Phật Học

CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT

NIỆM PHẬT THẤY PHẬT

Lời giảng : TK. THÍCH MINH ĐỨC

Biên soạn : Cư Sĩ Phật tử NHƯ THÁNH

 PL. 2554 – DL. 2010

 

Phương danh Quí vị phát tâm

cúng dường ấn tống

 PHẬT TỬ NGUYỄN NGỌC VÂN

PD : DIỆU THANH

 Phước  ấn tống sách này hồi hướng nguyện cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ, Ông Bà, Cha Mẹ nhiều đời, nhiều kiếp sớm được siêu sanh miền Lạc cảnh. Ông Bà, Cha Mẹ cùng thân bằng quyến thuộc hiện tiền được tăng long phước thọ, hiểu rơ Đạo lành, quay về bờ Giác.

 LỜI THẦY

 

  Với lời văn mộc mạc của người dân sông nước tỉnh Long An, Cư Sĩ Phật tử Như Thánh đă biên soạn lại những lời Thầy giảng, mục đích làm sáng tỏ ư của Chư Tổ và của người giảng, chắc chắn đem lại cho người đọc phần nào hiểu biết được cách tu hành cho đúng chánh pháp. Riêng Thầy rất tâm đắc về nội dung cũng như cách tŕnh bày, rất nhẹ nhàng làm cho người đọc dễ hiểu, để có phương tiện tu hành.

 Mong sao các độc giả đọc qua, t́m hiểu và nếu thấy lợi ích thực sự cho cuộc đời tu hành giác ngộ của mọi người th́ nên phát tâm ấn tống để mọi người cùng hiểu biết và có phương tiện tu hành.

 NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT.

 TK. THÍCH MINH ĐỨC

LỜI ĐẦU

  V́ tâm đắc những lời của Thầy trong Khóa Tu Niệm Phật của Chúng Liên Tông Tịnh Độ tại Thiền Viện Minh Đức, do Sư Phụ Thượng Minh Hạ Đức thuyết giảng về Pháp Môn Niệm Phật. Cảm nhận rằng đây là hành trang cho hành giả niệm Phật với tâm niệm thiền tịnh song tu, nên tôi nguyện ghi lại những giáo pháp của Ân Sư đă nhọc công dạy dỗ và dẫn dắt sự tu hành cho mọi người, chỉ mong ai ai cũng sáng suốt trở về nguồn tâm sẵn có nơi chính ḿnh để không c̣n cách xa Phật Tổ. V́ Hồng Danh A Di Đà Phật là căn bản vững chắc cần phải xây dựng đúng đường hướng Phật dạy, phải hiểu thật đúng đắn mới mong trở thành người con Phật chân chánh, để xứng đáng với sự quy y như pháp là quy y Phật, Phật tức tâm, tâm tức Phật.

 ài viết này mong sao đến với các bạn đồng tu đủ duyên lành, hiểu được cùng nhau thực hành trên lộ tŕnh tu học giác ngộ giải thoát.

 Với quyển sách nhỏ này, tôi chỉ mong góp phần công đức vào biển vô tận của Phật pháp và làm lợi ích phần nhỏ cho đồng đạo các nơi. Là quyển sách đầu tay nên nhứt định c̣n nhiều thiếu sót về nội dung cũng như h́nh thức.

 Kính được sự chỉ dạy của chư Tôn Thiền Đức, các Thiện Tri Thức cũng như sự góp ư của các bạn đồng tu.

 Tôi xin thành kính cảm tạ !

NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT.

 Cư Sĩ Phật Tử  Như Thánh

       Mỗi tháng đến ngày mùng 05, đoàn niệm Phật Chúng Liên Tông Tịnh Độ ở Long An quy tựu về tham dự và được nghe Thầy giảng pháp.

Nam Mô A Di Đà Phật !

Kính thưa Quí vị !

Sự hướng dẫn của Thầy về pháp môn Niệm Phật, để phương pháp niệm Phật có kết quả là việc cần nên biết.

Niệm Phật có hai phần, gồm Lư và Sự.

a) SỰ : là chúng ta ngồi một chỗ niệm thầm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc niệm ra tiếng Nam Mô A Di Đà Phật hay vừa niệm vừa đi kinh hành đó là SỰ.

Có người chấp bỏ SỰ, có người chấp SỰ bỏ LƯ.

b) Chấp có nghĩa là : Ta biết rơ rằng nơi ta có Phật tánh và ai ai cũng có, đó là . Nhưng làm thế nào để thường sống với Phật Tánh ?

Có người cho là A Di Đà là bổn tánh th́ cũng đúng.

Nếu chấp SỰ th́ không vào được bổn tánh, luôn luôn người học đạo phải thấu suốt nguồn tâm.

Tổ dạy trong Kinh Kim Cang có câu :

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm

Nghĩa là không trụ vào đâu mà sanh tâm ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ) chỉ bao nhiêu đó th́ Ngài Lục Tổ Huệ Năng liền đại ngộ, v́ căn cơ của Ngài là bậc đại Bồ Tát.

Đại Bồ Tát là ǵ ? Là người đang tu như tất cả chúng ta, nhưng có ḷng thương yêu tất cả chúng sanh, t́m cách, t́m mọi phương tiện để cứu giúp chúng sinh ra khỏi biển trần lao khổ năo. Đó cũng là tâm niệm của Ngài Lục Tổ Huệ Năng, cho nên Ngài vừa sanh ra th́ có hai vị Thiền Sư đến đặt hai chữ Huệ và Năng là tên của Ngài.

NĂNG là dùng khả năng sáng suốt ra ban bố cho hết thảy chúng sanh, dùng hết năng lực độ chúng sanh nhận biết nguồn tâm, phát sanh trí huệ nên gọi là Huệ Năng. Như vậy chúng ta phải giống như Ngài, Huệ Năng phải mang tâm niệm thương yêu chúng sanh, thương hết chúng sanh muôn loài. Tại sao vậy ?

Có một số người đi tu rất lầm lạc, v́ nghĩ rằng đi tu để tôi thành Phật, không thể có sự đó. Tôi đi tu để trở thành Bồ Tát hoàn toàn không đúng. Tôi đi tu để thành Thanh Văn, Duyên Giác, không thể có. Nếu ai c̣n nghĩ như vậy là c̣n vọng tưởng, người giác ngộ luôn có tâm niệm lúc nào cũng mang trong tâm là dù đời nào, kiếp nào đều nghe theo lời Phật dạy nếu sanh ra con người hay thú cầm tôi đều mang ơn cha mẹ. Phải nhớ rằng, người nữ là mẹ tôi, người nam là cha tôi, đời nào tôi cũng làm khổ cha mẹ, gian dối với cha mẹ, hại cha mẹ, ăn chơi phá tán, làm cha mẹ buồn khổ mà chết, đời nào cũng vậy.

Thứ hai, v́ cha mẹ nhiều đời kiếp do nơi nghiệp chướng v́ thương yêu tôi, muốn tôi được sung sướng nên làm tất cả dù tội ác cũng không màng, không sợ như : trộm cướp, những việc tà bậy, giết hại chúng sanh muôn loài. Như vậy, chúng sinh muôn loài có cha mẹ, ông bà nhiều đời nhiều kiếp từ xưa đến nay v́ sự ăn uống mê muội nên ăn thịt cá, đó là quyến thuộc nhiều đời phải mang nghiệp súc sanh, phải chịu chết dưới tay ta do v́ lầm mê mà tạo thêm hận oán, tội sát không dừng bây giờ niệm Phật mà không dứt niệm giết hại chúng sanh, th́ dù có niệm bao nhiêu cũng không thành Phật được. Tội gian dối tự bao giờ không tính hết được, nên người niệm Phật phải hiểu thật rơ, thấu cho suốt rằng, tôi v́ thương yêu tất cả chúng sanh, công dưỡng dục nhiều đời nhiều kiếp nên phải phát nguyện tu, quyết ḷng tu niệm Phật, dứt hẳn niệm giết hại oán hờn v́ nhớ công hạnh Phật đă thành, đă nhiều đời nhiều kiếp trong vô lượng kiếp đă làm hạnh Bồ Tát, đă độ tất cả chúng sanh, được như vậy khi chữ niệm Phật ta vừa mở miệng ra th́ hào quang từ Như Lai Tạng Tánh, tức từ tâm ta liền tủa ra như sen nở. C̣n niệm một ngàn, triệu muôn câu “Nam Mô A Di Đà Phật” mà tâm địa bỏn xẻn, ích kỷ, không v́ thương yêu mà đền đáp công ơn th́ câu niệm Phật của chúng ta tủa ra toàn gươm, đao, thù hận.

