua chấp thuận, lấy cớ rằng quốc gia đang cần ông. Măi đến năm 1305, lúc đó Đạo Tải đă 51 tuổi mới được vua Anh Tôn cho phép dời hoạn lộ. Thế là bây giờ ông được thảnh thơi, không c̣n bị ràng buộc với công danh, phú quí nữa. Ông liền quy y Tam Bảo với Sư Bảo Pháp ở chùa Vũ Ninh.
Năm 1306, nhân một lễ hội lớn, Sư Bảo Pháp cho ông đi theo. Ở lễ hội nầy Đạo Tải gặp lại vua Trần Nhân Tôn, lúc đó vua đă xuất gia và là đương kim sơ tổ Trúc Lâm, bấy giờ Đạo Tải hơn vua 4 tuổi, nhưng kém vua 4 hạ.
Khi Đạo Tải mới làm quan trong triều là lúc Nhân Tôn đang trị v́ thiên hạ. Nay gặp lại nhau trong h́nh thái Tăng Sĩ. Trúc Lâm rất mừng v́ biết Đạo Tải là một văn tài, người đă từng phụng mệnh nhà vua tiếp sứ giả phương Bắc. Sứ giả đă kính phục v́ ông thông thạo thư tịch, trích dẫn kinh nghĩa, ứng đối mau lẹ.
Trúc Lâm liền nói với Bảo Pháp để Đạo Tải làm phụ tá cho Ngài; rồi ban pháp danh là Huyền Quang cho Đạo Tải. Từ đó Huyền Quang tùy tùng Trúc Lâm trong cuộc sống hành đạo. Nhưng Huyền Quang chỉ được đi theo học đạo và phụ tá cho Trúc Lâm được 2 năm th́ Trúc Lâm tịch. Trong 2 năm đó, Trúc Lâm đă nhờ Huyền Quang soạn những sách thực dụng sau đây để lưu hành trong giáo hội Trúc Lâm:
1- Chư Phẩm Kinh: tuyển tập của những Phẩm Kinh thiết yếu và thực dụng..
2- Công Văn Tập: Tuyển những bài văn, sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo.
3- Thích Khoa Giáo: Tập sách Giáo Khoa về đạo Phật.
Tổ Gia Thực Lục chép rằng Trúc Lâm rất bằng ḷng với công việc sáng tác của Huyền Quang. Khi đọc xong bản thảo  Thích Khoa Giáo, vua ngự phê bút như sau:< Phàm sách qua tay Huyền Quang biên soạn, hiệu khảo rồi không thể thêm hay bớt được chữ nào nữa.> Trúc Lâm liền bảo thợ cho khắc in những sách cấy. Các sách nầy được đưa vào đại tạng đời Trần. Huyền Quang cũng được  Trúc Lâm cho vân du khắp nước, thăm các danh lam  và thỉnh thoảng đăng đàn thuyết pháp. Có lần Huyền Quang được Trúc Lâm cho ngồi trên pháp ṭa làm bằng trầm hương của Ngài để giảng Kinh.
Sau đó Huyền Quang được lập làm trú tŕ chùa Vân Yên núi Yên Tử. Mến phục tài đức của ông, tăng ni theo về học đạo có tới ngàn người. Chính trong thời gian đó Huyền Quang sáng tác bài phú vịnh Vân Yên Tự.
Sách Tổ Gia Thực Lục cũng dành ra nhiều trang để kể chuyện hàm oan của Huyền Quang với một người cung nữ tên là Điểm Bích. Một hôm vua Minh Tôn nói với các quan trong triều là Ngài tỏ vẻ thán phục cuộc đời đạo đức của Thiền Sư Huyền Quang. Nhưng nho thần Mạc Đĩnh Chi(đậu Trạng Nguyên khoa Giáp Th́n, 1304), vốn ganh tài với Huyền Quang đứng lên tâu:
- Vẽ cọp th́ vẽ da làm sao biết tới xương được, biết người th́ chỉ biết bề ngoài, làm sao biết được trong tâm. in bệ hạ cho thí nghiệm.
Vua Minh Tôn liền sai cung phi Điểm Bích, hiệu là Tam Nương đi điều tra xem Huyền Quang có xứng đáng với tác phong, đạo đức để sẽ đứng đầu môn phái Trúc Lâm sau nầy.
Cung Phi Điểm Bích là người có nhan sắc. Khi chưa được tuyển chọn vào cung, nàng là người đẹp của Thăng Long.
Trước Khi người cung phi lên đường, nhà vua căn dặn:
- Vị Tăng kia vốn giới hạnh cao nghiêm, chưa từng có ư sắc dục. Nhà ngươi có nhan sắc, biết kinh sử, hăy đến t́m hiểu cho Trẫm. Nếu quả vị ấy c̣n quyến luyến t́nh dục th́ ngươi hăy dụ mà xin cho được kim tử mà xưa kia Thượng Hoàng đă tặng cho, đem về cho ta.
Bích cải trang như một thôn nữ, lạy tạ vua rồi ra đi. Đến chùa Vân Yên, gặp một vị ni sư già, Bích nói là muốn xuất gia học đạo. Vị ni sư chấp nhận cho ở lại tập sự và để sai bảo, trà nước sớm khuya.
