Chuyến thăm đầy xúc động và chia sẻ
1.383 phần quà cho người nghèo và kiều
bào Campuchia tại 4 tỉnh, thành như:
Pursat, Kampong Thom, Kampong Chhnang và
thủ đô Phnom Penh của Ban TTXH T.Ư do Ni
sư TN.Huệ Từ hướng dẫn từ ngày 20 đến
24-11. Tổng trị giá trên 400 triệu đồng
do Ban TTXH chùa Giác Nguyên, Q.4; Ban
TTXH PG tỉnh B́nh Phước, Ban TTXH PG
tỉnh Long An, nhóm PT Diệu Tâm và chư
tôn đức Tăng Ni TP.HCM đóng góp.
ĐĐ.Thích Minh Phú, Trưởng ban TTXH
chùa Giác Nguyên, Q.4 đă nhiều lần tổ
chức ủy lạo tại Campuchia và từng trả
lời thắc mắc của nhiều Phật tử: “Tại sao
trong nước dân ḿnh c̣n khổ vậy mà thầy
lại đi cứu trợ tận Campuchia”. Bởi lẽ
mỗi chuyến đi là những lần nặng trĩu
trong ḷng v́ kiều bào ruột thịt sống
trong khó khăn, trẻ em thất học, tương
lai mù mịt. Và, câu trả lời của thầy bao
giờ cũng kèm theo lời mời tháp tùng đoàn
cùng đến Campuchia để chia sẻ và cảm
nhận cuộc sống của bà con ḿnh ở xứ
người. Chuyến đi này của chúng tôi cũng
v́ thế...

Người Việt Nam tại
Biển Hồ -Campuchia
Biết lội trước biết đọc
Chùa Vạn An, thuộc huyện Chhnang,
tỉnh Kampong Chhnang rộn ră và chật hẹp
hơn ngày thường bởi hàng trăm người lớn
và trẻ em tập trung về đón đoàn Phật
giáo từ Việt Nam sang. Nhóm họp từng tốp
với nhau, các em bẽn lẽn nhận những cái
nh́n ấm áp từ người xa lạ rồi cười, cái
cười ngây thơ, trong trẻo làm mọi người
quên hết mỏi mệt v́ vượt hàng chục km
đường biển bằng thuyền giữa cái nắng như
thiêu đốt.
Em Hoài Ân nước da trắng trẻo hơn
những em khác hướng nụ cười hồn nhiên về
phía chúng tôi rồi nói: “Con nghỉ học
rồi v́ thầy giáo đă chết. Con cũng không
biết bao giờ đi học lại nữa”. Ân là một
trong hàng chục trẻ em Việt Nam sống tại
xóm nhà nổi ở Chhnang này phải nghỉ học
v́ thầy Bùi Văn Tăng cũng là đại diện
Hội Việt kiều tại đây khuất núi, trẻ em
đành tạm gác lại những ước mơ học chữ
Việt.
Cũng có vài người biết chữ ở đây đến
dạy cho các em nhưng đều không bền, khổ
cực quá họ lại thôi. Vả lại, học tṛ
nghèo ở xóm vạn chài này cái chữ là thứ
yếu, cuộc mưu sinh hàng ngày cùng với ba
mẹ trên Biển Hồ chênh vênh đă đè lên
giấc mơ học chữ. Đó là các em nhỏ thuộc
thế hệ thứ 3, thứ 4 trên Biển Hồ, cha mẹ
thất học, đa số là làm lưới mướn, cuộc
mưu sinh là sự sống c̣n hơn con chữ bởi
lẽ “cái chữ đâu thể thay cá, thay cơm
hàng ngày đâu cô”, như chị Lê Thị Thiệt
nói.

