(Lược theo Au delà des dogmes)
Nguồn: Văn Hóa Phật Giáo – Số 48
Trong một cuộc đàm thoại giữa
thính chúng thuộc nhiều thành
phần xă hội, là nhà truyền thông,
nhà giáo dục, chính khách, …Đức
Lạt Lai Lạt Ma đă trả lời các
câu hỏi về nhiều vấn đề đời sống
xă hội tham của người tham dự
một cách thẳng thắn và có duyên.
Với phong thái gần gũi, chân
thật và giản dị, và qua những
câu trả lời này, phần nào đó trả
lời câu hỏi: tại sao Đức Đạt Lai
Lạt Ma được nhiều người, đặc
biệt là ở các nước phương Tây
yêu mến đến thế.
1.Kính
thưa Ngài, khi c̣n bé Ngài đă tỏ
ra phi thường. Những trẻ em lo
âu cho tương lai của tinh cầu đă
thành lập một hội đoàn. Ngài có
đều ǵ muốn nói với trẻ em ngày
nay?
Tương
lai là cái ǵ ở trước mặt chúng
ta, và v́ vậy, nó rất quan trọng.
Trẻ em có trách nhiệm về tương
lai ấy. V́ rằng bản tính con
người căn bản là tốt, nên trẻ em,
khi c̣n rất nhỏ, không phân biệt
lắm giữa người này và người nọ.
Các em có một t́nh thương và
ḷng nhân tự nhiên. Ví dụ đối
với các em, nụ cười của người
đối diện quan trọng hơn chủng
tộc, quốc tịch hay văn hóa của
họ. Điều này, theo tôi rất đáng
quư và nó khiến tôi hy vọng ở
tương lai. Nhưng mặt khác th́
tôi lại thấy hơi lo: trẻ em
đương nhiên có tâm hồn cởi mở và
tốt bụng, nhưng một vài khía
cạnh của nền giáo dục mà các em
hấp thụ làm tăng thêm mối chia
rẽ giữa các em, điều này chung
cục sẽ tạo nên hố ngăn cách giữa
trẻ em và những người khác.
V́
vậy,tôi thấy là song song với
giáo dục, điều tối cần là phải
phát triển ḷng nhân mà bẩm sinh
các em vốn có. Nghĩa là giáo dục
phải ḥa hợp với bản chất nhân
hậu của trẻ. Điều chính là nuôi
dạy nó trong một môi trường
thương yêu và tŕu mến. Mặc dù,
lư tưởng mà nói rằng, nếu phải
lựa chọn nhiều đức tính rất quư
khác và ḷng nhân, chắc chắn tôi
sẽ chọn ḷng nhân.
Thật
vậy, giáo dục cùng với trí thông
minh bẩm sinh của con người, dù
quan trọng cách mấy cũng không
đủ để tạo dựng tương lai. Tâm
hồn chúng ta phải thấm nhuần đức
vị tha, bằng cách cảm nhạn giá
trị nhân bản ṇng cốt như t́nh
thương đồng loại. Hăy tự tạo cho
ḿnh ḷng nhân và tinh thần
khoan dung; hăy cho trí thông
minh của ta phong phú lên nhờ
đức tính ấy, và khai thác những
đức tính có được giáo dục, để cả
chúng ta và xă hội quanh ta đều
được măn nguyện và hạnh phúc.
2. Tại
sao ở phương Tây cha mẹ và con
cái lại “thường bất ḥa” nhu
vậy?
Tôi
cũng chẳng biết nữa. Có nhiều
yếu tố và đều kiện như: thói
quen, phong tục và tấm gương cho
trẻ noi theo. Điều có thể tạo
nên xung đột trong gia đ́nh. Dĩ
nhiên thật đáng buồn khi mà giữa
cha mẹ và con cái, t́nh thương
yêu không c̣n nữa. Tôi không thể
giải thích những mối bất ḥa như
vậy bằng một nguyên nhân duy
nhất nào. V́ có nhiều nguyên
nhân, nên khi t́m cách giải
quyết văn đề, phải nhận định
chúng một cách bao quát, toàn
diện.
