Phật Học
CÔNG ĐỨC NIỆM PHẬT
NIỆM PHẬT THẤY PHẬT

Lời giảng
: TK. THÍCH MINH ĐỨC
Biên soạn
: Cư Sĩ Phật tử NHƯ THÁNH
PL.
2554 – DL. 2010
Phương danh Quí vị phát tâm
cúng dường ấn tống
PHẬT TỬ NGUYỄN NGỌC VÂN
PD : DIỆU THANH
Phước ấn tống
sách này hồi hướng
nguyện cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ,
Ông Bà, Cha Mẹ nhiều đời, nhiều kiếp
sớm được siêu sanh miền Lạc cảnh.
Ông Bà, Cha Mẹ cùng thân bằng quyến
thuộc hiện tiền được tăng long phước
thọ, hiểu rơ Đạo lành, quay về bờ
Giác.
LỜI
THẦY
Với
lời văn mộc mạc của người dân sông
nước tỉnh Long An, Cư Sĩ Phật tử Như
Thánh đă biên soạn lại những lời
Thầy giảng, mục đích làm sáng tỏ ư
của Chư Tổ và của người giảng, chắc
chắn đem lại cho người đọc phần nào
hiểu biết được cách tu hành cho đúng
chánh pháp. Riêng Thầy rất tâm đắc
về nội dung cũng như cách tŕnh bày,
rất nhẹ nhàng làm cho người đọc dễ
hiểu, để có phương tiện tu hành.
Mong
sao các độc giả đọc qua, t́m hiểu và
nếu thấy lợi ích thực sự cho cuộc
đời tu hành giác ngộ của mọi người
th́ nên phát tâm ấn tống để mọi
người cùng hiểu biết và có phương
tiện tu hành.
NAM
MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT.
TK.
THÍCH MINH ĐỨC
LỜI ĐẦU
V́ tâm đắc
những lời của Thầy trong Khóa Tu Niệm
Phật của
Chúng Liên
Tông Tịnh Độ
tại
Thiền Viện
Minh Đức,
do
Sư Phụ Thượng
Minh Hạ Đức
thuyết giảng
về
Pháp Môn Niệm
Phật.
Cảm nhận rằng đây là hành trang cho
hành giả niệm Phật với tâm niệm
thiền tịnh song tu, nên tôi nguyện
ghi lại những giáo pháp của Ân Sư đă
nhọc công dạy dỗ và dẫn dắt sự tu
hành cho mọi người, chỉ mong ai ai
cũng sáng suốt trở về nguồn tâm sẵn
có nơi chính ḿnh để không c̣n cách
xa Phật Tổ. V́ Hồng Danh A Di Đà
Phật là căn bản vững chắc cần phải
xây dựng đúng đường hướng Phật dạy,
phải hiểu thật đúng đắn mới mong trở
thành người con Phật chân chánh, để
xứng đáng với sự quy y như pháp là
quy y Phật, Phật tức tâm, tâm tức
Phật.
ài
viết này mong sao đến với các bạn
đồng tu đủ duyên lành, hiểu được
cùng nhau thực hành trên lộ tŕnh tu
học giác ngộ giải thoát.
Với
quyển sách nhỏ này, tôi chỉ mong góp
phần công đức vào biển vô tận của
Phật pháp và làm lợi ích phần nhỏ
cho đồng đạo các nơi. Là quyển sách
đầu tay nên nhứt định c̣n nhiều
thiếu sót về nội dung cũng như h́nh
thức.
Kính
được sự chỉ dạy của chư Tôn Thiền
Đức, các Thiện Tri Thức cũng như sự
góp ư của các bạn đồng tu.
Tôi
xin thành kính cảm tạ !
NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA
TÁT.
Cư
Sĩ Phật Tử
Như
Thánh
Mỗi
tháng đến ngày mùng 05, đoàn niệm
Phật Chúng Liên Tông Tịnh Độ ở Long
An quy tựu về tham dự và được nghe
Thầy giảng pháp.
Nam Mô A Di Đà Phật !
Kính thưa Quí vị !
Sự hướng dẫn của
Thầy về pháp môn Niệm Phật, để
phương pháp niệm Phật có kết quả là
việc cần nên biết.
Niệm Phật có hai phần, gồm Lư và Sự.
a)
SỰ
: là chúng ta ngồi một chỗ niệm thầm
Nam Mô A Di Đà Phật hoặc niệm ra
tiếng Nam Mô A Di Đà Phật hay vừa
niệm vừa đi kinh hành đó là
SỰ.
Có người chấp
LƯ
bỏ
SỰ,
có người chấp
SỰ
bỏ
LƯ.
b) Chấp
LƯ
có nghĩa là :
Ta biết rơ rằng nơi ta có Phật tánh
và ai ai cũng có, đó là
LƯ.
Nhưng làm thế nào để thường sống với
Phật Tánh ?
Có người cho là A
Di Đà là bổn tánh th́ cũng đúng.
Nếu chấp
SỰ
th́ không vào được bổn tánh, luôn
luôn người học đạo phải thấu suốt
nguồn tâm.
Tổ dạy trong Kinh
Kim Cang có câu :
“Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
Nghĩa là không
trụ vào đâu mà sanh tâm (
sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp
) chỉ bao nhiêu đó th́ Ngài Lục Tổ
Huệ Năng liền đại ngộ, v́ căn cơ của
Ngài là bậc đại Bồ Tát.
Đại Bồ Tát là ǵ ?
Là người đang tu như tất cả chúng
ta, nhưng có ḷng thương yêu tất cả
chúng sanh, t́m cách, t́m mọi phương
tiện để cứu giúp chúng sinh ra khỏi
biển trần lao khổ năo. Đó cũng là
tâm niệm của Ngài Lục Tổ Huệ Năng,
cho nên Ngài vừa sanh ra th́ có hai
vị Thiền Sư đến đặt hai chữ Huệ và
Năng là tên của Ngài.
NĂNG
là dùng khả năng sáng suốt ra ban bố
cho hết thảy chúng sanh, dùng hết
năng lực độ chúng sanh nhận biết
nguồn tâm, phát sanh trí huệ nên gọi
là Huệ Năng. Như vậy chúng ta phải
giống như Ngài, Huệ Năng phải mang
tâm niệm thương yêu chúng sanh,
thương hết chúng sanh muôn loài. Tại
sao vậy ?
Có một số người đi
tu rất lầm lạc, v́ nghĩ rằng đi tu
để tôi thành Phật, không thể có sự
đó. Tôi đi tu để trở thành Bồ Tát
hoàn toàn không đúng. Tôi đi tu để
thành Thanh Văn, Duyên Giác, không
thể có. Nếu ai c̣n nghĩ như vậy là
c̣n vọng tưởng, người giác ngộ luôn
có tâm niệm lúc nào cũng mang trong
tâm là dù đời nào, kiếp nào đều nghe
theo lời Phật dạy nếu sanh ra con
người hay thú cầm tôi đều mang ơn
cha mẹ. Phải nhớ rằng, người nữ là
mẹ tôi, người nam là cha tôi, đời
nào tôi cũng làm khổ cha mẹ, gian
dối với cha mẹ, hại cha mẹ, ăn chơi
phá tán, làm cha mẹ buồn khổ mà
chết, đời nào cũng vậy.
Thứ hai, v́ cha mẹ
nhiều đời kiếp do nơi nghiệp chướng
v́ thương yêu tôi, muốn tôi được
sung sướng nên làm tất cả dù tội ác
cũng không màng, không sợ như : trộm
cướp, những việc tà bậy, giết hại
chúng sanh muôn loài. Như vậy, chúng
sinh muôn loài có cha mẹ, ông bà
nhiều đời nhiều kiếp từ xưa đến nay
v́ sự ăn uống mê muội nên ăn thịt
cá, đó là quyến thuộc nhiều đời phải
mang nghiệp súc sanh, phải chịu chết
dưới tay ta do v́ lầm mê mà tạo thêm
hận oán, tội sát không dừng bây giờ
niệm Phật mà không dứt niệm giết hại
chúng sanh, th́ dù có niệm bao nhiêu
cũng không thành Phật được. Tội gian
dối tự bao giờ không tính hết được,
nên người niệm Phật phải hiểu thật
rơ, thấu cho suốt rằng, tôi v́
thương yêu tất cả chúng sanh, công
dưỡng dục nhiều đời nhiều kiếp nên
phải phát nguyện tu, quyết ḷng tu
niệm Phật, dứt hẳn niệm giết hại oán
hờn v́ nhớ công hạnh Phật đă thành,
đă nhiều đời nhiều kiếp trong vô
lượng kiếp đă làm hạnh Bồ Tát, đă độ
tất cả chúng sanh, được như vậy khi
chữ niệm Phật ta vừa mở miệng ra th́
hào quang từ Như Lai Tạng Tánh, tức
từ tâm ta liền tủa ra như sen nở.
C̣n niệm một ngàn, triệu muôn câu
“Nam Mô A Di Đà Phật” mà tâm địa bỏn
xẻn, ích kỷ, không v́ thương yêu mà
đền đáp công ơn th́ câu niệm Phật
của chúng ta tủa ra toàn gươm, đao,
thù hận.