Đến đây nhớ câu chuyện thời Đức Phật, có tướng cướp Vô Năo, v́ mê lầm nghe theo ngoại đạo, nếu giết đủ 1000 người th́ đắc đạo. Nên ông đă giết 999 người, đến khi gặp Phật ông định giết Phật cho đủ số 1000. Ông chạy theo Phật, nhưng ông bước đến một bước th́ Phật lùi một bước, chạy măi mà cũng không gần Phật. Giận quá ông hét lên rằng : “Cồ Đàm ông đứng lại”, Phật thản nhiên trả lời : “Ta đă đứng lại từ lâu, chỉ có ông là chưa đứng lại”. Ông Vô Năo nói : “Ta đă đứng lại rồi”. Phật khuyên ông buông đao xuống, ông liền liệng đao và nói : “Ta đă buông đao rồi”. Nhưng Phật có huệ nhăn nh́n suốt tận nguồn tâm thấy niệm ác ông vẫn c̣n nên nói rằng : “Đao bên ngoài đă buông nhưng đao bên trong chưa buông”, liền khi đó tướng cướp Vô Năo ngộ được tự tánh. Đó là tánh hiếu sát, tham tàn, điên đảo chưa dừng. Như vậy tuy là một tướng cướp do nghiệp mê muội nhưng nơi Như Lai Tạng tức chơn tâm tự tánh của ông vẫn đầy đủ khả năng giác ngộ, sáng suốt thức tỉnh nhận biết ḿnh vẫn có tánh thiện lành như Phật, nên ông liền quy y với Phật và quy y trở lại tự tánh thanh tịnh, bỏ tất cả niệm sai lầm mê muội để tu hành giống như công hạnh của Phật.

Qua câu chuyện trên, nói lên tâm trạng của người niệm Phật thường theo sắc tướng âm thanh bên ngoài miệng tưởng là đang niệm Phật không ngừng, mà tâm thường dong ruỗi, phan duyên, điên đảo theo sáu trần, suốt đời măi gieo nhân để đi vào sự quẩn quanh trong thế giới tam đồ, lục đạo.

Chúng ta khi niệm Phật phải biết rằng chữ A Di Đà Phật công đức ở chỗ nào ?

Niệm Phật mà không biết công đức vô lượng th́ làm sao có khả năng độ chúng sanh được. Nếu không độ chúng sanh th́ không tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn nghĩa là ḿnh chỉ giác ngộ lấy ḿnh. Đă mang ơn chúng sanh nhiều đời nhiều kiếp, ngày hôm nay đầy đủ phước duyên được làm người, được ngồi nghe giáo pháp chính miệng chư Phật nói th́ tại sao ta không hết ḷng tu, mà tu để làm ǵ ? Phải biết rơ rằng v́ sự nghiệp của chư Phật ba đời mà đền ơn Tổ Tiên Ông Bà, Cha Mẹ nhiều đời, nhiều kiếp v́ ta đă có duyên. C̣n như ai nghĩ rằng, tôi niệm Phật th́ tôi thành Phật, tôi niệm Phật để giờ phút lâm chung Phật rước tôi về thế giới an lành của chư Phật để hưởng sung sướng, th́ làm sao có chuyện đó được ?

Tâm địa chúng ta là quan trọng, Phật nói : “Vạn pháp thiên kinh không ngoài tâm địa”. Tâm lưu xuất ra tất cả, nếu  tâm địa chúng ta không lưu xuất sự trong sáng tốt đẹp, không thương yêu mọi người th́ dù cho niệm Phật suốt đời cũng ở đầu môi cửa miệng mà thôi. Thế nên Tổ dạy :

Niệm Phật niệm ở ngoài môi

Mà ḷng không niệm th́ môi có ǵ ?

Niệm Phật phải thấy ḷng, cho nên Tổ Huệ Năng nghe qua thấy được tánh liền đại ngộ.

Tất cả muôn pháp chẳng rời bổn tánh tự nhiên”. Nghĩa là  trong ḷng có tâm lượng lớn lao vô cùng gọi là biển tánh của ḿnh. Nếu người tu hành mà không thấy được biển tánh của ḿnh th́ tu suốt đời cũng không hiểu biết đạo Phật là ǵ cả. V́ trong biển tánh có vô lượng công đức, biển tánh này lưu xuất được tất cả. Trong biển tánh này lưu xuất trí huệ tu hành mà thành Phật, thành Tổ, nếu không thấy được bản tánh tự nhiện của ḿnh th́ không thể giác ngộ. Lục Tổ Huệ Năng vừa nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền ngộ được ḿnh có bản tánh tự nhiên.

Như vậy ai cũng có bản tánh tự nhiên mà ḿnh có đem khả năng của nó ra sử dụng hay không? Có không ? Hay chạy theo phép, theo bùa ngải, đồng bóng, theo cúng bái, lạy lục, chạy theo cái bên ngoài.

Tu trong chớ khá tu ngoài.

Tu trong Phật trọng, tu ngoài Phật chê.

Có cái tâm địa sáng suốt mà ḿnh chẳng biết ǵ hết, cứ dong ruỗi ở ngoài. Cúng kiến, lạy xin, cúng dường đủ thứ toàn chuyện bên ngoài, cứ nghĩ rằng bỏ tiền tỉ là có công đức. Công đức ǵ ta phải nên xét kỹ lại.

Khi Đức Đạt Ma Tổ Sư vừa qua đến Trung Quốc ngài đến gặp vua Lương Vơ Đế. V́ tưởng ḿnh đă làm được công đức vô lượng nên vua hỏi Tổ Sư. Bạch Ngài : “Tôi xây dựng được 72 cảnh chùa, hằng năm đến Mùa An Cư Kiết Hạ tôi đem tiền của nuôi Tăng Ni ăn học để tu, hỏi có công đức ǵ không?” Tổ Đạt Ma nói rằng : “Công đức th́ chẳng một tí nào cả, chỉ bằng hạt bụi dính trên đầu cây kim, đó là vật chất bên ngoài, mà ở bên ngoài gió thổi bay mất”. Tưởng rằng vua Lương Vơ Đế ngộ được bản tâm nơi ḿnh sẵn có. Lương Vơ Đế là vua mà tự tánh nhỏ nhen, không sáng suốt, không trí huệ c̣n thua người man di mọi rợ là Ngài Lục Tổ Huệ Năng, chỉ nghe một câu mà tỏ ngộ. Như vậy đạo tỏ ngộ chẳng phải do sang hèn, giàu nghèo mà tỏ ngộ là thấu suốt nguồn tâm nên lúc đó Lục Tổ Huệ Năng bạch với Ngài Ngũ Tổ rằng :

Dè đâu tánh tự nhiên vốn thanh tịnh

Như vậy ta có sẵn bản tánh tự nhiên rất thanh tịnh mà chẳng bao giờ xài, mà xài toàn là tham, sân, si, ghen ghét, thù oán, ích kỷ, hẹp ḥi, bỏn xẻn v.v… Bản tánh thanh tịnh vốn hằng có nơi ta đó là chơn tâm, bản lai diện mục, chủ nhơn ông, Niết Bàn, Cực Lạc, Như Lai Tạng Tánh, pháp giới tạng thân, A Di Đà Phật. Bản tánh không xa ta mà hiển nhiên luôn ở trong ḷng ta, ngày cũng như đêm, giờ giờ, khắc khắc, chẳng lúc nào xa. Nhưng ta măi bỏ ra ngoài, chạy theo danh lợi, tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, đất đai, t́nh yêu, t́nh thương, ái dục v.v… chúng ta chạy ra ngoài tất cả, nên tự ḿnh bội bạc với bản tâm chính ḿnh. Vậy bỏ bản tâm, tức Phật tức Tâm, Tâm tức Phật mà ḿnh đă quên. Vậy ta tu cái ǵ ? Có tu tâm không ? Phải thấy cho rơ, tu tâm lợi ích cho tâm ta, làm cho tâm ta có trí huệ, làm cho tâm sáng suốt. Tại sao ta lại làm cho tâm ta ( Phật ta ) bị bôi nhọ, làm cho tâm  ta ( Phật ta ) bị vẩn đục, càng ngày càng nhiều v́ niệm ái, niệm yêu, niệm vật chất, niệm phiền năo, niệm khổ đau, niệm sân si, niệm lợi danh v.v… Như vậy cái ư nghĩa của niệm Phật như thế nào ? Có c̣n tinh khiết của cái niệm theo Phật hay theo lục đạo luân hồi mà mong được văng sanh Tây phương Cực lạc ? Cái ư nghĩa của niệm Phật có kết được vào chỗ nào. Ta phải tự hỏi lấy ḿnh, tôi niệm Phật có kết được trong  tâm hay không ? Hay tôi niệm Phật hoàn toàn đi ra ngoài hết, ta phải thấy được ở chỗ này. Theo kinh nghiệm của Tổ.