Một hôm Huyền Quang thấy dung mạo Điểm Bích, biết không phải người có chủ tâm đi học đạo bèn gọi vị ni sư lên quở. Bích thấy thiền sư giới hạnh nghiêm mật, khó dùng sắc đẹp để chinh phục, liền nẩy sinh một kế: Đêm ấy Điểm Bích khóc với ni sư, nói rằng ḿnh là con nhà thi lễ, khoa bảng, v́ cha thâu thuế xong bị kẻ cướp đoạt hết tiền. Ông không đủ tiền để đền nên sẽ bị triều đ́nh làm tội. Nếu đến kỳ hạn mà không đủ tài khoản nầy, th́ không những ông ta bị tội mà cả vợ con cũng bị liên lụy và điền sản bị tịch thâu. Ni sư nói lại trong đại chúng, ai cũng thương t́nh. Huyền Quang hứa sẽ về Thăng Long để điều trần và xin tội cho cha Điểm Bích, nhưng có một chú tiểu can ngăn thiền sư:
- Pháp luật là pháp luật. Để mất của công th́ phải đền, ta không nên vị t́nh riêng mà can thiệp. Như vậy pháp luật c̣n có nghĩa ǵ. Tốt hơn là chùa ta nên quyên tiền để giúp Điểm Bích.
Huyền Quang cho là phải, bèn kêu gọi Phật tử tự nguyện đóng góp. Đích thân thiền sư giúp đỡ bằng cách đem kim tử của vua ban ngày trước cho Điểm Bích để bán lấy tiền cứu cha.
Được kim tử, Bích trở về cung, sắp đặt lại câu chuyện rồi tâu vua:
- Thiếp đến Vân Yên Tự, giả làm người xuất gia, một tháng trôi qua mà Huyền Quang chưa từng nh́n hỏi thiếp. Một đêm kia sư lên chánh điện tụng kinh đến canh ba, sư và đại chúng, mỗi người trở về tăng pḥng để nghỉ ngơi, thiếp mới t́m tới tăng pḥng của sư mà tạ từ sư để mang tiền về cứu cha. Sư lưu thiếp ngủ một đêm... rồi tặng thiếp kim tử.
Vua nghe chuyện xong, ḷng buồn rượi. Hôm sau ngài đem chuyện nầy nói lại với vài cận thần tâm phúc. Một vị bàn nhà vua nên mở đại hội Vô Già( Vô Già Hội là một lễ hội trọng đại ở Ấn Độ có từ thời Đức Phật để bố thí và giảng pháp cho đại chúng, thường tổ chức ở giữa cánh đồng); rồi mời Huyền Quang đến làm chủ lễ để xem uy lực của sư ra sao; v́ nếu sư không giữ được chay giới th́ pháp thuật sẽ không c̣n.
Ngày đại hội, vua cho đặt trên bàn cúng đủ loại: Lục phẩm, ngũ cúng, cà sa, pháp y và cả những tạp vật như vàng, bạc, châu báu, đồ ăn mặn...
Được chỉ định làm chủ lễ hội Vô Già, Huyền Quang biết ḿnh bị hàm oan và bị vua nghi ngờ. Tới đàn, sư thầm khấn:
- Kẻ tu hành nầy, nếu có điều ǵ bất chánh, xin chư Phật cho đọa xuống A Tỳ địa ngục, c̣n nếu không th́ xin cho những tạp vật kia biến hết đi!
Sau đó, sư dụng pháp Mật Tông. Huyền Quang ngửa mặt lên trời thổi một hơi, rồi đi lên đàn ba lượt, xuống đàn ba lượt, vọng bái thánh hiền mười phương, tay trái cầm b́nh bạch ngọc, tay phải cầm cành dương xanh, mật niệm thần chú rưới khắp pháp điện. Đại chúng từ nhà vua đến bần dân đều kính cẩn nh́n sư hành lễ. Không biết do sự nhiệm mầu nào của mật chú hay một sực ngẫu duyên của khí tượng; bỗng một đám mây đen từ đâu kéo tới rồi tiếp theo là những cơn lốc, bụi bay mù mịt. Một lát trời sáng th́ những thứ tạp vật trên pháp điện bị gió cuốn bay đi, chỉ c̣n lại hương đèn và lục cúng nằm nghiêng ngă trên bàn. Mọi người thất sắc kinh hồn.
Vua thấy hạnh pháp của sư thấu cả thiên địa, liền rời chỗ ngồi, lạy xuống để tạ tội.
Hôm sau thiết triều, nhà vua sai quan đề h́nh xét lại vụ Điểm Bích. Quan đề h́nh cho mời vị ni sư già và chú tiểu chùa Vân Yên xuống Thăng Long để đối chất. Biết câu chuyện bịa đặt bị lộ, Điểm Bích thú nhận là đă vu oan cho Huyền Quang. Thị Bích bị đ́nh thần ghép vào tội khi quân(lese majesty) phải chém đầu. Nhưng được Huyền Quang xin tha cho. Tuy nhà vua tha cho tội chết, nhưng ngài giáng chức cung phi của Điểm Bích làm kẻ nô bộc để quét chùa trong dinh Cảnh Linh ở nội điện.
Những năm sau cùng của cuộc đời, Huyền Quang không ở chùa Vân Yên nữa mà tới Côn Sơn Tự.
Huyền Quang không phải là một người thuộc mẫu hành động như Trúc Lâm và Pháp Loa. Sư ít đi giảng diễn trong quần chúng mà chỉ dạy học trong các tu viện cho giới Tăng sĩ.
Ở Côn Sơn là chỗ thanh vắng, sư thấy khoẻ hơn mà ít bận tâm với đời. Côn Sơn có nhiều hoa mai. Ngắt cành mai, không phải để chưng cho đẹp mắt mà để quán chiếu lẽ sinh diệt, sự tàn hoại của vạn pháp,
- Ngửa mặt trời xanh hỏi lư do
Hiên ngang trong núi mọc thành hoa
Bẻ về, không để chưng vừa mắt
Chỉ mượn sầu Xuân đỡ bệnh già