Đến đây nhớ
câu chuyện thời Đức Phật, có tướng
cướp Vô Năo, v́ mê lầm nghe theo
ngoại đạo, nếu giết đủ 1000 người
th́ đắc đạo. Nên ông đă giết 999
người, đến khi gặp Phật ông định
giết Phật cho đủ số 1000. Ông chạy
theo Phật, nhưng ông bước đến một
bước th́ Phật lùi một bước, chạy măi
mà cũng không gần Phật. Giận quá ông
hét lên rằng : “Cồ
Đàm ông đứng lại”,
Phật thản nhiên trả lời : “Ta
đă đứng lại từ lâu, chỉ có ông là
chưa đứng lại”.
Ông Vô Năo nói : “Ta
đă đứng lại rồi”.
Phật khuyên ông buông đao xuống, ông
liền liệng đao và nói : “Ta
đă buông đao rồi”.
Nhưng Phật có huệ nhăn nh́n suốt tận
nguồn tâm thấy niệm ác ông vẫn c̣n
nên nói rằng : “Đao
bên ngoài đă buông nhưng đao bên
trong chưa buông”,
liền khi đó tướng cướp Vô Năo ngộ
được tự tánh. Đó là tánh hiếu sát,
tham tàn, điên đảo chưa dừng. Như
vậy tuy là một tướng cướp do nghiệp
mê muội nhưng nơi Như Lai Tạng tức
chơn tâm tự tánh của ông vẫn đầy đủ
khả năng giác ngộ, sáng suốt thức
tỉnh nhận biết ḿnh vẫn có tánh
thiện lành như Phật, nên ông liền
quy y với Phật và quy y trở lại tự
tánh thanh tịnh, bỏ tất cả niệm sai
lầm mê muội để tu hành giống như
công hạnh của Phật.
Qua câu chuyện
trên, nói lên tâm trạng của người
niệm Phật thường theo sắc tướng âm
thanh bên ngoài miệng tưởng là đang
niệm Phật không ngừng, mà tâm thường
dong ruỗi, phan duyên, điên đảo theo
sáu trần, suốt đời măi gieo nhân để
đi vào sự quẩn quanh trong thế giới
tam đồ, lục đạo.
Chúng ta khi niệm Phật phải biết
rằng chữ A Di Đà Phật công đức ở chỗ
nào ?
Niệm Phật mà không
biết công đức vô lượng th́ làm sao
có khả năng độ chúng sanh được. Nếu
không độ chúng sanh th́ không tự
giác, giác tha, giác hạnh viên măn
nghĩa là ḿnh chỉ giác ngộ lấy ḿnh.
Đă mang ơn chúng sanh nhiều đời
nhiều kiếp, ngày hôm nay đầy đủ
phước duyên được làm người, được
ngồi nghe giáo pháp chính miệng chư
Phật nói th́ tại sao ta không hết
ḷng tu, mà tu để làm ǵ ? Phải biết
rơ rằng v́ sự nghiệp của chư Phật ba
đời mà đền ơn Tổ Tiên Ông Bà, Cha Mẹ
nhiều đời, nhiều kiếp v́ ta đă có
duyên. C̣n như ai nghĩ rằng, tôi
niệm Phật th́ tôi thành Phật, tôi
niệm Phật để giờ phút lâm chung Phật
rước tôi về thế giới an lành của chư
Phật để hưởng sung sướng, th́ làm
sao có chuyện đó được ?
Tâm địa chúng
ta là quan trọng, Phật nói : “Vạn
pháp thiên kinh không ngoài tâm địa”.
Tâm lưu xuất ra tất cả, nếu
tâm địa
chúng ta không lưu xuất sự trong
sáng tốt đẹp, không thương yêu mọi
người th́ dù cho niệm Phật suốt đời
cũng ở đầu môi cửa miệng mà thôi.
Thế nên Tổ dạy :
Niệm Phật niệm ở ngoài môi
Mà ḷng không niệm th́ môi có ǵ ?
Niệm Phật phải
thấy ḷng, cho nên Tổ Huệ Năng nghe
qua thấy được tánh liền đại ngộ.
“Tất
cả muôn pháp chẳng rời bổn tánh tự
nhiên”.
Nghĩa là
trong ḷng có
tâm lượng lớn lao vô cùng gọi là
biển tánh
của ḿnh. Nếu người tu hành mà không
thấy được
biển tánh
của ḿnh th́ tu suốt đời cũng không
hiểu biết đạo Phật là ǵ cả. V́
trong
biển tánh
có vô lượng công đức,
biển tánh
này lưu xuất được tất cả. Trong
biển tánh
này lưu xuất trí huệ tu hành mà
thành Phật, thành Tổ, nếu không thấy
được bản tánh tự nhiện của ḿnh th́
không thể giác ngộ. Lục Tổ Huệ Năng
vừa nghe câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
liền ngộ được ḿnh có
bản tánh tự
nhiên.
Như vậy ai
cũng có
bản tánh tự
nhiên
mà ḿnh có đem khả năng của nó ra sử
dụng hay không? Có không ? Hay chạy
theo phép, theo bùa ngải, đồng bóng,
theo cúng bái, lạy lục, chạy theo
cái bên ngoài.
Tu trong chớ khá tu ngoài.
Tu trong Phật trọng, tu ngoài Phật
chê.
Có cái tâm địa
sáng suốt mà ḿnh chẳng biết ǵ hết,
cứ dong ruỗi ở ngoài. Cúng kiến, lạy
xin, cúng dường đủ thứ toàn chuyện
bên ngoài, cứ nghĩ rằng bỏ tiền tỉ
là có công đức. Công đức ǵ ta phải
nên xét kỹ lại.
Khi Đức Đạt Ma
Tổ Sư vừa qua đến Trung Quốc ngài
đến gặp vua Lương Vơ Đế. V́ tưởng
ḿnh đă làm được công đức vô lượng
nên vua hỏi Tổ Sư. Bạch Ngài : “Tôi
xây dựng được 72 cảnh chùa, hằng năm
đến Mùa An Cư Kiết Hạ tôi đem tiền
của nuôi Tăng Ni ăn học để tu, hỏi
có công đức ǵ không?”
Tổ Đạt Ma nói rằng : “Công
đức th́ chẳng một tí nào cả, chỉ
bằng hạt bụi dính trên đầu cây kim,
đó là vật chất bên ngoài, mà ở bên
ngoài gió thổi bay mất”.
Tưởng rằng vua Lương Vơ Đế ngộ được
bản tâm nơi ḿnh sẵn có. Lương Vơ Đế
là vua mà tự tánh nhỏ nhen, không
sáng suốt, không trí huệ c̣n thua
người man di mọi rợ là Ngài Lục Tổ
Huệ Năng, chỉ nghe một câu mà tỏ
ngộ. Như vậy đạo tỏ ngộ chẳng phải
do sang hèn, giàu nghèo mà tỏ ngộ là
thấu suốt nguồn tâm nên lúc đó Lục
Tổ Huệ Năng bạch với Ngài Ngũ Tổ
rằng :
“Dè
đâu tánh tự nhiên vốn thanh tịnh”
Như vậy ta có
sẵn bản tánh tự nhiên rất thanh tịnh
mà chẳng bao giờ xài, mà xài toàn là
tham, sân, si, ghen ghét, thù oán,
ích kỷ, hẹp ḥi, bỏn xẻn v.v… Bản
tánh thanh tịnh vốn hằng có nơi ta
đó là chơn tâm, bản lai diện mục,
chủ nhơn ông, Niết Bàn, Cực Lạc, Như
Lai Tạng Tánh, pháp giới tạng thân,
A Di Đà Phật. Bản tánh không xa ta
mà hiển nhiên luôn ở trong ḷng ta,
ngày cũng như đêm, giờ giờ, khắc
khắc, chẳng lúc nào xa. Nhưng ta măi
bỏ ra ngoài, chạy theo danh lợi,
tiền bạc, xe cộ, ruộng vườn, đất
đai, t́nh yêu, t́nh thương, ái dục
v.v… chúng ta chạy ra ngoài tất cả,
nên tự ḿnh bội bạc với bản tâm
chính ḿnh. Vậy bỏ bản tâm, tức Phật
tức Tâm, Tâm tức Phật mà ḿnh đă
quên. Vậy ta tu cái ǵ ? Có tu tâm
không ? Phải thấy cho rơ, tu tâm lợi
ích cho tâm ta, làm cho tâm ta có
trí huệ, làm cho tâm sáng suốt. Tại
sao ta lại làm cho tâm ta (
Phật ta
) bị bôi nhọ, làm cho tâm
ta (
Phật ta
) bị vẩn đục, càng ngày càng nhiều
v́ niệm ái, niệm yêu, niệm vật chất,
niệm phiền năo, niệm khổ đau, niệm
sân si, niệm lợi danh v.v… Như vậy
cái ư nghĩa của niệm Phật như thế
nào ? Có c̣n tinh khiết của cái niệm
theo Phật hay theo lục đạo luân hồi
mà mong được văng sanh Tây phương
Cực lạc ? Cái ư nghĩa của niệm Phật
có kết được vào chỗ nào. Ta phải tự
hỏi lấy ḿnh, tôi niệm Phật có kết
được trong
tâm hay
không ? Hay tôi niệm Phật hoàn toàn
đi ra ngoài hết, ta phải thấy được ở
chỗ này. Theo kinh nghiệm của Tổ.