Bà con Việt Kiều
tại Pursat nhận quà
Chị Dệ, 44 tuổi là người
quê Đồng Tháp theo cha (là con gái của
Bùi Văn Tăng) đến Biển Hồ sinh sống từ
khi hơn 10 tuổi, chị cũng có 3 đứa con
nhưng cuộc mưu sinh hàng ngày dựa vào
nghề buôn bán cá của chị và nghề đánh cá
của chồng đă giúp cho gia đ́nh có cái
ăn. Nhắc về ông Tăng và đám trẻ con, chị
buồn, nước mắt rưng rức: “Ông là người
nhiệt huyết với làng Việt lắm, đă hàng
chục năm gắn bó với bà con người Việt ở
đây, có ông th́ bà con đỡ khổ nhiều, bọn
trẻ cũng được học hành. Bây giờ đă có
người mới lên thay nhưng chẳng để tâm
đến chuyện của xóm nổi này”.
Ba chục năm qua, chị Dệ chứng kiến
những đứa trẻ Biển Hồ lớn lên mưu sinh
và nối dài nghiệp lênh đênh trên sóng
nước, chị thở dài. Cả ba đứa con chị rồi
cũng chưa biết tương lai sẽ ra sao.
“Trước khi đi học bọn trẻ phải biết rành
rẽ từng con sóng lớn nhỏ, phải biết lội
xuồng mới có thể tự đi học. Chuyện trẻ
em trong độ tuổi đi học phải mưu sinh
trên biển trước lúc bi bô đọc chữ là
chuyện thường, có khi 14, 15 tuổi các em
mới bắt đầu làm quen với con chữ. Học
nhiều hay ít tùy thuộc vào hoàn cảnh
sống của mỗi nhà và quan niệm của cha mẹ
chúng nhưng cao lắm cũng là tới lớp
năm”, chị nói.

Ni sư Huệ Từ thăm
hỏi cô giáo Phượng và bà con Việt kiều
Cô giáo Phượng nói, trước lớp học
trên sông Basac cũng được hơn 50 em, vậy
mà dần dần chỉ c̣n hơn hai chục em v́
chúng bận mưu sinh hàng ngày với làm
lưới, tiếp cá, “cha mẹ chúng bảo đi học
có ích ǵ”. Tâm sự với cô Phượng mới hay
cô chỉ mới học hết lớp 3 (trước 1975),
vậy mà cô vẫn kiên tŕ đến lớp v́ lẽ “ở
đây tiếng Việt là thứ ngôn ngữ cội nguồn
quư lắm cô à, có xa xứ như chúng tôi mới
thấu hiểu hết. Dù là học ít nhưng bọn
trẻ cũng biết cái chữ mà nhớ quê. Nếu
mai này có trở lại quê nhà, chúng c̣n
đọc được tên làng, tên ấp”.
Chuyện học của trẻ em ở Biển Hồ xem
chừng khó hơn nhiều những ǵ chúng phải
đối mặt hàng ngày trên những ngôi nhà bè
bằng tre nứa trống trước trống sau. Muốn
học phải có tiền, dù ít ỏi nhưng cũng là
điều khó. Mỗi ngày, các em được cha mẹ
cho 500 riel (khoảng 2.200 đồng), đóng
học phí hết 300 riel, c̣n lại ăn sáng.
Nên, chuyện lên bờ học ở trường của
người bản địa th́ đành chịu, trong hàng
trăm trẻ em Việt Nam ở Biển Hồ chỉ có khoảng chục em
được học trung học tại các trường chính
quy. Chuyện lên bờ học chữ Khmer của các
em cũng khó như chuyện gia đ́nh lên mặt
đất để sống.
Đau đáu quê nhà
Tiếng loa giữa sóng nước mênh mông cứ
văng vẳng: “Thật là quư quá, chúng tôi
rất xúc động đón đoàn Ban TTXH T.Ư Giáo
hội từ quê nhà Việt Nam đến thăm và
tặng quà. Chúng tôi là người Việt thương
nhớ quê nhà, sống xa xứ, thật xúc động
đón đoàn tới thăm làng Chhnang của bà
con người Việt” cứ lặp đi lặp lại. Chùa
Vạn An cũng như bao ngôi nhà nổi quanh
đó, bấp bênh theo con nước, lá cờ Phật
giáo phấp phới nổi bật trên nền trời
xanh thẳm. Ở đó, hàng trăm kiều bào náo
nức đón đoàn, như gặp lại người thân lâu
ngày, có người đă khóc trong xúc động.
Ni sư Huệ Từ, Trưởng đoàn Ban TTXH T.Ư
cũng rơm rớm nước mắt trước mặt bao
người. Quà được trao tận tay, những câu
thăm hỏi cứ đứt quăng v́ quá nhiều người
chen vào, những câu chuyện mưu sinh trên
biển, thăm hỏi về Việt Nam cứ nối tiếp
như chẳng bao giờ dứt.