Dè đâu tự tánh tự nhiên vốn thanh tịnh.

Dè đâu tánh tự nhiên chẳng sanh chẳng diệt.

Dầu cho chúng ta giàu hay nghèo khổ, có đi xuống địa ngục hay đi đến Niết Bàn, có làm vua, làm chúa ǵ đi nữa th́ bổn tánh tự nhiên vẫn trung  thành theo ta vô  lượng kiếp, không bao giờ rời ta, bỏ ta, theo ta hết đời này qua đời khác. Nhưng chúng ta là người bội bạc, vô ân, vô nghĩa chạy theo danh lợi, sắc tài, chạy theo sự giả tạm bên ngoài, bỏ cái tánh tự nhiên vốn thanh tịnh. Chúng ta hăy nh́n lại, bấy lâu nay ta chạy theo cái bên ngoài, Phật gọi là huyễn hóa, điên đảo. Huyễn là không phải của ta, nó luôn sanh diệt như : nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ, trời đất mênh mông không phải của ta, nên Phật gọi là huyễn. C̣n cái nằm trong ḷng chúng ta rất chung thủy là sự chơn thật, rất rơ ràng. Nhưng chúng ta không hề nhận biết. Nghĩa là bỏ chơn theo huyễn, bỏ Phật theo ma.

Dè đâu bổn tánh tự nhiên vốn đầy đủ không t́m ở đâu xa, nơi tự tánh có tất cả. Tại ta không làm, cũng như Đức Phật dạy rằng : phép bố thí, ḷng chúng ta sẵn sàng bố thí,  những danh lợi tham đắm chức quyền, vật chất vốn ở nơi tâm ta nếu sẵn sàng bố thí, buông bỏ tất cả hy sinh như ngày xưa Đức Phật hy sinh vợ con, hy sinh mắt tai, mũi, lưỡi hy sinh tất cả thân mạng của ḿnh v́ Phật pháp. Tất cả trong tự tâm ḿnh vốn sẵn có chỉ v́ ta không sáng suốt nhận biết để sử dụng thôi.

Trong tự tánh có đủ hạnh nhẫn nhục v́ công đức có đủ vô lượng, ta có đủ khả năng nhịn hoài, nhịn măi.

Ai chửi mắng th́ ta giả điếc

Đợi cho người hết giận ta khuyên

Chữ nhẫn ḥa ta giữ đầu tiên

Th́ đâu có mang câu hờn oán. (CLKS)

Nếu ta nhịn được, nếu ta nhẫn được, th́ trong nhà, lối xóm, bà con đều yêu thương ta, điều đó ta đủ khả năng làm được v́ trong tự tánh có đủ khả năng đó tại ta không chịu làm. Ta gây gổ ta bực dọc, ta chửi rủa, ta đánh đập mắng nhiếc, ta không chịu tu nhẫn, nhẫn ta có sẵn chớ đâu phải không có v́ vốn của nó có đủ khả năng vô lượng nên gọi là tự tánh nó bao trùm cả trời đất. Nó có quyền ăn năn sám hối, nó có khả năng sám hối đời này đến đời khác, nó có khả năng làm tất cả việc lành, nó có khả năng thương tất cả chúng sanh, có khả năng làm lợi ích muôn loài v́ bản tánh vốn đầy đủ tất cả. Nếu thiếu một mải may nào th́ không nói nó đầy đủ được. Nó có khả năng làm cho ô uế. Tự tánh này nó có khả năng đầy đủ tất cả. Nó có khả năng gian dối, lừa đảo, ăn cướp, ăn trộm, x́ ke, ma túy, hại cha, hại mẹ, làm khổ người này, làm khổ người khác. Nó có khả năng thiên biến vạn hóa.

Nếu người niệm Phật không thấy tự tánh của chính ḿnh như thế nào th́ vẫn là mê. Vậy tâm nào là tâm Phật ? Niệm nào là niệm Phật ? Tâm nào là tâm phan duyên ? Niệm nào là niệm sanh diệt, có nhận biết được sự biến hóa của tâm hay không ? Nên sáng suốt mà nhận định để tránh sự mê lầm đă đeo đuổi theo ta nhiều đời trong lục đạo.

Người niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, chữ “A Di Đà Phật” là vô lượng quang để chỉ biết đó là tự tánh sáng suốt, đầy đủ trí huệ, đầy đủ công đức, v́ nó có thể làm tất cả mọi việc công đức vô tận vi diệu vô cùng, ta có biết được điều đó hay không ? Hăy b́nh tĩnh nhận biết điều này, đó là lợi ích rất lớn cho người tu Phật, hiểu được điều này là tự mở được màn vô minh đă che mờ tăm tối, thoát khỏi tam đồ khổ.

Niệm Phật có biết A Di Đà là ǵ không ? Vô lượng công đức ở chỗ nào ? Đầy đủ ở chỗ nào ? Thiện ác gian tham đều đầy đủ, sáng suốt trí huệ ở chỗ nào ? Thanh tịnh ở chỗ nào ? Nó đều nằm trong tự tánh đừng nên mê tín dị đoan. Việc này mỗi Phật tử phải sáng suốt mà thấy được trí huệ A Di Đà Phật là tự tánh của chính ḿnh. Phải hiểu là tự tánh sáng suốt, trí huệ có khả năng đầy đủ tất cả. C̣n người sơ cơ không biết cứ măi nhắm mắt ngồi chờ ông Phật A Di Đà từ cơi Tây phương Cực lạc bay xuống để cứu ḿnh, đó là sơ cơ chưa hiểu đạo, phải mượn phương tiện mà nói vậy thôi. Chớ c̣n A Di Đà Phật mà không biết tự tánh A Di Đà Phật đang ở trong ḷng của ḿnh từ hồi vô thủy vô chung đến bây giờ, nếu không biết được việc đó th́ niệm Phật có được sự ích lợi ǵ ? Như vậy, tự tánh vốn đầy đủ “dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động” thật hay vô cùng!

Tánh tự nhiên - bổn tánh có khả năng tối thượng vô cùng. Nếu người nhút nhát lười biếng, không siêng năng, vừa hơi khổ đă cất tiếng rên. Người nhút nhát là người không có khả năng, nhưng trong tự tánh mọi người có đủ khả năng chịu đựng tối đa, khổ đến bao nhiêu cũng buông bỏ để vui được, cực bao nhiêu cũng vui, chỗ nào cũng bằng ḷng đó cũng là xử dụng tự tánh của chính ḿnh. Khổ kệ khổ, vui th́ cứ vui, luôn luôn an lành trong cái khổ vui, an ổn trong cái nghèo, v́ cái nghèo nào có khổ, cái khổ nào phải thật khổ đâu mà do tự tánh ḿnh ngu muội không dám chấp nhận nên măi than khổ, chớ ta chẳng có cái khổ nào thật cả. Nếu nghe không vừa bụng th́ nhăn mặt nhíu mày, buồn phiền khóc lóc, phải chi lúc nào ta cũng thường sống với A Di Đà Phật, biết rằng tự tánh tự nhiên có khả năng chịu đựng tất cả cái khổ, khổ th́ khổ ta vẫn có khả năng chịu th́ làm ǵ mà khổ ? Tự tánh có khả năng chịu cái nghèo, nghèo đến tận mạt cũng chịu nỗi th́ làm ǵ khổ. Thiếu chút xíu th́ khổ, th́ than th́ khóc, đ̣i hỏi đủ thứ bởi đó là tâm lượng người không trí tuệ. Tu là phải nắm ngay tâm lượng của chính ḿnh, tu là chuyển cái nghiệp, là đổi cái mờ tối ra cái sáng, tu là đổi cái ngu muội ra cái trí huệ. Tại sao ta không biết dùng cái trí tuệ để chuyển tất cả nghiệp thức sai lầm của ḿnh ? Khi xưa việc ǵ cũng khổ, cũng khóc, c̣n bây giờ sống với trí tuệ hiểu biết dù cho sập trời cũng không khóc, nhà tan cửa nát cũng không khóc, ta biết đó là lẽ tự nhiên, ḿnh có khả năng chịu được, nên khả năng của Phật là vô lượng vô biên, vô cùng, vô tận. C̣n chúng ta một chút ít, nhỏ hay lớn, có hay không tùy theo sự nhận định sáng suốt trí tuệ hay ngu muội của mọi người ta cần phải thấy chỗ đó.