Dè đâu tự tánh tự nhiên vốn thanh
tịnh.
Dè đâu tánh tự nhiên chẳng sanh
chẳng diệt.
Dầu cho chúng
ta giàu hay nghèo khổ, có đi xuống
địa ngục hay đi đến Niết Bàn, có làm
vua, làm chúa ǵ đi nữa th́ bổn tánh
tự nhiên vẫn trung
thành
theo ta vô
lượng
kiếp, không bao giờ rời ta, bỏ ta,
theo ta hết đời này qua đời khác.
Nhưng chúng ta là người bội bạc, vô
ân, vô nghĩa chạy theo danh lợi, sắc
tài, chạy theo sự giả tạm bên ngoài,
bỏ cái tánh tự nhiên vốn thanh tịnh.
Chúng ta hăy nh́n lại, bấy lâu nay
ta chạy theo cái bên ngoài, Phật gọi
là huyễn hóa, điên đảo. Huyễn là
không phải của ta, nó luôn sanh diệt
như : nhà cửa, ruộng vườn, xe cộ,
trời đất mênh mông không phải của
ta, nên Phật gọi là huyễn. C̣n cái
nằm trong ḷng chúng ta rất chung
thủy là sự chơn thật, rất rơ ràng.
Nhưng chúng ta không hề nhận biết.
Nghĩa là bỏ chơn theo huyễn, bỏ Phật
theo ma.
Dè đâu bổn
tánh tự nhiên vốn đầy đủ không t́m ở
đâu xa, nơi tự tánh có tất cả. Tại
ta không làm, cũng như Đức Phật dạy
rằng : phép bố thí, ḷng chúng ta
sẵn sàng bố thí,
những
danh lợi tham đắm chức quyền, vật
chất vốn ở nơi tâm ta nếu sẵn sàng
bố thí, buông bỏ tất cả hy sinh như
ngày xưa Đức Phật hy sinh vợ con, hy
sinh mắt tai, mũi, lưỡi hy sinh tất
cả thân mạng của ḿnh v́ Phật pháp.
Tất cả trong tự tâm ḿnh vốn sẵn có
chỉ v́ ta không sáng suốt nhận biết
để sử dụng thôi.
Trong tự tánh có
đủ hạnh nhẫn nhục v́ công đức có đủ
vô lượng, ta có đủ khả năng nhịn
hoài, nhịn măi.
Ai chửi mắng th́ ta giả điếc
Đợi cho người hết giận ta khuyên
Chữ nhẫn ḥa ta giữ đầu tiên
Th́ đâu có mang câu hờn oán. (CLKS)
Nếu ta nhịn được,
nếu ta nhẫn được, th́ trong nhà, lối
xóm, bà con đều yêu thương ta, điều
đó ta đủ khả năng làm được v́ trong
tự tánh có đủ khả năng đó tại ta
không chịu làm. Ta gây gổ ta bực
dọc, ta chửi rủa, ta đánh đập mắng
nhiếc, ta không chịu tu nhẫn, nhẫn
ta có sẵn chớ đâu phải không có v́
vốn của nó có đủ khả năng vô lượng
nên gọi là tự tánh nó bao trùm cả
trời đất. Nó có quyền ăn năn sám
hối, nó có khả năng sám hối đời này
đến đời khác, nó có khả năng làm tất
cả việc lành, nó có khả năng thương
tất cả chúng sanh, có khả năng làm
lợi ích muôn loài v́ bản tánh vốn
đầy đủ tất cả. Nếu thiếu một mải may
nào th́ không nói nó đầy đủ được. Nó
có khả năng làm cho ô uế. Tự tánh
này nó có khả năng đầy đủ tất cả. Nó
có khả năng gian dối, lừa đảo, ăn
cướp, ăn trộm, x́ ke, ma túy, hại
cha, hại mẹ, làm khổ người này, làm
khổ người khác. Nó có khả năng thiên
biến vạn hóa.
Nếu người niệm
Phật không thấy tự tánh của chính
ḿnh như thế nào th́ vẫn là mê. Vậy
tâm nào là tâm Phật ? Niệm nào là
niệm Phật ? Tâm nào là tâm phan
duyên ? Niệm nào là niệm sanh diệt,
có nhận biết được sự biến hóa của
tâm hay không ? Nên sáng suốt mà
nhận định để tránh sự mê lầm đă đeo
đuổi theo ta nhiều đời trong lục
đạo.
Người niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”,
chữ “A
Di Đà Phật”
là vô lượng quang để chỉ biết đó là
tự tánh sáng suốt, đầy đủ trí huệ,
đầy đủ công đức, v́ nó có thể làm
tất cả mọi việc công đức vô tận vi
diệu vô cùng, ta có biết được điều
đó hay không ? Hăy b́nh tĩnh nhận
biết điều này, đó là lợi ích rất lớn
cho người tu Phật, hiểu được điều
này là tự mở được màn vô minh đă che
mờ tăm tối, thoát khỏi tam đồ khổ.
Niệm Phật có biết A Di Đà là ǵ
không ? Vô lượng công đức ở chỗ nào
? Đầy đủ ở chỗ nào ? Thiện ác gian
tham đều đầy đủ, sáng suốt trí huệ ở
chỗ nào ? Thanh tịnh ở chỗ nào ?
Nó đều nằm trong
tự tánh
đừng nên mê tín dị đoan. Việc này
mỗi Phật tử phải sáng suốt mà thấy
được trí huệ A Di Đà Phật là tự tánh
của chính ḿnh. Phải hiểu là tự tánh
sáng suốt, trí huệ có khả năng đầy
đủ tất cả. C̣n người sơ cơ không
biết cứ măi nhắm mắt ngồi chờ ông
Phật A Di Đà từ cơi Tây phương Cực
lạc bay xuống để cứu ḿnh, đó là sơ
cơ chưa hiểu đạo, phải mượn phương
tiện mà nói vậy thôi. Chớ c̣n A Di
Đà Phật mà không biết tự tánh A Di
Đà Phật đang ở trong ḷng của ḿnh
từ hồi vô thủy vô chung đến bây giờ,
nếu không biết được việc đó th́ niệm
Phật có được sự ích lợi ǵ ? Như
vậy, tự tánh vốn đầy đủ “dè
đâu tánh tự nhiên vốn không lay động”
thật hay vô cùng!
Tánh tự nhiên
- bổn tánh có khả năng tối thượng vô
cùng. Nếu người nhút nhát lười
biếng, không siêng năng, vừa hơi khổ
đă cất tiếng rên. Người nhút nhát là
người không có khả năng, nhưng trong
tự tánh mọi người có đủ khả năng
chịu đựng tối đa, khổ đến bao nhiêu
cũng buông bỏ để vui được, cực bao
nhiêu cũng vui, chỗ nào cũng bằng
ḷng đó cũng là xử dụng tự tánh của
chính ḿnh. Khổ kệ khổ, vui th́ cứ
vui, luôn luôn an lành trong cái khổ
vui, an ổn trong cái nghèo, v́ cái
nghèo nào có khổ, cái khổ nào phải
thật khổ đâu mà do tự tánh ḿnh ngu
muội không dám chấp nhận nên măi
than khổ, chớ ta chẳng có cái khổ
nào thật cả. Nếu nghe không vừa bụng
th́ nhăn mặt nhíu mày, buồn phiền
khóc lóc, phải chi lúc nào ta cũng
thường sống với A Di Đà Phật, biết
rằng tự tánh tự nhiên có khả năng
chịu đựng tất cả cái khổ, khổ th́
khổ ta vẫn có khả năng chịu th́ làm
ǵ mà khổ ? Tự tánh có khả năng chịu
cái nghèo, nghèo đến tận mạt cũng
chịu nỗi th́ làm ǵ khổ. Thiếu chút
xíu th́ khổ, th́ than th́ khóc, đ̣i
hỏi đủ thứ bởi đó là tâm lượng người
không trí tuệ.
Tu
là phải nắm ngay
tâm lượng
của chính ḿnh, tu là chuyển cái
nghiệp, là đổi cái mờ tối ra cái
sáng, tu là đổi cái ngu muội ra cái
trí huệ. Tại sao ta không biết dùng
cái trí tuệ để chuyển tất cả nghiệp
thức sai lầm của ḿnh ? Khi xưa việc
ǵ cũng khổ, cũng khóc, c̣n bây giờ
sống với trí tuệ hiểu biết dù cho
sập trời cũng không khóc, nhà tan
cửa nát cũng không khóc, ta biết đó
là lẽ tự nhiên, ḿnh có khả năng
chịu được, nên khả năng của Phật là
vô lượng vô biên, vô cùng, vô tận.
C̣n chúng ta một chút ít, nhỏ hay
lớn, có hay không tùy theo sự nhận
định sáng suốt trí tuệ hay ngu muội
của mọi người ta cần phải thấy chỗ
đó.
Dè đâu bản
tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp,
ở trong bản tánh bổn lai diện mục
của chúng ta rất tài giỏi. Nó có khả
năng làm xướng ngôn viên, th́ đi học
xướng ngôn viên, muốn làm bác sĩ
cũng được, làm giảng sư thuyết pháp
cũng được v́ khả năng của nó vốn đầy
đủ. Lục Tổ nói : “Đâu
dè tự tánh thường sanh muôn pháp”
pháp nào cũng sanh, làm ǵ cũng
được, vậy mà từ xưa đến nay ta măi
đi cầu ông này bà kia. Mà đâu dè tự
tánh sanh muôn pháp, ta có thể làm
ăn trộm, ăn cướp, ta cũng có thể làm
người bỏn xẻn, ích kỷ cũng là ta.