Trẻ em Việt Nam
tại Biển Hồ
Ngôi chùa quá đơn sơ, chánh điện là
một gian rộng, không tượng thờ, duy chỉ
trước sân có một tượng Quán Thế Âm hướng
mặt ra biển. Thầy Thích Lệ Thành, trụ
tŕ chùa cho biết, thầy là người Đồng
Tháp, chùa Vạn An là ngôi chùa duy nhất
của người Việt, khai sinh từ năm 1985
tại Chhnang trên Biển Hồ. Tuy đơn sơ
nhưng là ngôi nhà Phật pháp của người
Việt sống bằng nghề sông nước, niềm tin
vào Phật giúp họ vững tâm trước bao sóng
gió và bền ḷng với cuộc mưu sinh đằng
đẵng.
Buổi họp mặt trên chiếc nhà bè từ
thiện do Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP
tặng hơn một năm trước tại xă Phach Sang
Day, huyện Kampong Svay, tỉnh Kampong
Thom đă không chịu nổi sức nặng của hàng
trăm người nên đă bị tràn nước, bà con
đành ngồi đợi trên những chiếc thuyền cá
nhân. Tại Kampong Svay có 168 gia đ́nh,
với 679 nhân khẩu người Việt, đa số các
gia đ́nh mưu sinh khó nhọc bằng nghề
đánh bắt hoặc làm lưới thuê nên nghèo
khó, con lại đông. Bà Hiển, 60 tuổi, quê
Đồng Tháp cho biết, bà có 6 đứa con từ
nhỏ đă theo nghề làm cá trên Biển Hồ, đi
kiếm cái ăn để sinh tồn đâu c̣n thời
gian để nghĩ đến những chuyện khác như
học hành. Bà bảo: “Bà con ở quê vẫn c̣n,
nhớ lắm chứ nhưng biết làm sao được, quê
nhà tuy gần nhưng trắc trở lắm, không
tiền th́ cũng đành chịu thôi”. Đă hơn ba
mươi năm rồi bà Hiển hiểu thấu sự day
dứt nhớ quê, nó cứ thấm dần thấm dần mà
đau lắm cho thân phận nghèo.

Cô giáo Phượng nói: “Muốn về quê lắm
chứ, nhưng hơn ba mươi năm qua là những
lần cố gắng nhưng rồi thất vọng. Về Việt
Nam ư, phải có đủ 200.000 riel (khoảng 1
triệu đồng) để chi phí hai lượt đi về
mới dám, nhưng mỗi ngày làm được khoảng
20.000 riel không đủ mua gạo và thức ăn
cho gia đ́nh th́ lấy đâu ra tiền để dành.
Đau lắm cô à!”.
Mân mê bàn tay Ni sư Huệ Từ, bà Ba
không dằn ḷng được trước sự ân cần thăm
hỏi, bà nói cuộc sống của người Việt ở
Biển Hồ khó khăn lắm, nghèo th́ nghèo
thêm, lao động chính trong nhà đi làm
lưới cũng phải mượn trước rồi về trừ nợ
cho chủ sau, may lắm th́ trả đủ c̣n
không th́ thiếu nợ, nợ trước chồng nợ
sau mà suốt đời cứ gồng gánh không thoát
ra được.
Ở xóm Daivet (tỉnh Pursat) có 25 hộ
gia đ́nh Việt nhưng có tới 200 nhân khẩu,
sống lênh đênh trên những ngôi nhà bè
xập xệ, Biển Hồ nuôi sống và đă gắn chặt
nghề lưới cá với các gia đ́nh có khi cả
3 thế hệ. Ông Phan Văn Phần nói: “Người
Việt trên Biển Hồ nếu không làm nghề
lưới th́ chẳng biết làm ǵ. Với tôi,
chuyện mưu sinh khó nhọc đă chẳng c̣n là
nỗi sợ hăi nữa nhưng thỉnh thoảng trong
ḷng cứ dấy lên cuồn cuộn niềm nhớ quê
hương xứ sở, thèm được đi chân đất trên
cánh đồng lúa vàng quê ḿnh. Nỗi nhớ đó
cứ xoáy vào tôi mà đành ḷng vậy, đă hơn
hai mươi năm chưa về lại quê nhà Tháp
Mười”.
Bài, ảnh
H.Diệu