Dè đâu bản tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp, ở trong bản tánh bổn lai diện mục của chúng ta rất tài giỏi. Nó có khả năng làm xướng ngôn viên, th́ đi học xướng ngôn viên, muốn làm bác sĩ cũng được, làm giảng sư thuyết pháp cũng được v́ khả năng của nó vốn đầy đủ. Lục Tổ nói : “Đâu dè tự tánh thường sanh muôn pháp” pháp nào cũng sanh, làm ǵ cũng được, vậy mà từ xưa đến nay ta măi đi cầu ông này bà kia. Mà đâu dè tự tánh sanh muôn pháp, ta có thể làm ăn trộm, ăn cướp, ta cũng có thể làm người bỏn xẻn, ích kỷ cũng là ta. Như ta cũng có khả năng làm Bồ Tát, cũng có khả năng làm Phật cũng là ta vậy mà chúng ta đi cầu Phật, năn nỉ Phật mà không chịu làm Phật. Chúng sanh đi cầu Bồ Tát mà không chịu làm Bồ Tát, cứ măi cầu xin như vậy, tâm lượng của ḿnh luôn vô duyên, ích kỷ, hẹp ḥi. Như vậy, con người ấy có hiểu tự tánh A Di Đà là ǵ không ? Chắc là không hiểu !!! Vậy niệm Phật ở ngoài môi, niệm ngoài cửa miệng lôi thôi thêm rầy. Nếu biết được tự tánh mà niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” vừa khởi là trí huệ bừng sáng vô lượng hào quang, vô lượng công đức đem đến cho mọi người, đem đến cho ḿnh, đem cho khắp cả chúng sanh đều có niềm vui an lạc. C̣n niệm mà không có trí tuệ hiểu biết là niệm ở ngoài môi, niệm ngoài cửa miệng lôi thôi thêm rầy, ồn ào làm cho người ta mất ngủ, làm cho người ta không yên. Vậy mà có nhiều người làm như thế, nếu ngoài thế gian cho làm sao cũng được, c̣n người đă hiểu biết th́ khi người đau  bệnh mà đem máy để niệm A Di Đà Phật th́ có kết quả ǵ ? Cái máy có nghĩa lư ǵ ? Tâm của cái máy ở đâu ? Tâm nào là tâm Phật ? Thế nào là Phật tức tâm ? Chỉ cần hỏi rằng, c̣n nhớ A Di Đà Phật là ǵ không ? Nếu họ trả lời là tôi c̣n nhớ rơ lắm, bây giờ đang nằm đây, nhưng tôi vẫn nhớ rơ tự tánh A Di Đà là vô lượng công đức, tôi đang ở trong vô lượng công đức, tôi đang biết được sự bố thí, hỷ xả, từ bi ḷng thương yêu chúng sanh muôn loài tâm lượng tôi bây giờ là như vậy, tâm lượng của tôi là Bồ Tát, tâm lượng của tôi là Phật. Hiện giờ đang có Phật trong ḷng tôi đây, c̣n niệm ǵ th́ mặc kệ nó. Nếu như xúm lại cho đông mà niệm A Di Đà Phật mà người nằm đang hấp hối rên la, kêu khóc th́ việc niệm hoàn toàn không hiệu quả ǵ. Có hiệu quả ǵ không? Họ dằn dặt rên la trong phiền năo, khổ sở chẳng biết ǵ cả, như vậy người đến để trợ duyên niệm Phật phải có bổn phận nhắc nhở, phải là một vị pháp sư chỉ rơ bổn tánh cho người bệnh vốn có đầy đủ công đức, có từ bi hỷ xả thương hết chúng sanh muôn loài giờ này nên buông bỏ tất cả được không ? Hăy nên trở lại vô lượng công đức được không ? Tôi sẽ trợ duyên nhắc nhở có nhớ không ? A Di Đà Phật ? Có nhớ chưa ? Được như vậy không cần niệm nữa, cứ ngồi nghỉ ngơi người đó cũng văng sanh. C̣n như đem cả đoàn đến hộ niệm mà họ giăy dụa, miệng nói lôi thôi th́ đừng nên niệm nữa chỉ vô ích thôi. Vậy khi làm ta phải hiểu Đức Phật nói rằng, người có trí như người có mắt, người không trí như kẻ đui mù, nghe nói th́ bắt chước theo, làm mà không hiểu, không biết, làm mà không trí tuệ. Ngài Huệ Năng nói về tánh “Kẻ nào chẳng biết bản tâm, người không biết tự tánh học đạo vô ích”. Kinh điển đọc hết cả chồng mà tự tâm không biết trở thành vô ích. Lục Tổ Huệ Năng có quyển Kinh nào đâu, chỉ nghe đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” liền giác ngộ. Tất cả đều do tâm ham muốn, trụ chấp, chấp nhà, chấp nơi vợ con vàng bạc, những cái đó là huyễn mà tưởng thật rồi ôm vô tâm cho khổ sở nên ngài nói : “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là chẳng trụ vào đâu cả. Vậy nguồn tâm sáng suốt có trí huệ vô lượng công đức, nên Ngũ Tổ nói với Lục Tổ rằng : “Kẻ nào chẳng rơ bản tâm th́ học đạo vô ích”, người tu cần biết được chỗ này, nếu ai biết được bổn tâm vốn tự nhiên, thấy bổn tánh vốn tự nhiên tức gọi là Bậc Trượng Phu. Người nào mà thường xét tâm ḿnh thấy từ cái buồn ( sao hôm nay tôi buồn quá ), coi lại cái buồn này vốn ở đâu ? Vậy cái buồn này ở bên ngoài là do nơi Trời, Phật, Quỷ Thần đem đến hay là do tâm ḿnh sanh ra, nếu như không khéo chuyển hóa nó hoặc chịu không nỗi, nó sẽ làm cho ḿnh đau khổ có khi đến tự sát bỏ thân mạng. C̣n như xét ra được th́ ra trong ḷng khởi lên cái khổ, chắc là trong nhiều đời kiếp chính ḿnh đă gieo hạt giống khổ này, bây giờ biết được bổn tánh tự nhiên là do ta biến hóa, th́ sự buồn này, khổ này ta đủ sức chịu đựng được, không quan trọng nó nữa th́ tự nhiên sáng suốt nhẹ nhàng thanh tịnh, trí huệ vô cùng. Nếu v́ khổ quá t́m Thầy để cầu an, cầu siêu th́ người này đối với sự học Phật đă chạy ra ngoài quá xa trăm trượng rồi. Hăy nên xét lấy ḷng ḿnh, ngồi mà nghe đang buồn, nghe ḿnh điên đảo, phải tự sắp xếp sửa chữa, v́ trong tâm có muôn pháp có thể đem ra hóa giải được. V́ buồn hay vui đó chỉ là trạng thái biến đổi của tâm vô thường mà ḿnh cứ tưởng là thật của ḿnh, rồi chấp giữ. Lời Tổ dạy “Chúng sanh thường nhận giặc làm con” cứ măi cầu bên ngoài, nên Phật nói : “Có những kẻ nhận ma tưởng Phật, có những kẻ có Phật tưởng ma”. Ḿnh có tự tánh sáng suốt, trí huệ vốn đầy đủ công đức, vốn vô lượng, vô biên trùm khắp pháp giới, khắp thế gian vạn loại. Phật nói rằng “Ta thành Phật được th́ tất cả chúng sanh đều thành Phật được v́ tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật, nếu biết trở về tự tánh sáng suốt trí huệ”. C̣n người đời không biết cứ chạy cầu bên ngoài. Như vậy thấy được bản tánh tự nhiện là bậc trượng phu, là Thầy của Trời, người, người nào sử dụng được tự tâm, tự tánh chính ḿnh mà ra độ chúng sanh. Nếu độ Trời th́ làm Thầy của Trời, độ người th́ làm Thầy của người. Ngoài ra chúng ta cũng phải hết ḷng trân trọng kinh sách v́ Phật để lại 12 ngàn bộ kinh, nếu ai đủ phước coi mới hiểu, c̣n không có phước th́ như coi nhật tŕnh hay đọc báo để biết tin tức. Ngày xưa Đức Phật nói như thế nào ? Những người đủ duyên khi nghe được lời Phật dạy mà nguồn tâm sáng lên là người có phước, c̣n coi kinh mà nguồn tâm không sáng là vô phước, nên đức Lục Tổ Huệ Năng mới nói với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn “Bạch Thầy trong tâm con thường sanh trí huệ, tâm con thường sanh muôn pháp, không dè trong tâm con đầy đủ tất cả vô lượng công đức”. Với Lục Tổ chỉ nghe một câu kinh mà tâm ngài bừng sáng, c̣n chúng ta ôm cả chục, trăm ngàn cuốn kinh mà trí huệ không có. Như vậy người đối với kinh có phước, có người đối với kinh không có phước, nên có câu :

Nhẹ căn chỉ tốn vài ḍng

Nặng căn phải tốn cả chồng sách kinh.