Như ta cũng có khả năng làm Bồ Tát,
cũng có khả năng làm Phật cũng là ta
vậy mà chúng ta đi cầu Phật, năn nỉ
Phật mà không chịu làm Phật. Chúng
sanh đi cầu Bồ Tát mà không chịu làm
Bồ Tát, cứ măi cầu xin như vậy, tâm
lượng của ḿnh luôn vô duyên, ích
kỷ, hẹp ḥi. Như vậy, con người ấy
có hiểu tự tánh A Di Đà là ǵ không
? Chắc là không hiểu !!!
Vậy niệm Phật
ở ngoài môi, niệm ngoài cửa miệng
lôi thôi thêm rầy.
Nếu biết được tự tánh mà niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”
vừa khởi là trí huệ bừng sáng vô
lượng hào quang, vô lượng công đức
đem đến cho mọi người, đem đến cho
ḿnh, đem cho khắp cả chúng sanh đều
có niềm vui an lạc. C̣n niệm mà
không có trí tuệ hiểu biết là niệm ở
ngoài môi, niệm ngoài cửa miệng lôi
thôi thêm rầy, ồn ào làm cho người
ta mất ngủ, làm cho người ta không
yên. Vậy mà có nhiều người làm như
thế, nếu ngoài thế gian cho làm sao
cũng được, c̣n người đă hiểu biết
th́ khi người đau
bệnh mà đem
máy để niệm A Di Đà Phật th́ có kết
quả ǵ ? Cái máy có nghĩa lư ǵ ?
Tâm của cái máy ở đâu ? Tâm nào là
tâm Phật ? Thế nào là Phật tức tâm ?
Chỉ cần hỏi rằng, c̣n nhớ A Di Đà
Phật là ǵ không ? Nếu họ trả lời là
tôi c̣n nhớ rơ lắm, bây giờ đang nằm
đây, nhưng tôi vẫn nhớ rơ tự tánh A
Di Đà là vô lượng công đức, tôi đang
ở trong vô lượng công đức, tôi đang
biết được sự bố thí, hỷ xả, từ bi
ḷng thương yêu chúng sanh muôn loài
tâm lượng tôi bây giờ là như vậy,
tâm lượng của tôi là Bồ Tát, tâm
lượng của tôi là Phật. Hiện giờ đang
có Phật trong ḷng tôi đây, c̣n niệm
ǵ th́ mặc kệ nó. Nếu như xúm lại
cho đông mà niệm A Di Đà Phật mà
người nằm đang hấp hối rên la, kêu
khóc th́ việc niệm hoàn toàn không
hiệu quả ǵ. Có hiệu quả ǵ không?
Họ dằn dặt rên la trong phiền năo,
khổ sở chẳng biết ǵ cả, như vậy
người đến để trợ duyên niệm Phật
phải có bổn phận nhắc nhở, phải là
một vị pháp sư chỉ rơ bổn tánh cho
người bệnh vốn có đầy đủ công đức,
có từ bi hỷ xả thương hết chúng sanh
muôn loài giờ này nên buông bỏ tất
cả được không ? Hăy nên trở lại vô
lượng công đức được không ? Tôi sẽ
trợ duyên nhắc nhở có nhớ không ? A
Di Đà Phật ? Có nhớ chưa ? Được như
vậy không cần niệm nữa, cứ ngồi nghỉ
ngơi người đó cũng văng sanh. C̣n
như đem cả đoàn đến hộ niệm mà họ
giăy dụa, miệng nói lôi thôi th́
đừng nên niệm nữa chỉ vô ích thôi.
Vậy khi làm ta phải hiểu Đức Phật
nói rằng, người có trí như người có
mắt, người không trí như kẻ đui mù,
nghe nói th́ bắt chước theo, làm mà
không hiểu, không biết, làm mà không
trí tuệ. Ngài Huệ Năng nói về tánh “Kẻ
nào chẳng biết bản tâm, người không
biết tự tánh học đạo vô ích”.
Kinh điển đọc hết cả chồng mà tự tâm
không biết trở thành vô ích. Lục Tổ
Huệ Năng có quyển Kinh nào đâu, chỉ
nghe đến câu “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
liền giác ngộ. Tất cả đều do tâm ham
muốn, trụ chấp, chấp nhà, chấp nơi
vợ con vàng bạc, những cái đó là
huyễn mà tưởng thật rồi ôm vô tâm
cho khổ sở nên ngài nói : “Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”
là chẳng trụ vào đâu cả. Vậy nguồn
tâm sáng suốt có trí huệ vô lượng
công đức, nên Ngũ Tổ nói với Lục Tổ
rằng : “Kẻ
nào chẳng rơ bản tâm th́ học đạo vô
ích”,
người tu cần biết được chỗ này, nếu
ai biết được bổn tâm vốn tự nhiên,
thấy bổn tánh vốn tự nhiên tức gọi
là Bậc Trượng Phu. Người nào mà
thường xét tâm ḿnh thấy từ cái buồn
(
sao hôm nay
tôi buồn quá
), coi lại cái buồn này vốn ở đâu ?
Vậy cái buồn này ở bên ngoài là do
nơi Trời, Phật, Quỷ Thần đem đến hay
là do tâm ḿnh sanh ra, nếu như
không khéo chuyển hóa nó hoặc chịu
không nỗi, nó sẽ làm cho ḿnh đau
khổ có khi đến tự sát bỏ thân mạng.
C̣n như xét ra được th́ ra trong
ḷng khởi lên cái khổ, chắc là trong
nhiều đời kiếp chính ḿnh đă gieo
hạt giống khổ này, bây giờ biết được
bổn tánh tự nhiên là do ta biến hóa,
th́ sự buồn này, khổ này ta đủ sức
chịu đựng được, không quan trọng nó
nữa th́ tự nhiên sáng suốt nhẹ nhàng
thanh tịnh, trí huệ vô cùng. Nếu v́
khổ quá t́m Thầy để cầu an, cầu siêu
th́ người này đối với sự học Phật đă
chạy ra ngoài quá xa trăm trượng
rồi. Hăy nên xét lấy ḷng ḿnh, ngồi
mà nghe đang buồn, nghe ḿnh điên
đảo, phải tự sắp xếp sửa chữa, v́
trong tâm có muôn pháp có thể đem ra
hóa giải được. V́ buồn hay vui đó
chỉ là trạng thái biến đổi của tâm
vô thường mà ḿnh cứ tưởng là thật
của ḿnh, rồi chấp giữ. Lời Tổ dạy “Chúng
sanh thường nhận giặc làm con”
cứ măi cầu bên ngoài, nên Phật nói :
“Có
những kẻ nhận ma tưởng Phật, có
những kẻ có Phật tưởng ma”.
Ḿnh có tự tánh sáng suốt, trí huệ
vốn đầy đủ công đức, vốn vô lượng,
vô biên trùm khắp pháp giới, khắp
thế gian vạn loại. Phật nói rằng “Ta
thành Phật được th́ tất cả chúng
sanh đều thành Phật được v́ tất cả
chúng sanh đều có khả năng thành
Phật, nếu biết trở về tự tánh sáng
suốt trí huệ”.
C̣n người đời không biết cứ chạy cầu
bên ngoài. Như vậy thấy được bản
tánh tự nhiện là bậc trượng phu, là
Thầy của Trời, người, người nào sử
dụng được tự tâm, tự tánh chính ḿnh
mà ra độ chúng sanh. Nếu độ Trời th́
làm Thầy của Trời, độ người th́ làm
Thầy của người. Ngoài ra chúng ta
cũng phải hết ḷng trân trọng kinh
sách v́ Phật để lại 12 ngàn bộ kinh,
nếu ai đủ phước coi mới hiểu, c̣n
không có phước th́ như coi nhật
tŕnh hay đọc báo để biết tin tức.
Ngày xưa Đức Phật nói như thế nào ?
Những người đủ duyên khi nghe được
lời Phật dạy mà nguồn tâm sáng lên
là người có phước, c̣n coi kinh mà
nguồn tâm không sáng là vô phước,
nên đức Lục Tổ Huệ Năng mới nói với
Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn “Bạch
Thầy trong tâm con thường sanh trí
huệ, tâm con thường sanh muôn pháp,
không dè trong tâm con đầy đủ tất cả
vô lượng công đức”.
Với Lục Tổ chỉ nghe một câu kinh mà
tâm ngài bừng sáng, c̣n chúng ta ôm
cả chục, trăm ngàn cuốn kinh mà trí
huệ không có. Như vậy người đối với
kinh có phước, có người đối với kinh
không có phước, nên có câu :
Nhẹ căn chỉ tốn vài ḍng
Nặng căn phải tốn cả chồng sách
kinh.
Ngày xưa có
một đệ tử của Tổ, Tổ dạy
tâm ông tức
Phật,
ông chỉ nghe một câu như vậy liền
lên núi cất thảo am (
thảo am là am
lợp bằng cỏ
), ở đó ngày ngày uống nước suối, ăn
cơm hẩm, đào rễ cây để ăn, lo tu ǵn
giữ chỉ một tâm.