Nguyên văn là:
- Dục hướng thương hương vấn sở tùng
Lẫm nhiên cô trị tuyết sơn trung
Chiết lai bất vị già thanh nhăn
Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông.

Sư cũng rất thích hoa cúc. Ngồi thiền xong, sư ngắm hoa cúc cho tới khi thấy người ngắm hoa và hoa, hai thứ hồn nhiên là một.
- Người ở trên lầu, hoa dưới sân
Vô ưu ngồi ngắm, khói trầm xông
Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vàng chợt nở tung.
Đóa cúc vàng chợt nở tung như cái giáo lư Vô Biệt, giáo lư Vạn Pháp Nhất Như của nhà Phật chợt loé trong tâm tư.
Nhiều lần, sư dẫn tiểu đồng vào núi, mang theo một ống sáo. Sư ngâm thơ, làm thơ, thổi sáo, tụng kinh, tham thiền, dạy chú tiểu học. Sư lúc bấy giờ là một tăng thống, lănh đạo một giáo hội, chỉ có thể thổi sáo được trong rừng núi. Ngoài chú tiểu ra th́ chẳng ai biết mà chê cười:
- Củi hết lo c̣n vương khói nhẹ
Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh
Tay cầm dùi mơ, tay nâng sáo
Thiên hạ cười ta cứ mặc t́nh.
Nguyên văn:
- Ôi dư cốt đốt độc hoàng hương
Khẩu đáp sơn đồng vấn đoán chương
Thu bả xuy thương ḥa mộc đạc
Tùng giao nhân tiếu lăo tăng mang.
Huyền Quang giỏi Phật học, nhưng thơ của sư b́nh dị, ít nặng về danh từ Phật giáo. Tuy vậy tính cách đạt ngộ thanh thoát vẫn bàng bạc trong thơ của sư.
Nguyễn Mộng Khôi 
 
 
 

                                                                      Nguồn tin từ giacngoonline

Tin đă đăng

-Văn tưởng niệm Đức vua Lư Thái Tổ, các vị Quốc sư, Thiền sư nhân Đại lễ Phật giáo kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội

- Nhân chách và sự nghiệp Lư Công Uẩn

-Về một bức thủ bút chữ Nôm của Bồ Tát Quảng Đức

-Tam Tổ Trúc Lâm

-Vài về Đức Dhakpa Tulku Rinpoche