Ngày xưa có một đệ tử của Tổ, Tổ dạy tâm ông tức Phật, ông chỉ nghe một câu như vậy liền lên núi cất thảo am ( thảo am là am lợp bằng cỏ ), ở đó ngày ngày uống nước suối, ăn cơm hẩm, đào rễ cây để ăn, lo tu ǵn giữ chỉ một tâm. Tâm con tức là Phật, người ấy thấy tâm ḿnh là Phật cứ theo dơi tâm tự tỏ ngộ lấy tâm ḿnh tức Phật, đâu tốn sách kinh ǵ nên Tổ Huệ Năng nói với Ngũ Tổ rằng “Khi con mê th́ Thầy độ, khi ngộ rồi con tự độ con”. C̣n ta ngày nay vạn sách ngàn kinh mà tâm chưa tỏ ngộ, tại sao ? V́ ta cứ dùng kinh đọc nhiều để bàn luận mà thường nói là lư luận cứ măi chạy theo bên ngoài, trong kinh Phật nói rất rơ, đừng nên nghe tiếng thế gian nói này, nói nọ, thế kia, đừng nên nghe theo họ mà nên xét lại tự tâm rằng sau khi tôi làm lễ cúng cầu an, mà nghe trong ḷng c̣n tham lam, sân si, phiền năo, ích kỷ, hẹp ḥi coi có c̣n không. Tôi đă làm lễ cúng vài chục triệu mà trong ḷng c̣n cái đó không? Nếu như vẫn c̣n th́ chưa an bao giờ, c̣n chưa cúng mà vừa nghe giảng một thời pháp tự an ổn được tham, sân, si, phiền năo không khởi dậy, hoặc khởi lên tôi không bằng ḷng vừa ư với nó, v́ theo Phật dạy, nó là tam độc là tam nghiệp của con người cần phải biết, khi tâm không c̣n ư niệm đó th́ chưa tốn một đồng chưa tốn một cục xôi mà tâm đă dần dần được sự an ổn. Khi muốn tu mà không hiểu biết đường lối tu thật là tội nghiệp v́ đă tốn công tốn của. Nh́n lại người phát tâm tu hiện giờ cũng tương đương như người xuất gia chớ không khác, v́ khi người đă có ḷng quyết tâm đi cầu Phật, đi niệm Phật cũng có tâm như người xuất gia. Nếu như người đă ở trong chùa mà vẫn c̣n lo sự nghiệp, đem tiền về mua ruộng đất, sắm xe cộ, ở quê sắm trâu ḅ, như chúng ta dám bỏ gia đ́nh, bỏ cha mẹ đi t́m cầu Phật đạo nh́n coi chỗ nào cao hơn ? Như vậy khi có tâm niệm đi cầu Phật, th́ chúng ta phải rơ biết nguồn tâm, v́ Phật dạy rằng trong tâm này sanh ra tất cả pháp, có nghĩa là ai ai cũng có khả năng nhận biết, khi được nghe một thời pháp tự hiểu rằng từ trước đến nay đă từng sát sanh bằng tâm độc ác, bây giờ quyết ḷng trở lại người hiền, dù ai có chửi mắng cũng hiền không làm dữ nữa. Thời Đức Phật có Ngài Phú Lâu Na, đi qua một Quốc độ tên Du Na, con người ở đó rất hung ác, Phật hỏi : “Này Phú Lâu Na! Ông muốn qua độ một quốc độ rất hung ác để độ họ th́ làm sao ông độ họ được?” Ngài nói : “Bạch Thế Tôn con đă quyết ḷng qua Quốc độ đó”. Phú Lâu Na bạch Phật : “Bạch Thế Tôn ! Người xuất gia phải có chí thượng cầu hạ hóa, muốn thành tựu sự nghiệp dù ở lĩnh vực nào con người cần phải vượt qua khó khăn gian khổ, chông gai là điều kiện thử thách con người. Ánh sáng Phật pháp cần b́nh đẳng soi rọi khắp nơi. Có được ánh sáng Phật pháp con người mới được cái thiện, bóng tối mê muội được đánh tan, nên con nguyện đến đó để thuyết pháp, th́ dù có thịt nát xương tan”. Đức Phật hỏi : “Nếu họ chửi mắng th́ ông làm sao ?” Bạch Thế Tôn : “Nếu họ chửi mắng họ vẫn c̣n thương con và con vẫn thương họ”. Nếu họ không chửi mắng mà dùng cây, dùng đá gạch chọi th́ ông làm sao ? Bạch Thế Tôn : “Họ chọi con, họ vẫn c̣n thương con, con vẫn thương họ”. Nếu họ giết ông th́ sao ? Bạch Thế Tôn: “Nếu họ giết con họ vẫn thương con và con vẫn thương họ”, điều đó có được là do năng lực của ông lớn rộng vô cùng. Ngài như một Đại La Hán, thương yêu chúng sanh vô cùng, t́nh thương xa rộng đến muôn loài, dù người ta có đánh đập, chém giết ḿnh tự tâm vẫn bao trùm ḷng từ bi vô ngại v́ thương chúng sanh mê muội, dù khó khăn cũng quyết ḷng độ tận. Nếu Ngài có khả năng làm được th́ chúng ta cũng có khả năng làm được, với tự tánh đầy đủ ḷng từ bi. Nên lúc đó ta không cầu Phật mà Phật hiện có ngay ở trong ḷng nơi tự tánh của ta. Ta không cầu thành Phật, ta không xin làm Phật mà Phật đă ở trong tâm hồn, trí huệ sáng suốt đạo đức này. Phật ở đây, v́ hiện Phật tâm tôi đang có từ-bi-hỷ-xả, tôi đang có tâm thương tất cả muôn loài, không thù, không oán, không ghét, không oán hận ai không có tâm ǵ làm cho ai buồn phiền. Như vậy, có Phật tức Tâm hay không ? Phải biết rằng có công đức xây dựng Phật th́ nên Phật, xây dựng ma th́ nên ma. Vậy có người nào đó thường ngày hằng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà cứ mong như thế này : ta niệm Phật cho gia đ́nh khá giả, cho con cái làm nên ông này, bà nọ, ông kia, niệm Phật được phước để năm sau xây nhà lớn. Vậy người đó niệm Phật có thành Phật hay không ? Nếu mong cầu th́ đều chạy ra ngoài thế gian cả. Hiểu như vậy, ta phải biết nguyên nhân thành Phật, chắc chắn như vậy. Khi niệm Phật mà trong ḷng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, đại trí lực, thương yêu đùm bọc mọi người, làm cho mọi người hạnh phúc, chưa nghĩ ḿnh thành Phật mà Phật đă ở ngay trong ḷng người đó rồi, Phật đă xuất hiện trong gan ruột ḿnh rồi. Đặt thí dụ, nếu lúc này Thầy cũng làm bộ lên pháp ṭa niệm Nam Mô A Di Đà Phật, mà trong ḷng tính, làm sao cho mau làm giàu, làm sao cho ḿnh sung sướng, tính làm sao cho có kẻ hầu người hạ, như vậy trong ḷng Thầy có Phật hay không ? Hay là có Tam đồ lục đạo ? Vậy là tuy rằng miệng niệm Phật mà tâm không có Phật th́ “Sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Nếu miệng niệm tâm có Phật th́ thành Phật, c̣n miệng niệm mà tâm không có Phật th́ không thành Phật rất rơ ràng. Ngày xưa Tổ Hoàng Nhẫn nói với các môn đồ : Người đời coi sanh tử là việc lớn, các ngươi chỉ cầu phước mà không ra khỏi biển sanh tử, nên tối ngày niệm Phật mà cầu có phước cho được giàu có, sang trọng. Có nhiều người nói nghe rất tội nghiệp, rằng con rất mừng từ ngày con niệm Phật con của con thi đậu làm ông này, ông kia, chồng con cũng bớt nhậu, gia đ́nh con an ổn, hạnh phúc. Bây giờ c̣n lo cho con một lầu riêng để tiện việc niệm Phật. Nghe qua cũng hay nhưng không đúng với ư nghĩa của lời Phật dạy, v́ người niệm Phật không cầu phước, họa hay phước tự nhiên, niệm Phật v́ thường ngày mê muội hay niệm vọng tưởng huyễn hóa v́ đa niệm, loạn niệm. Niệm một hồng danh để nhờ đó làm giới luật, ngăn ngừa vọng niệm, đó là đến nhất tâm bất loạn. Các niệm chúng sanh đều ngừng nghỉ vắng lặng, không đuổi theo lợi, hại, hơn thua, tốt xấu, chỉ c̣n cái thanh tịnh tự nhiên sáng suốt, có đủ đức tánh từ- bi-hỷ-xả v.v… Nếu họa có đến mà ta sống được với đức tánh an nhẫn th́ họa đến bao nhiêu miệng cũng nở nụ cười, giống như ngài Phú Lâu Na dù chửi, mắng, đánh đập, giết hại nên có câu “Họa phước tự nhiên’.