Tâm con tức là
Phật,
người ấy thấy tâm ḿnh là Phật cứ
theo dơi tâm tự tỏ ngộ lấy tâm ḿnh
tức Phật, đâu tốn sách kinh ǵ nên
Tổ Huệ Năng nói với Ngũ Tổ rằng “Khi
con mê th́ Thầy độ, khi ngộ rồi con
tự độ con”.
C̣n ta ngày nay vạn sách ngàn kinh
mà tâm chưa tỏ ngộ, tại sao ? V́ ta
cứ dùng kinh đọc nhiều để bàn luận
mà thường nói là lư luận cứ măi chạy
theo bên ngoài, trong kinh Phật nói
rất rơ, đừng nên nghe tiếng thế gian
nói này, nói nọ, thế kia, đừng nên
nghe theo họ mà nên xét lại tự tâm
rằng sau khi tôi làm lễ cúng cầu an,
mà nghe trong ḷng c̣n tham lam, sân
si, phiền năo, ích kỷ, hẹp ḥi coi
có c̣n không. Tôi đă làm lễ cúng vài
chục triệu mà trong ḷng c̣n cái đó
không? Nếu như vẫn c̣n th́ chưa an
bao giờ, c̣n chưa cúng mà vừa nghe
giảng một thời pháp tự an ổn được
tham, sân, si, phiền năo không khởi
dậy, hoặc khởi lên tôi không bằng
ḷng vừa ư với nó, v́ theo Phật dạy,
nó là tam độc là tam nghiệp của con
người cần phải biết, khi tâm không
c̣n ư niệm đó th́ chưa tốn một đồng
chưa tốn một cục xôi mà tâm đă dần
dần được sự an ổn. Khi muốn tu mà
không hiểu biết đường lối tu thật là
tội nghiệp v́ đă tốn công tốn của.
Nh́n lại người phát tâm tu hiện giờ
cũng tương đương như người xuất gia
chớ không khác, v́ khi người đă có
ḷng quyết tâm đi cầu Phật, đi niệm
Phật cũng có tâm như người xuất gia.
Nếu như người đă ở trong chùa mà vẫn
c̣n lo sự nghiệp, đem tiền về mua
ruộng đất, sắm xe cộ, ở quê sắm trâu
ḅ, như chúng ta dám bỏ gia đ́nh, bỏ
cha mẹ đi t́m cầu Phật đạo nh́n coi
chỗ nào cao hơn ? Như vậy khi có tâm
niệm đi cầu Phật, th́ chúng ta phải
rơ biết nguồn tâm, v́ Phật dạy rằng
trong tâm này sanh ra tất cả pháp,
có nghĩa là ai ai cũng có khả năng
nhận biết, khi được nghe một thời
pháp tự hiểu rằng từ trước đến nay
đă từng sát sanh bằng tâm độc ác,
bây giờ quyết ḷng trở lại người
hiền, dù ai có chửi mắng cũng hiền
không làm dữ nữa. Thời Đức Phật có
Ngài Phú Lâu Na, đi qua một Quốc độ
tên Du Na, con người ở đó rất hung
ác, Phật hỏi : “Này
Phú Lâu Na! Ông muốn qua độ một quốc
độ rất hung ác để độ họ th́ làm sao
ông độ họ được?”
Ngài nói : “Bạch
Thế Tôn con đă quyết ḷng qua Quốc
độ đó”.
Phú Lâu Na bạch Phật : “Bạch
Thế Tôn ! Người xuất gia phải có chí
thượng cầu hạ hóa, muốn thành tựu sự
nghiệp dù ở lĩnh vực nào con người
cần phải vượt qua khó khăn gian khổ,
chông gai là điều kiện thử thách con
người. Ánh sáng Phật pháp cần b́nh
đẳng soi rọi khắp nơi. Có được ánh
sáng Phật pháp con người mới được
cái thiện, bóng tối mê muội được
đánh tan, nên con nguyện đến đó để
thuyết pháp, th́ dù có thịt nát
xương tan”.
Đức Phật hỏi : “Nếu
họ chửi mắng th́ ông làm sao ?”
Bạch Thế Tôn : “Nếu
họ chửi mắng họ vẫn c̣n thương con
và con vẫn thương họ”.
Nếu họ không chửi mắng mà dùng cây,
dùng đá gạch chọi th́ ông làm sao ?
Bạch Thế Tôn : “Họ
chọi con, họ vẫn c̣n thương con, con
vẫn thương họ”.
Nếu họ giết ông th́ sao ? Bạch Thế
Tôn: “Nếu
họ giết con họ vẫn thương con và con
vẫn thương họ”,
điều đó có được là do năng lực của
ông lớn rộng vô cùng. Ngài như một
Đại La Hán, thương yêu chúng sanh vô
cùng, t́nh thương xa rộng đến muôn
loài, dù người ta có đánh đập, chém
giết ḿnh tự tâm vẫn bao trùm ḷng
từ bi vô ngại v́ thương chúng sanh
mê muội, dù khó khăn cũng quyết ḷng
độ tận. Nếu Ngài có khả năng làm
được th́ chúng ta cũng có khả năng
làm được, với tự tánh đầy đủ ḷng từ
bi. Nên lúc đó ta không cầu Phật mà
Phật hiện có ngay ở trong ḷng nơi
tự tánh của ta. Ta không cầu thành
Phật, ta không xin làm Phật mà Phật
đă ở trong tâm hồn, trí huệ sáng
suốt đạo đức này. Phật ở đây, v́
hiện Phật tâm tôi đang có
từ-bi-hỷ-xả, tôi đang có tâm thương
tất cả muôn loài, không thù, không
oán, không ghét, không oán hận ai
không có tâm ǵ làm cho ai buồn
phiền. Như vậy, có Phật tức Tâm hay
không ? Phải biết rằng có công đức
xây dựng Phật th́ nên Phật, xây dựng
ma th́ nên ma. Vậy có người nào đó
thường ngày hằng niệm “Nam
Mô A Di Đà Phật”
mà cứ mong như thế này : ta niệm
Phật cho gia đ́nh khá giả, cho con
cái làm nên ông này, bà nọ, ông kia,
niệm Phật được phước để năm sau xây
nhà lớn. Vậy người đó niệm Phật có
thành Phật hay không ? Nếu mong cầu
th́ đều chạy ra ngoài thế gian cả.
Hiểu như vậy, ta phải biết nguyên
nhân thành Phật, chắc chắn như vậy.
Khi niệm Phật mà trong ḷng đại từ,
đại bi, đại hỷ, đại xả, đại trí lực,
thương yêu đùm bọc mọi người, làm
cho mọi người hạnh phúc, chưa nghĩ
ḿnh thành Phật mà Phật đă ở ngay
trong ḷng người đó rồi, Phật đă
xuất hiện trong gan ruột ḿnh rồi.
Đặt thí dụ, nếu lúc này Thầy cũng
làm bộ lên pháp ṭa niệm Nam Mô A Di
Đà Phật, mà trong ḷng tính, làm sao
cho mau làm giàu, làm sao cho ḿnh
sung sướng, tính làm sao cho có kẻ
hầu người hạ, như vậy trong ḷng
Thầy có Phật hay không ? Hay là có
Tam đồ lục đạo ? Vậy là tuy rằng
miệng niệm Phật mà tâm không có Phật
th́ “Sắc
tức thị không, không tức thị sắc”.
Nếu miệng niệm tâm có Phật th́ thành
Phật, c̣n miệng niệm mà tâm không có
Phật th́ không thành Phật rất rơ
ràng. Ngày xưa Tổ Hoàng Nhẫn nói với
các môn đồ : Người đời coi sanh tử
là việc lớn, các ngươi chỉ cầu phước
mà không ra khỏi biển sanh tử, nên
tối ngày niệm Phật mà cầu có phước
cho được giàu có, sang trọng. Có
nhiều người nói nghe rất tội nghiệp,
rằng con rất mừng từ ngày con niệm
Phật con của con thi đậu làm ông
này, ông kia, chồng con cũng bớt
nhậu, gia đ́nh con an ổn, hạnh phúc.
Bây giờ c̣n lo cho con một lầu riêng
để tiện việc niệm Phật. Nghe qua
cũng hay nhưng không đúng với ư
nghĩa của lời Phật dạy, v́ người
niệm Phật không cầu phước, họa hay
phước tự nhiên, niệm Phật v́ thường
ngày mê muội hay niệm vọng tưởng
huyễn hóa v́ đa niệm, loạn niệm.
Niệm một hồng danh để nhờ đó làm
giới luật, ngăn ngừa vọng niệm, đó
là đến nhất tâm bất loạn. Các niệm
chúng sanh đều ngừng nghỉ vắng lặng,
không đuổi theo lợi, hại, hơn thua,
tốt xấu, chỉ c̣n cái thanh tịnh tự
nhiên sáng suốt, có đủ đức tánh từ-
bi-hỷ-xả v.v… Nếu họa có đến mà ta
sống được với đức tánh an nhẫn th́
họa đến bao nhiêu miệng cũng nở nụ
cười, giống như ngài Phú Lâu Na dù
chửi, mắng, đánh đập, giết hại nên
có câu “Họa
phước tự nhiên’.
C̣n người tu
niệm Phật sợ họa đi cầu phước, nếu
cầu không được th́ khổ đau, họa đến
th́ buồn phiền th́ người này không
có năng lực. Người có tự tánh mà
không biết sử dụng v́ mê. Có tự tánh
sáng suốt, trí tuệ, có tự tánh mà
chẳng biết ǵ đến tự
tánh
nên gọi là mê th́ phước nào cứu được
ḿnh. Có nhiều người làm những
chuyện thật đáng thương rất khổ sở
v́ ỷ lại cúng dường nhiều, năm nào
đến mùa An Cư Kiết Hạ cũng bỏ ra
tiền tỷ để cúng dường, xây dựng chùa
hàng năm bố thí cúng dường rất nhiều
mà cứ trách sao gia đ́nh vẫn khổ,
gia đ́nh luôn luôn lộn xộn, đủ thứ
chuyện vậy nên bao nhiêu phước hữu
lậu cúng dường bố thí cũng không cứu
được.
Nếu không biết
tu sử dụng tại nguồn tâm sáng suốt
trí huệ này, có ai thấy được tự tánh
của ḿnh chưa ? Khi vui nó cũng là ở
trong tự tánh, nó buồn cũng ở trong
tự tánh đó, nó lăng xăng lộn xộn
cũng trong tự tánh đó, nó b́nh tĩnh
hay sáng suốt cũng đều ở trong tự
tánh đó. Nên ngoài biển tánh không
có ǵ cả, ngoài tâm không có Phật
nào khác. Như vậy biển tánh chứa tất
cả muôn loài. Nếu chúng ra trưởng
dưỡng hạt giống nào th́ giống đó
lớn, nên trong kinh Phật dạy, khi
chúng ta niệm Phật là phải niệm như
thế nào ? Trong Quảng Hiền tŕ danh
sở vị chánh văn lư nhất tâm, lư nhất
tâm về phần thuận trí, nếu nghe
giảng mà không trí tuệ th́ cũng lắc
đầu chẳng biết ǵ hết. C̣n người có
trí tuệ nghe mà hiểu Phật gọi là bậc
Thượng Trí, là người có trí cao. Nên
cái lư nhất
tâm
dành cho bậc Thượng Trí. C̣n người
không trí tuệ thấy người ta chấp tay
đi ṿng ṿng cũng cúi đầu đi theo
niệm A Di Đà Phật suốt ngày mà không
biết ǵ cả, đi hoài rất bền ḷng mà
không hiểu ǵ hết, chỉ có bậc thượng
kiến mới thấu hiểu. Nhưng bậc thượng
kiến không nên ỷ lại v́ thấy người
không biết cứ măi theo quy tắc của
thế gian, chỉ biết A Di Đà Phật mà
ḿnh cười họ cũng không được, v́ mỗi
chúng sanh tŕnh độ khác nhau. Ngày
nay có duyên được nghe Thầy giảng
giáo pháp, có nhiều người niệm Phật
20 năm chưa đủ duyên gặp người chỉ A
Di Đà Phật là ǵ th́ phải thương họ
chớ không được cười chê họ, nhưng
cũng có nhiều cơ duyên họ cứ niệm A
Di Đà Phật rồi đến duyên gặp người
chỉ rơ nguồn tâm. Nay có duyên chư
Phật ra đời v́ thương xót chúng
sanh, thấy họ niệm Phật mà chưa có
trí tuệ, giống như người có đèn mà
bị tắt, nay đủ duyên đèn được gặp
lửa mồi lại, giống như người thiếu
ăn thiếu mặc nên khổ sở. Chư Phật v́
ḷng đại bi, đại ái thương yêu chúng
sanh muôn loài cầu Phật mà thiếu trí
nên Phật đem trí Phật chỉ cho chúng
ta đừng nên chấp mà phải đầy đủ hiểu
biết.
Truyền đăng tục
diệm là mồi đèn làm cho biển trí huệ
càng ngày càng lớn, nếu có những
người chưa được nghe th́ ta cần phải
nhắc rằng :
Nếu niệm Phật
th́ nên xét lại ḷng ḿnh như thế
nào ? Nó đang xảy ra chuyện ǵ có
phải ta đang buồn phiền, ta đang
phiền năo, v́ gia đ́nh hay của cải,
nếu thấy vậy phải giác ngay tự tánh
A Di Đà có khả năng chịu được. Ta cứ
tự nhiên không sợ, cứ niệm Phật đừng
chán nản, đừng khổ sở v́ những điều
này. Tất cả đều ở trong biển tánh v́
ta không biết sắp xếp, không có khả
năng chuyển hóa cho nó an ổn, nếu
như có khả năng th́ mọi việc sẽ an
ổn vô cùng. Có nhiều người ngày nào
trong túi không tiền là đă thấy khó
chịu, cũng có những người cả tháng
không có đồng nào, nhưng tự tánh họ
vẫn có khả năng chịu được, như hiện
giờ ngồi đây ta cho là nóng nực, mệt
mỏi, th́ cũng có những người bị nhốt
trong tù, có người đang nằm bệnh
viện đang thở oxy họ vẫn có khả năng
chịu đựng được. Vậy tự tánh có khả
năng vô lượng v́ ta không biết sử
dụng nó nên cứ than van khóc lóc hết
cầu xin chỗ này đến người kia. Theo
những kẻ độn căn, căn tánh nhỏ hẹp,
mê muội đúng ra không nên làm việc
này v́ đó chỉ là huyễn hóa là sự
tướng bên ngoài. Chư Tổ v́ thương
chúng sanh, biết ai ai cũng có tự
tánh sáng suốt, trí huệ nhưng không
biết xài nên thương, tập họp lại để
dạy chỉ rơ tự tánh cho mọi người. Tổ
sáng chế ra mỗi tháng một lần tựu về
để niệm Phật, kinh hành để có công
đức, sau này được văng sanh về thế
giới Cực Lạc. Đó là phương tiện đầu
tiên để dẫn dắt chúng sanh v́ chưa
rơ nguồn tâm dần dần gần gũi với Tổ
có cơ duyên Tổ sẽ dùng ánh sáng trí
huệ vô lượng công đức chiếu vào hào
quang của ta bậc sáng nên lúc đó ta
được lư sự viên dung, tức là miệng
ta lầm thầm niệm Phật, ư ta tưởng
Phật th́ hào quang Phật rọi khắp
mười phương. Như vậy, khi ta niệm
Phật cần nhất tâm. Vậy nhất tâm là
ǵ ? Nhất tâm là không có hai tâm,
hai tâm là nhị tâm. Ở thế gian chẳng
sợ việc chi mà chỉ sợ người có hai
ḷng. Người tu sợ nhất là hai ḷng,
miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật mà
tính nhà cửa, xe cộ, lời, lỗ th́
người này niệm măi chẳng kết quả ǵ.
Người niệm Phật một ḷng gọi là nhất
tâm, niệm A Di Đà Phật tự xét lại
coi tâm có bỏ được tham lam, ích kỷ,
hẹp ḥi, ḷng của ḿnh có được chút
nào đại bi, đại hỷ, đại xả chưa ?
Hào quang trí tuệ của ḿnh có chưa ?
T́nh thương yêu chúng sanh muôn loài
ḿnh có chưa ? Có giúp cho mọi người
an ổn chưa ? Nếu tự thấy được như
vậy th́ hào quang trí tuệ bừng sáng
chiếu ra, nên người này trong kinh
Phật nói là nhất tâm. Nếu nhất tâm
mà không thành Phật th́ trong bốn
mươi tám lời nguyện của Đức A Di Đà
nói rằng : “Ta
không phải là bậc chánh đẳng chánh
giác”.
Cũng ngó
xuống, cũng nhắm mắt, chấp tay niệm
rành lắm mà tâm lung tung đủ thứ
chuyện đó là không nhất tâm. Niệm
như vậy mà không thấy Phật v́ “Kiến
Phật dứt sanh tử”
Niệm Phật mà thấy Phật trong tâm th́
không c̣n sanh tử. Nam Mô A Di Đà
Phật
là thấy Phật (
kiến tánh
) nhưng không phải Phật mang h́nh
tướng mà Phật bằng trí huệ. Niệm
Phật mà ḷng ích kỷ, thù oán, ai có
đói nghèo mặc ai, họ có đánh nhau
cũng mặc, chết chóc cũng kệ. Nhưng
bây giờ đă chuyển hóa biết thương
yêu họ th́ Phật ngự liền lúc đó. Nên
có câu thật hoan hỷ rằng: “Thiên
Thượng Thiên Hạ ta đă ngự nơi tâm
các ngươi rồi đây”.
C̣n niệm A Di Đà Phật mà có người
đến v́ nghèo đói cần sự giúp đỡ mà
không giúp c̣n buông lời thóa mạ thế
là ma đă chắc chắn có trong ḷng
người đó không sai.
Tổ dạy rằng :
“Người
tu mà giác ngộ dù ở đâu cũng an vui
hạnh phúc, c̣n người tu không thấy
được nguồn tâm dù ngồi ở ngai trời
vẫn khổ”.