C̣n người tu niệm Phật sợ họa đi cầu phước, nếu cầu không được th́ khổ đau, họa đến th́ buồn phiền th́ người này không có năng lực. Người có tự tánh mà không biết sử dụng v́ mê. Có tự tánh sáng suốt, trí tuệ, có tự tánh mà chẳng biết ǵ đến tự  tánh nên gọi là mê th́ phước nào cứu được ḿnh. Có nhiều người làm những chuyện thật đáng thương rất khổ sở v́ ỷ lại cúng dường nhiều, năm nào đến mùa An Cư Kiết Hạ cũng bỏ ra tiền tỷ để cúng dường, xây dựng chùa hàng năm bố thí cúng dường rất nhiều mà cứ trách sao gia đ́nh vẫn khổ, gia đ́nh luôn luôn lộn xộn, đủ thứ chuyện vậy nên bao nhiêu phước hữu lậu cúng dường bố thí cũng không cứu được.

Nếu không biết tu sử dụng tại nguồn tâm sáng suốt trí huệ này, có ai thấy được tự tánh của ḿnh chưa ? Khi vui nó cũng là ở trong tự tánh, nó buồn cũng ở trong tự tánh đó, nó lăng xăng lộn xộn cũng trong tự tánh đó, nó b́nh tĩnh hay sáng suốt cũng đều ở trong tự tánh đó. Nên ngoài biển tánh không có ǵ cả, ngoài tâm không có Phật nào khác. Như vậy biển tánh chứa tất cả muôn loài. Nếu chúng ra trưởng dưỡng hạt giống nào th́ giống đó lớn, nên trong kinh Phật dạy, khi chúng ta niệm Phật là phải niệm như thế nào ? Trong Quảng Hiền tŕ danh sở vị chánh văn lư nhất tâm, lư nhất tâm về phần thuận trí, nếu nghe giảng mà không trí tuệ th́ cũng lắc đầu chẳng biết ǵ hết. C̣n người có trí tuệ nghe mà hiểu Phật gọi là bậc Thượng Trí, là người có trí cao. Nên cái lư nhất  tâm dành cho bậc Thượng Trí. C̣n người không trí tuệ thấy người ta chấp tay đi ṿng ṿng cũng cúi đầu đi theo niệm A Di Đà Phật suốt ngày mà không biết ǵ cả, đi hoài rất bền ḷng mà không hiểu ǵ hết, chỉ có bậc thượng kiến mới thấu hiểu. Nhưng bậc thượng kiến không nên ỷ lại v́ thấy người không biết cứ măi theo quy tắc của thế gian, chỉ biết A Di Đà Phật mà ḿnh cười họ cũng không được, v́ mỗi chúng sanh tŕnh độ khác nhau. Ngày nay có duyên được nghe Thầy giảng giáo pháp, có nhiều người niệm Phật 20 năm chưa đủ duyên gặp người chỉ A Di Đà Phật là ǵ th́ phải thương họ chớ không được cười chê họ, nhưng cũng có nhiều cơ duyên họ cứ niệm A Di Đà Phật rồi đến duyên gặp người chỉ rơ nguồn tâm. Nay có duyên chư Phật ra đời v́ thương xót chúng sanh, thấy họ niệm Phật mà chưa có trí tuệ, giống như người có đèn mà bị tắt, nay đủ duyên đèn được gặp lửa mồi lại, giống như người thiếu ăn thiếu mặc nên khổ sở. Chư Phật v́ ḷng đại bi, đại ái thương yêu chúng sanh muôn loài cầu Phật mà thiếu trí nên Phật đem trí Phật chỉ cho chúng ta đừng nên chấp mà phải đầy đủ hiểu biết.

Truyền đăng tục diệm là mồi đèn làm cho biển trí huệ càng ngày càng lớn, nếu có những người chưa được nghe th́ ta cần phải nhắc rằng :

Nếu niệm Phật th́ nên xét lại ḷng ḿnh như thế nào ? Nó đang xảy ra chuyện ǵ có phải ta đang buồn phiền, ta đang phiền năo, v́ gia đ́nh hay của cải, nếu thấy vậy phải giác ngay tự tánh A Di Đà có khả năng chịu được. Ta cứ tự nhiên không sợ, cứ niệm Phật đừng chán nản, đừng khổ sở v́ những điều này. Tất cả đều ở trong biển tánh v́ ta không biết sắp xếp, không có khả năng chuyển hóa cho nó an ổn, nếu như có khả năng th́ mọi việc sẽ an ổn vô cùng. Có nhiều người ngày nào trong túi không tiền là đă thấy khó chịu, cũng có những người cả tháng không có đồng nào, nhưng tự tánh họ vẫn có khả năng chịu được, như hiện giờ ngồi đây ta cho là nóng nực, mệt mỏi, th́ cũng có những người bị nhốt trong tù, có người đang nằm bệnh viện đang thở oxy họ vẫn có khả năng chịu đựng được. Vậy tự tánh có khả năng vô lượng v́ ta không biết sử dụng nó nên cứ than van khóc lóc hết cầu xin chỗ này đến người kia. Theo những kẻ độn căn, căn tánh nhỏ hẹp, mê muội đúng ra không nên làm việc này v́ đó chỉ là huyễn hóa là sự tướng bên ngoài. Chư Tổ v́ thương chúng sanh, biết ai ai cũng có tự tánh sáng suốt, trí huệ nhưng không biết xài nên thương, tập họp lại để dạy chỉ rơ tự tánh cho mọi người. Tổ sáng chế ra mỗi tháng một lần tựu về để niệm Phật, kinh hành để có công đức, sau này được văng sanh về thế giới Cực Lạc. Đó là phương tiện đầu tiên để dẫn dắt chúng sanh v́ chưa rơ nguồn tâm dần dần gần gũi với Tổ có cơ duyên Tổ sẽ dùng ánh sáng trí huệ vô lượng công đức chiếu vào hào quang của ta bậc sáng nên lúc đó ta được lư sự viên dung, tức là miệng ta lầm thầm niệm Phật, ư ta tưởng Phật th́ hào quang Phật rọi khắp mười phương. Như vậy, khi ta niệm Phật cần nhất tâm. Vậy nhất tâm là ǵ ? Nhất tâm là không có hai tâm, hai tâm là nhị tâm. Ở thế gian chẳng sợ việc chi mà chỉ sợ người có hai ḷng. Người tu sợ nhất là hai ḷng, miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà tính nhà cửa, xe cộ, lời, lỗ th́ người này niệm măi chẳng kết quả ǵ. Người niệm Phật một ḷng gọi là nhất tâm, niệm A Di Đà Phật tự xét lại coi tâm có bỏ được tham lam, ích kỷ, hẹp ḥi, ḷng của ḿnh có được chút nào đại bi, đại hỷ, đại xả chưa ? Hào quang trí tuệ của ḿnh có chưa ? T́nh thương yêu chúng sanh muôn loài ḿnh có chưa ? Có giúp cho mọi người an ổn chưa ? Nếu tự thấy được như vậy th́ hào quang trí tuệ bừng sáng chiếu ra, nên người này trong kinh Phật nói là nhất tâm. Nếu nhất tâm mà không thành Phật th́ trong bốn mươi tám lời nguyện của Đức A Di Đà nói rằng : “Ta không phải là bậc chánh đẳng chánh giác”.

Cũng ngó xuống, cũng nhắm mắt, chấp tay niệm rành lắm mà tâm lung tung đủ thứ chuyện đó là không nhất tâm. Niệm như vậy mà không thấy Phật v́ “Kiến Phật dứt sanh tử” Niệm Phật mà thấy Phật trong tâm th́ không c̣n sanh tử. Nam Mô A Di Đà Phật  là thấy Phật ( kiến tánh ) nhưng không phải Phật mang h́nh tướng mà Phật bằng trí huệ. Niệm Phật mà ḷng ích kỷ, thù oán, ai có đói nghèo mặc ai, họ có đánh nhau cũng mặc, chết chóc cũng kệ. Nhưng bây giờ đă chuyển hóa biết thương yêu họ th́ Phật ngự liền lúc đó. Nên có câu thật hoan hỷ rằng: “Thiên Thượng Thiên Hạ ta đă ngự nơi tâm các ngươi rồi đây”. C̣n niệm A Di Đà Phật mà có người đến v́ nghèo đói cần sự giúp đỡ mà không giúp c̣n buông lời thóa mạ thế là ma đă chắc chắn có trong ḷng người đó không sai.