Nay đọc lại lời Tổ dạy ta thấy an
vui hạnh phúc, chúng ta vui để niệm
Phật. Niệm Phật phải nhớ A Di Đà
Phật là công đức vô lượng, trí huệ
vô lượng, hào quang sáng suốt vô
lượng, chứa tất cả muôn pháp an vui
vô cùng, vô tận, ta có khả năng làm
được tất cả. Trong kinh Phật dạy,
các Bồ Tát hành lục độ Bố Thí tŕ
giới. Giới nghĩa là quy luật ḿnh
không có quyền làm cho người khác
khổ sở, không có quyền làm người
khác chết chóc, không có quyền làm
người khác tai
nạn đó
là ta đă giữ giới. Đă biết nguồn tâm
thanh tịnh th́ đă có khả năng làm
việc đó, giống như ta muốn xây nhà
phải có tiền.
Nguyện sanh Tây phương Tịnh Độ.
Nghĩa là ta có mặt
nơi thế gian ngày nào đều làm lợi
ích cho chúng sanh, dù chưa thấy về
Tây phương Tịnh độ, mà Tây phương
Tịnh độ đă có sẵn nơi tâm rồi.
Nói
tự tánh Di Đà
duy tâm Tịnh độ
là chỉ ngay lư nhất tâm bất loạn.
Người biết xét ngay nguồn tâm của
ḿnh không c̣n lộn xộn gọi là không
loạn, không c̣n tính việc này việc
kia, việc nào không c̣n ham muốn gọi
là không loạn. Đến giờ sắp chết mà
bị loạn v́ ham của tiền nhiều quá,
vợ con kẻ ăn người ở, ruộng vườn,
đất đai nhiều quá, ham muốn nhiều
quá th́ người này giờ phút lâm chung
sẽ loạn. C̣n người khi biết niệm
Phật coi tiền tài như phẩn thổ,
ruộng vườn đất đai không phải của
ḿnh. Từ xưa đến nay ai cũng muốn
gom góp làm của riêng ḿnh chớ thật
ra c̣n ba tấc hơi th́ tranh đua bay
nhảy, nhắm mắt rồi phủi thải lợi
danh, khuyên ai thường xét cho rành,
của không phải nghĩa chớ sanh ḷng
tà. Nhắm mắt rồi vợ con tiền của
cũng không, vợ con người ta xài,
tiền của người ta lấy, chẳng có ǵ
của ḿnh cả đâu, có ǵ phải đau khổ,
đâu có ǵ phải loạn. Theo nhân quả
mà nói người nào sáng suốt là nhân
trí huệ, mê muội là nhân khổ đau,
vậy nhân nào th́ quả nấy, không sai
kinh Phật dạy. Đó là chánh báo và y
báo, nghĩa là hết ḷng suy nghĩ cách
để làm Phật. Nghĩ đến việc làm lợi
ích chúng sanh đây là chánh báo. Khi
hiện ra tướng Như Lai ḷng đại từ,
đại bi, đại hỷ, đại xả, bao trùm
khắp pháp giới khắp tất cả chúng
sanh muôn loài đó là y báo. Ta phải
phát nguyện tu để sau này đem tất cả
sự giác ngộ, nguyện đem hết những ǵ
hiểu biết truyền trao cho mọi người
th́ đây là chánh báo. Đến chừng y
báo sáng suốt, trí huệ minh thông
th́ mọi người đến quây quần để học
hỏi là y báo.
Nếu như không thấy
chánh báo, không thấy y báo, không
thấy nhân quả th́ tu hành vô ích. Kẻ
độn căn không kham lănh nỗi, bậc
thượng trí nghe giảng liền biết,
nghèo giàu ở ngoài chớ không ở nội
tâm. V́ không sáng suốt nên mê chấp,
hiểu biết rồi từ nay dù một đồng,
một cắc cũng không tham. Nguyện bố
thí cúng dường làm phước. Việc làm
này phát xuất từ tự tánh thanh tịnh,
bằng ḷng thương yêu muôn loài, vạn
vật chỉ làm lợi ích cho mọi người và
bảo tồn Phật pháp, tâm không cầu
lợi, cầu phước đó là việc làm công
hạnh vô úy, là hạnh ba la mật. Làm
tất cả mọi công đức người này gọi là
Thượng Trí. C̣n độn căn nghe qua cho
rằng ḿnh không thể có khả năng làm
nỗi. Hạnh kham nhẫn Phật nói nhẫn …
nhẫn … nhẫn …
Học xong chữ nhẫn,
Niết Bàn không xa. Con nhịn măi
không chỉ ba lần thôi, mà nhịn đến
khi con thành chánh giác.
Tâm măi nhịn dù thân có thác
Thác thân con mà tâm được nhẹ nhàng
Cơi Tây phương chắc chắn sẽ bước
sang
Bằng con đọa Thầy nguyện ra chịu
thế. (CLKS)
Kỳ này con nguyện
nhẫn dù giết con cũng nhẫn đây là
bậc Thượng Trí, c̣n bậc hạ căn không
kham nỗi.
Chúng ta hăy tự
xét lại nội tâm, khi nghe giảng mà
nội tâm có xoay chuyển. Nó là vô
lượng thọ, nó có khả năng thọ dụng
làm được tất cả những việc thế gian,
v́ có khả năng làm được nên gọi là
vô lượng thọ. Nó làm được tất cả
việc thiện lành, tự tánh này tiếp
nhận và hiểu biết được tất cả, ta
phải hiểu cho kỹ.
Nói nhất tâm không
chỉ nghiêng về lư mà phải biết dụng
thông đến sự v́ sự nhất tâm ai cũng
làm được. Ai cũng biết lư này để
chúng ta mau được sáng suốt, mau có
trí huệ để chắc chắn yên tâm mà
chúng ta thực hành mọi công hạnh.
Nếu người sự mà không lư cứ chấp
tay, miệng niệm Phật mà tâm luôn ước
ao mong ham cầu việc này, việc nọ,
việc kia thời gian không như ư niệm.
Nếu có người hỏi c̣n đi niệm Phật
không ? Trả lời rằng không c̣n đi
niệm nữa v́ niệm hoài mà không được
ǵ, thôi ở nhà lo gia đ́nh tốt hơn
đó là sự thiếu lư. Người lư sự viên
dung cứ đi niệm Phật, nhắc nhở nhau
rơ biết lư sự đều nhất tâm.
Lư cũng phải thông
đồng đến sự nữa v́ với lư sự nhất
tâm ai cũng làm được.
Pháp tŕ danh
niệm Phật trùm khắp che chở trong
bầu vũ trụ, không bỏ một vật nào,
nghĩa là nếu ai có duyên, có duyên
với Phật, có duyên với Pháp, có
duyên với Tam Bảo mà hôm nay nghe
được thời pháp này lănh hội được
bằng như ai đem cho cả núi vàng, núi
bạc, núi châu báu đến cho ḿnh vô
cùng quí báu. C̣n người không đủ
phước duyên, nghe rồi phủi rớt mất
không nhận được chút nào hiểu biết
nên những người này đến với Thầy,
nghe Thầy nói th́ có vẻ hơi nặng
rằng, họ không cầu nhất tâm, người
này không cầu Phật đạo, mà đến thách
đố để cầu danh, cầu lợi hoặc cầu ǵ
đó nên Cổ Nhân có câu rằng : “Đàn
khải tai trâu”.
Nếu nghe mà tiếp thu được, mà bỏ
không tu, chỗ này thật uổng công vô
cùng. V́ được thân người đă khó, gặp
chánh pháp cũng khó, nghe chánh pháp
càng khó nên cái khó nữa ta phải
tinh tấn vượt lên là sự lư thực hành
mới tṛn duyên học Phật.
Hôm nay, pháp
Quảng Hiền tŕ danh sở vị c̣n hai
mục Tổng Thán và Biệt Thán như vậy
những lời sau là tán thán ca tụng.
Chúng ta nghe xong
trong đạo tràng có ai tiếp thu và
hiểu được không ? Thời giờ có hạn,
nếu ai tiếp thu được th́ tự hỏi lại
ḿnh có thấy được Phật chưa ? Tu mà
không thấy Phật giống như người đào
giếng mà không thấy nước, giống
người đào vàng đải hoài mà không
thấy vàng.
Niệm Phật mà
không thấy Phật là niệm khô cằn, gọi
là khô mộc (
cây khô
). Trước khi dứt lời Thầy nhắc lại
rằng Thiền với Tịnh không xa người
niệm Phật. Không loạn là Thiền, v́
muốn Tịnh phải Thiền. C̣n như Thiền
th́ tâm phải Tịnh đó mới là Thiền
Tịnh Song Tu. Thiền có ngoại đạo
Thiền và Phật Thiền. Ngoại đạo Thiền
là ǵ ? Phật Thiền là ǵ?
Ngoại đạo Thiền
: là suy tưởng tôi sẽ đến cảnh Trời
này, tôi sẽ về cảnh tiên kia, tôi
được đến ở Quốc độ nọ, hoàn toàn
tính việc ở ngoài tâm nên gọi là đạo
ngoài là Ngoại Đạo Thiền.
Phật Thiền : Gọi
là xa-ma-tha, là tam-ma-đề, là thiền
quán, quán xét lại tự tánh có sáng
suốt trí huệ không ?
Thiền chỉ là trực
chỉ vào tự tánh sáng suốt trí huệ,
không đi ngoài đâu cả, chỉ thấy tâm
tức Phật không hề lay động bởi hoàn
cảnh bên ngoài.
Thiền định là
sau khi sắp xếp ta chấp nhận tất cả
nhân quả đă gieo từ xưa đến giờ, đă
ăn gian, nói dối, giết người, hại
vật đủ thứ chuyện, nên nay vui ḷng
chấp nhận không chạy chối đâu cả.
Nếu nghiệp đến, ta hoan hỷ chấp
nhận. Chúng ta có vô lượng thọ nơi
tự tánh, v́ ta không nhận, chớ ta có
đủ khả năng, việc ǵ cũng vui ḷng,
cứ trở về tự tánh mà lo tu. Tu quán,
tu chỉ, tu định vậy người ngồi niệm
Phật mà tâm không loạn, tức Định là
tu Thiền đó. Ngồi xét lại tâm ḿnh
có Phật (
là Giác
) có đủ công đức không ? Hay c̣n
tham lam, sân hận, si mê, tâm không
hẹp ḥi, ích kỷ đây là tu Quán.
C̣n như chấp nhận
nhân quả từ xưa đến giờ mà ta đă tự
gieo tạo đến với ta, trong nhà Phật
có câu :
“Bồ
Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”.
Bồ Tát làm việc ǵ cũng xét rằng
điều này có tự tư tự lợi, việc này
là làm ích lợi riêng ḿnh, hay v́
tốt đẹp cho mọi người mà làm, đó là
Nhân,
khi quả đến Bồ Tát vui ḷng tự chấp
nhận, tự hoan hỷ, an ổn nên gọi đó
là
Định.
Tu chỉ là trực chỉ
vào tâm, không nghĩ lung tung, không
nghĩ cúng, không nghĩ phải lạy,
không phải có ư nghĩ lo sửa nhà qua
hướng Đông, hướng Bắc, tất cả đều
không, quan trọng điều có sự sáng
suốt, trí huệ, không chạy theo các
vọng niệm thế gian bên ngoài. Nếu
như chúng ta ai ai cũng làm được như
vậy, với thời pháp này Thầy nguyện
cầu chư Phật mười phương gia hộ cho
quí vị luôn sống với tự tánh trí
huệ, làm được tất cả công đức. Không
phải đợi đến giờ lâm chung mới kiếm
Phật mà giờ giờ, phút phút đều thấy
Phật, dứt được sanh tử, làm lợi ích
muôn loài.
Kính thưa Thiện hữu thân mến !
Qua bài pháp trên,
Thầy đă dùng năng lực tu hành đại
từ, đại bi, đại hỷ, đại xả sáng
suốt, trí tuệ của tự tánh thanh tịnh
A Di Đà Phật tự nhiên hằng hữu sẵn
có nơi Thầy, với sự cảm thông vô
lượng, chỉ rơ tất cả những tâm niệm
huyễn hóa, vọng tưởng lầm lạc mà
nhiều người đă cố gắng tu, không
sáng suốt thường mắc phải.
Trong cuộc sống
hiện nay, rất nhiều người phát tâm
tu, học Phật, niệm Phật, nhưng
thường theo sự tướng bên ngoài mê
hoặc làm mờ bản tâm thanh tịnh hằng
sáng. Pháp niệm Phật rất thù thắng,
nhưng chỉ thù thắng vi diệu với
người nhất tâm bất loạn, c̣n miệng
niệm mà tâm loạn th́ chưa phải là
Phật tức tâm, tâm đang loạn không
phải là tâm tức Phật.
Các pháp thế gian
luôn sanh diệt, vô thường, không
thật. Trong kinh thường dạy các pháp
như huyễn như hóa, như mộng, như
điện chớp, như bọt, như ảo ảnh, cái
ǵ có sanh sẽ có diệt, có đến sẽ có
đi. C̣n Như Lai là Như Như bất động,
không đến không đi, trùm khắp. Chúng
ta thường sống với niệm sanh diệt,
Phật dạy đó là phan duyên, tất cả
đều do căn, tiếp trần, thức biến
hiện chợt có chợt không, do ta lầm
chấp duyên theo đó là nhân quả, là
nghiệp do thức dẫn ta măi luân
chuyển trong luân hồi lục đạo.
Tổ Minh Đăng Quang
dạy :
Loanh quanh trong cạm luân hồi
Xoay qua trở lại biết hồi nào ra.
V́ vậy khi niệm
Phật mà tâm không chánh định, măi
chạy theo những vọng niệm luân hồi
nên loanh quanh không thể nhất tâm.
Vậy A Di Đà Phật
là vô lượng quang, là sự sáng suốt,
đầy đủ trí huệ, nhận biết rơ được
các pháp khắp các cơi từ tham lam,
sân hận, si mê, hay từ bi, hỷ xả
v.v… mà tự tánh hằng thấu suốt chiếu
soi. Người trí huệ hay si mê tự chọn
mà sử dụng. Trí huệ th́ sử dụng từ
bi hỷ xả, c̣n ngu muội th́ sử dụng
tham, sân, si đó là nhân phát sinh
chánh hạnh hay tà hạnh, nhân chánh
th́ quả chánh, nhân tà th́ quả tà.
Vô lượng thọ là
tánh tự nhiên hằng sáng, có khả năng
chịu đựng được mọi khổ vui, có năng
lực vô lượng, thường theo ta đời
đời, kiếp kiếp, bất luận ta là Phật
là Bồ Tát, hay ngạ quỷ súc sanh, dù
ở Thiên đàng hay địa ngục từ vô thủy
vô chung vẫn bên ta vô lượng kiếp.
Vô lượng công đức,
có đủ công năng biến hóa từ phàm đến
Thánh, từ Thánh ra phàm, có thể
thành Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát
v.v… đó là những công hạnh vô ngại,
vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn,
đó là sự diệu dụng mầu nhiệm vô
lượng vô biên công đức của tự tánh A
Di Đà.
Vậy Phật là tự
giác, giác tha, giác hạnh viên măn,
người tu Phật phải quay vào tự tánh
Phật để thấy được thế nào là tánh
Phật, sống với tánh Phật nên gọi là
tu tâm. C̣n tu theo những tâm niệm
bên ngoài là vọng niệm. Tổ thường
nhắc nhở “Coi
chừng ta nhận giặc làm con”,
c̣n cách xa Phật Tổ vô cùng, v́ luôn
luôn nuôi giặc mỗi ngày thêm lớn. Ta
phải thật sự với tâm, tự quy y Phật
nghĩa là tự quay về Phật tánh của
chính ḿnh. Để không phải lầm lạc,
thường sống với bản tâm sáng suốt
trí huệ, minh thông, ḥa nhập chơn
không chiếu soi cảm thông vạn loại …
đó là sự vi diệu chơn không, nhưng
diệu hữu đủ khả năng biến hóa vô
lượng, vô biên công đức.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT !
A DI ĐÀ PHẬT !
Cư sĩ Phật tử Như Thánh
viết lại lời giảng của Thầy
Tại
Thiền Viện
Minh Đức.
Khóa niệm Phật một ngày
Chúng Liên Tông Tịnh Độ
Đoàn Phật tử Long An
Ngày mùng 05 tháng 08 năm Canh Dần (
2010 )
Thành kính cúng dường
Ai đă một đời học Phật
Đă là nhân làm Phật từ xưa
Có duyên dù sớm hay trưa
Dù mê hay tỉnh có chi ngại ngùng
Duyên lành gặp pháp đại hùng
Là duyên trợ lực khắp cùng chúng
sanh
Hăy nên nghiệm xét cho rành
Nương về Phật lực chánh minh tự ḷng
Đừng mê huyễn vọng mênh mông
Suy t́m ảo tưởng quả nhân luân hồi
Duyên lành nay đă gặp rồi
Thầy ban pháp nhiệm phục hồi tánh
minh
Không cầu cũng chẳng van xin
Ở nơi trí huệ tánh linh nhiệm mầu
Mấy ai nhớ đạo thậm sâu
Chiếu soi vạn loại tự A Di Đà
Bao trùm muôn pháp hà sa
Khắp trong pháp giới Ta Bà diêu minh
Gặp rồi nên khá giữ ǵn
Nơi tâm thanh tịnh như in Phật rồi
Từ đây đi đứng nằm ngồi
Bồ đề tự tánh sáng ngời không hai
Nhất tâm sống chết từ rày
Con nguyền cùng Phật không hai tấm
ḷng
A Di Đà Phật thong dong
Quán Âm xem xét đục trong tỏ tường
Hạnh tu Thế Chí ngàn phương
Thương yêu vạn loại c̣n vương năo
sầu
Mâu Ni tịch lặng thậm sâu
Phổ Hiền độ khắp hóa duyên giáo
truyền
Bạn lành là khắp chư Thiên
Nắm tay Bồ Tát kết duyên độ đời
Nguyện sanh khắp cả mọi nơi
Tứ hoằng thệ nguyện chẳng vơi tấc
ḷng
Tự tánh chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ
Tự tánh phiền năo vô tận thệ nguyện
đoạn
Tự tánh pháp môn vô lượng thệ nguyện
học
Tự tánh phật đạo vô thượng thệ
nguyện thành./.
Thực
hiện: Ngọc Liên