Tổ dạy rằng : “Người tu mà giác ngộ dù ở đâu cũng an vui hạnh phúc, c̣n người tu không thấy được nguồn tâm dù ngồi ở ngai trời vẫn khổ”. Nay đọc lại lời Tổ dạy ta thấy an vui hạnh phúc, chúng ta vui để niệm Phật. Niệm Phật phải nhớ A Di Đà Phật là công đức vô lượng, trí huệ vô lượng, hào quang sáng suốt vô lượng, chứa tất cả muôn pháp an vui vô cùng, vô tận, ta có khả năng làm được tất cả. Trong kinh Phật dạy, các Bồ Tát hành lục độ Bố Thí tŕ giới. Giới nghĩa là quy luật ḿnh không có quyền làm cho người khác khổ sở, không có quyền làm người khác chết chóc, không có quyền làm người khác tai  nạn đó là ta đă giữ giới. Đă biết nguồn tâm thanh tịnh th́ đă có khả năng làm việc đó, giống như ta muốn xây nhà phải có tiền.

 

 

Nguyện sanh Tây phương Tịnh Độ.

Nghĩa là ta có mặt nơi thế gian ngày nào đều làm lợi ích cho chúng sanh, dù chưa thấy về Tây phương Tịnh độ, mà Tây phương Tịnh độ đă có sẵn nơi tâm rồi.

Nói tự tánh Di Đà duy tâm Tịnh độ là chỉ ngay lư nhất tâm bất loạn. Người biết xét ngay nguồn tâm của ḿnh không c̣n lộn xộn gọi là không loạn, không c̣n tính việc này việc kia, việc nào không c̣n ham muốn gọi là không loạn. Đến giờ sắp chết mà bị loạn v́ ham của tiền nhiều quá, vợ con kẻ ăn người ở, ruộng vườn, đất đai nhiều quá, ham muốn nhiều quá th́ người này giờ phút lâm chung sẽ loạn. C̣n người khi biết niệm Phật coi tiền tài như phẩn thổ, ruộng vườn đất đai không phải của ḿnh. Từ xưa đến nay ai cũng muốn gom góp làm của riêng ḿnh chớ thật ra c̣n ba tấc hơi th́ tranh đua bay nhảy, nhắm mắt rồi phủi thải lợi danh, khuyên ai thường xét cho rành, của không phải nghĩa chớ sanh ḷng tà. Nhắm mắt rồi vợ con tiền của cũng không, vợ con người ta xài, tiền của người ta lấy, chẳng có ǵ của ḿnh cả đâu, có ǵ phải đau khổ, đâu có ǵ phải loạn. Theo nhân quả mà nói người nào sáng suốt là nhân trí huệ, mê muội là nhân khổ đau, vậy nhân nào th́ quả nấy, không sai kinh Phật dạy. Đó là chánh báo và y báo, nghĩa là hết ḷng suy nghĩ cách để làm Phật. Nghĩ đến việc làm lợi ích chúng sanh đây là chánh báo. Khi hiện ra tướng Như Lai ḷng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, bao trùm khắp pháp giới khắp tất cả chúng sanh muôn loài đó là y báo. Ta phải phát nguyện tu để sau này đem tất cả sự giác ngộ, nguyện đem hết những ǵ hiểu biết truyền trao cho mọi người th́ đây là chánh báo. Đến chừng y báo sáng suốt, trí huệ minh thông th́ mọi người đến quây quần để học hỏi là y báo.

Nếu như không thấy chánh báo, không thấy y báo, không thấy nhân quả th́ tu hành vô ích. Kẻ độn căn không kham lănh nỗi, bậc thượng trí nghe giảng liền biết, nghèo giàu ở ngoài chớ không ở nội tâm. V́ không sáng suốt nên mê chấp, hiểu biết rồi từ nay dù một đồng, một cắc cũng không tham. Nguyện bố thí cúng dường làm phước. Việc làm này phát xuất từ tự tánh thanh tịnh, bằng ḷng thương yêu muôn loài, vạn vật chỉ làm lợi ích cho mọi người và bảo tồn Phật pháp, tâm không cầu lợi, cầu phước đó là việc làm công hạnh vô úy, là hạnh ba la mật. Làm tất cả mọi công đức người này gọi là Thượng Trí. C̣n độn căn nghe qua cho rằng ḿnh không thể có khả năng làm nỗi. Hạnh kham nhẫn Phật nói nhẫn … nhẫn … nhẫn …

Học xong chữ nhẫn, Niết Bàn không xa. Con nhịn măi không chỉ ba lần thôi, mà nhịn đến khi con thành chánh giác.

Tâm măi nhịn dù thân có thác

Thác thân con mà tâm được nhẹ nhàng

Cơi Tây phương chắc chắn sẽ bước sang

Bằng con đọa Thầy nguyện ra chịu thế. (CLKS)

Kỳ này con nguyện nhẫn dù giết con cũng nhẫn đây là bậc Thượng Trí, c̣n bậc hạ căn không kham nỗi.

Chúng ta hăy tự xét lại nội tâm, khi nghe giảng mà nội tâm có xoay chuyển. Nó là vô lượng thọ, nó có khả năng thọ dụng làm được tất cả những việc thế gian, v́ có khả năng làm được nên gọi là vô lượng thọ. Nó làm được tất cả việc thiện lành, tự tánh này tiếp nhận và hiểu biết được tất cả, ta phải hiểu cho kỹ.

Nói nhất tâm không chỉ nghiêng về lư mà phải biết dụng thông đến sự v́ sự nhất tâm ai cũng làm được. Ai cũng biết lư này để chúng ta mau được sáng suốt, mau có trí huệ để chắc chắn yên tâm mà chúng ta thực hành mọi công hạnh. Nếu người sự mà không lư cứ chấp tay, miệng niệm Phật mà tâm luôn ước ao mong ham cầu việc này, việc nọ, việc kia thời gian không như ư niệm. Nếu có người hỏi c̣n đi niệm Phật không ? Trả lời rằng không c̣n đi niệm nữa v́ niệm hoài mà không được ǵ, thôi ở nhà lo gia đ́nh tốt hơn đó là sự thiếu lư. Người lư sự viên dung cứ đi niệm Phật, nhắc nhở nhau rơ biết lư sự đều nhất tâm.

Lư cũng phải thông đồng đến sự nữa v́ với lư sự nhất tâm ai cũng làm được.

Pháp tŕ danh niệm Phật trùm khắp che chở trong bầu vũ trụ, không bỏ một vật nào, nghĩa là nếu ai có duyên, có duyên với Phật, có duyên với Pháp, có duyên với Tam Bảo mà hôm nay nghe được thời pháp này lănh hội được bằng như ai đem cho cả núi vàng, núi bạc, núi châu báu đến cho ḿnh vô cùng quí báu. C̣n người không đủ phước duyên, nghe rồi phủi rớt mất không nhận được chút nào hiểu biết nên những người này đến với Thầy, nghe Thầy nói th́ có vẻ hơi nặng rằng, họ không cầu nhất tâm, người này không cầu Phật đạo, mà đến thách đố để cầu danh, cầu lợi hoặc cầu ǵ đó nên Cổ Nhân có câu rằng : “Đàn khải tai trâu”. Nếu nghe mà tiếp thu được, mà bỏ không tu, chỗ này thật uổng công vô cùng. V́ được thân người đă khó, gặp chánh pháp cũng khó, nghe chánh pháp càng khó nên cái khó nữa ta phải tinh tấn vượt lên là sự lư thực hành mới tṛn duyên học Phật.

Hôm nay, pháp Quảng Hiền tŕ danh sở vị c̣n hai mục Tổng Thán và Biệt Thán như vậy những lời sau là tán thán ca tụng.

Chúng ta nghe xong trong đạo tràng có ai tiếp thu và hiểu được không ? Thời giờ có hạn, nếu ai tiếp thu được th́ tự hỏi lại ḿnh có thấy được Phật chưa ? Tu mà không thấy Phật giống như người đào giếng mà không thấy nước, giống người đào vàng đải hoài mà không thấy vàng.

Niệm Phật mà không thấy Phật là niệm khô cằn, gọi là khô mộc ( cây khô ). Trước khi dứt lời Thầy nhắc lại rằng Thiền với Tịnh không xa người niệm Phật. Không loạn là Thiền, v́ muốn Tịnh phải Thiền. C̣n như Thiền th́ tâm phải Tịnh đó mới là Thiền Tịnh Song Tu. Thiền có ngoại đạo Thiền và Phật Thiền. Ngoại đạo Thiền là ǵ ? Phật Thiền là ǵ?

Ngoại đạo Thiền : là suy tưởng tôi sẽ đến cảnh Trời này, tôi sẽ về cảnh tiên kia, tôi được đến ở Quốc độ nọ, hoàn toàn tính việc ở ngoài tâm nên gọi là đạo ngoài là Ngoại Đạo Thiền.

Phật Thiền : Gọi là xa-ma-tha, là tam-ma-đề, là thiền quán, quán xét lại tự tánh có sáng suốt trí huệ không ?

Thiền chỉ là trực chỉ vào tự tánh sáng suốt trí huệ, không đi ngoài đâu cả, chỉ thấy tâm tức Phật không hề lay động bởi hoàn cảnh bên ngoài.

Thiền định là sau khi sắp xếp ta chấp nhận tất cả nhân quả đă gieo từ xưa đến giờ, đă ăn gian, nói dối, giết người, hại vật đủ thứ chuyện, nên nay vui ḷng chấp nhận không chạy chối đâu cả. Nếu nghiệp đến, ta hoan hỷ chấp nhận. Chúng ta có vô lượng thọ nơi tự tánh, v́ ta không nhận, chớ ta có đủ khả năng, việc ǵ cũng vui ḷng, cứ trở về tự tánh mà lo tu. Tu quán, tu chỉ, tu định vậy người ngồi niệm Phật mà tâm không loạn, tức Định là tu Thiền đó. Ngồi xét lại tâm ḿnh có Phật ( là Giác ) có đủ công đức không ? Hay c̣n tham lam, sân hận, si mê, tâm không hẹp ḥi, ích kỷ đây là tu Quán.

C̣n như chấp nhận nhân quả từ xưa đến giờ mà ta đă tự gieo tạo đến với ta, trong nhà Phật có câu :

Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát làm việc ǵ cũng xét rằng điều này có tự tư tự lợi, việc này là làm ích lợi riêng ḿnh, hay v́ tốt đẹp cho mọi người mà làm, đó là Nhân, khi quả đến Bồ Tát vui ḷng tự chấp nhận, tự hoan hỷ, an ổn nên gọi đó là Định.

Tu chỉ là trực chỉ vào tâm, không nghĩ lung tung, không nghĩ cúng, không nghĩ phải lạy, không phải có ư nghĩ lo sửa nhà qua hướng Đông, hướng Bắc, tất cả đều không, quan trọng điều có sự sáng suốt, trí huệ, không chạy theo các vọng niệm thế gian bên ngoài. Nếu như chúng ta ai ai cũng làm được như vậy, với thời pháp này Thầy nguyện cầu chư Phật mười phương gia hộ cho quí vị luôn sống với tự tánh trí huệ, làm được tất cả công đức. Không phải đợi đến giờ lâm chung mới kiếm Phật mà giờ giờ, phút phút đều thấy Phật, dứt được sanh tử, làm lợi ích muôn loài.

Kính thưa Thiện hữu thân mến !

Qua bài pháp trên, Thầy đă dùng năng lực tu hành đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả sáng suốt, trí tuệ của tự tánh thanh tịnh A Di Đà Phật tự nhiên hằng hữu sẵn có nơi Thầy, với sự cảm thông vô lượng, chỉ rơ tất cả những tâm niệm huyễn hóa, vọng tưởng lầm lạc mà nhiều người đă cố gắng tu, không sáng suốt thường mắc phải.

Trong cuộc sống hiện nay, rất nhiều người phát tâm tu, học Phật, niệm Phật, nhưng thường theo sự tướng bên ngoài mê hoặc làm mờ bản tâm thanh tịnh hằng sáng. Pháp niệm Phật rất thù thắng, nhưng chỉ thù thắng vi diệu với người nhất tâm bất loạn, c̣n miệng niệm mà tâm loạn th́ chưa phải là Phật tức tâm, tâm đang loạn không phải là tâm tức Phật.

Các pháp thế gian luôn sanh diệt, vô thường, không thật. Trong kinh thường dạy các pháp như huyễn như hóa, như mộng, như điện chớp, như bọt, như ảo ảnh, cái ǵ có sanh sẽ có diệt, có đến sẽ có đi. C̣n Như Lai là Như Như bất động, không đến không đi, trùm khắp. Chúng ta thường sống với niệm sanh diệt, Phật dạy đó là phan duyên, tất cả đều do căn, tiếp trần, thức biến hiện chợt có chợt không, do ta lầm chấp duyên theo đó là nhân quả, là nghiệp do thức dẫn ta măi luân chuyển trong luân hồi lục đạo.

Tổ Minh Đăng Quang dạy :

Loanh quanh trong cạm luân hồi

Xoay qua trở lại biết hồi nào ra.

V́ vậy khi niệm Phật mà tâm không chánh định, măi chạy theo những vọng niệm luân hồi nên loanh quanh không thể nhất tâm.

Vậy A Di Đà Phật là vô lượng quang, là sự sáng suốt, đầy đủ trí huệ, nhận biết rơ được các pháp khắp các cơi từ tham lam, sân hận, si mê, hay từ bi, hỷ xả v.v… mà tự tánh hằng thấu suốt chiếu soi. Người trí huệ hay si mê tự chọn mà sử dụng. Trí huệ th́ sử dụng từ bi hỷ xả, c̣n ngu muội th́ sử dụng tham, sân, si đó là nhân phát sinh chánh hạnh hay tà hạnh, nhân chánh th́ quả chánh, nhân tà th́ quả tà.

Vô lượng thọ là tánh tự nhiên hằng sáng, có khả năng chịu đựng được mọi khổ vui, có năng lực vô lượng, thường theo ta đời đời, kiếp kiếp, bất luận ta là Phật là Bồ Tát, hay ngạ quỷ súc sanh, dù ở Thiên đàng hay địa ngục từ vô thủy vô chung vẫn bên ta vô lượng kiếp.

Vô lượng công đức, có đủ công năng biến hóa từ phàm đến Thánh, từ Thánh ra phàm, có thể thành Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát v.v… đó là những công hạnh vô ngại, vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, đó là sự diệu dụng mầu nhiệm vô lượng vô biên công đức của tự tánh A Di Đà.

Vậy Phật là tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn, người tu Phật phải quay vào tự tánh Phật để thấy được thế nào là tánh Phật, sống với tánh Phật nên gọi là tu tâm. C̣n tu theo những tâm niệm bên ngoài là vọng niệm. Tổ thường nhắc nhở “Coi chừng ta nhận giặc làm con”, c̣n cách xa Phật Tổ vô cùng, v́ luôn luôn nuôi giặc mỗi ngày thêm lớn. Ta phải thật sự với tâm, tự quy y Phật nghĩa là tự quay về Phật tánh của chính ḿnh. Để không phải lầm lạc, thường sống với bản tâm sáng suốt trí huệ, minh thông, ḥa nhập chơn không chiếu soi cảm thông vạn loại … đó là sự vi diệu chơn không, nhưng diệu hữu đủ khả năng biến hóa vô lượng, vô biên công đức.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT !

A DI ĐÀ PHẬT !

 

Cư sĩ Phật tử Như Thánh

viết lại lời giảng của Thầy

Tại Thiền Viện Minh Đức.

Khóa niệm Phật một ngày

Chúng Liên Tông Tịnh Độ

Đoàn Phật tử Long An

Ngày mùng 05 tháng 08 năm Canh Dần ( 2010 )

Thành kính cúng dường

Ai đă một đời học Phật

Đă là nhân làm Phật từ xưa

Có duyên dù sớm hay trưa

Dù mê hay tỉnh có chi ngại ngùng

Duyên lành gặp pháp đại hùng

Là duyên trợ lực khắp cùng chúng sanh

Hăy nên nghiệm xét cho rành

Nương về Phật lực chánh minh tự ḷng

Đừng mê huyễn vọng mênh mông

Suy t́m ảo tưởng quả nhân luân hồi

Duyên lành nay đă gặp rồi

Thầy ban pháp nhiệm phục hồi tánh minh

Không cầu cũng chẳng van xin

Ở nơi trí huệ tánh linh nhiệm mầu

Mấy ai nhớ đạo thậm sâu

Chiếu soi vạn loại tự A Di Đà

Bao trùm muôn pháp hà sa

Khắp trong pháp giới Ta Bà diêu minh

Gặp rồi nên khá giữ ǵn

Nơi tâm thanh tịnh như in Phật rồi

Từ đây đi đứng nằm ngồi

Bồ đề tự tánh sáng ngời không hai

Nhất tâm sống chết từ rày

Con nguyền cùng Phật không hai tấm ḷng

A Di Đà Phật thong dong

Quán Âm xem xét đục trong tỏ tường

Hạnh tu Thế Chí ngàn phương

Thương yêu vạn loại c̣n vương năo sầu

Mâu Ni tịch lặng thậm sâu

Phổ Hiền độ khắp hóa duyên giáo truyền

Bạn lành là khắp chư Thiên

Nắm tay Bồ Tát kết duyên độ đời

Nguyện sanh khắp cả mọi nơi

Tứ hoằng thệ nguyện chẳng vơi tấc ḷng

Tự tánh chúng sanh vô biên thệ nguyện độ

Tự tánh phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn

Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Tự tánh phật đạo vô thượng thệ nguyện thành./.

 Thực hiện: Ngọc Liên