3.
Những quan điểm chính trị và
kinh tế của các nước phương Tây
đă vận hành tương đối tốt trong
thập niên 1960, nhưng mọi sự
không ổn trong thập niên này.
Người ta không c̣n thấy bằng
ḷng nữa. Làm sao chỉnh đốn lại
t́nh thế?
Từ
lúc hăy c̣n rất bé, tôi đă ham
thích kỹ thuật. Một số người cho
rằng chính việc phát triển kỹ
thuật đă không hoàn toàn đáng
mong muốn. Tôi th́ không nghĩ
vậy. Tôi nghĩ rằng tất cả điều
do ở thái độ chúng ta, và chúng
ta có quyền sử dụng nó và điều
tốt hay điều xấu. Vậy nên, tất
cả đều tùy thuộc vào động cơ
thúc đẩy chúng ta, vào cách
chúng ta áp dụng kỹ thuật. Tôi
nghĩ hiện nay chúng ta đang
chứng kiến một sự tăng gia kiến
thức sâu rộng, nhưng người ta
lại không quan tâm phát triển
ḷng tốt, thiện tâm và t́nh
thương yêu đồng loại cho bằng
quan tâm đến kiến thức.
Tuy
vậy, tôi nghĩ rằng hiện nay mọi
sự đă rất rơ ràng. Con người
không phải là sản phẩm của máy
óc. cho nên không mong ǵ có
được hạnh phúc thật sự nếu chỉ
tùy thuộc vào ngoại cảnh. Dĩ
nhiên, chúng ta cần có một tối
thiểu tài sản vật chất, nhưng nó
không phải là nguyên nhân mang
lại hạnh phúc. Những nguyên nhân
thật sự để được hài ḷng măn
nguyện phải t́m trong nội tâm
ta. Tôi nghĩ đều ấy rất rơ.
Mặc
dù khó giải thích tiêu này, tôi
xin cố gắng diễn tả ư nghĩa của
lời giải quyết ấy. Trước hết
phải nh́n nhận hạnh phúc thể
hiện trong tâm hồn chúng ta.
Những kẻ chỉ suy nghĩ bằng khoa
học kỹ thuật, với chủ trương là
có thể giải quyết và hoàn tất
mọi chuyện nhờ có tiến bộ, đều
là cực đoan. Tôi phải nh́n nhận
đâu là giới hạn của một lối nh́n
như vậy. Khởi đầu bằng cách định
đường ranh này khiến chúng ta
khỏi phải ngỡ ngàng khi gặp
những trở lực ngoại giới. Theo ư
tôi, khi gặp khó khăn chúng ta
đừng nên quá gần mà quan sát
chúng. Ngược lại, hăy đứng xa ra
một chút, nh́n với một tam hồn
cởi mở hơn, trong một bối cảnh
bao quát hơn; khi ấy chúng ta sẽ
t́m ra được giải pháp dễ dàng
hơn. Ví dụ chúng ta đang gặp vấn
đề nan giải. Nếu cứ đứng thật
gần mà nh́n, ta sẽ thấy khổ đến
không chịu nỗi, v́ vậy cứ phải
suy gẫm toàn những mặt tiêu cực.
Ngược lại, quan sát vấn đề từ
một khoảng cách, biểu lộ một
cung cách thoải mái hơn, và xét
vấn đề dưới những góc độ khác
nhau, th́ giúp chúng ta t́m được
những khía cạnh tích cực của
t́nh huống. Tôi thấy là cần phải
kết hợp trí thông minh tự nhiên
của mỗi người với ḷng can đảm,
để tạo ra niềm tin thật sự. Kinh
nghiệm riêng đă dạy tôi rằng nhờ
có thái độ này mà ta để đạt đến
sự yên tĩnh của tâm hồn.
4. Các
thính tri gia có thể có biện
pháp nào để cho người dân được
sung sướng hơn?
Tôi
nghĩ vai tṛ này không chỉ giới
hạn cho các chính trị gia mà
thôi. Nó liên quan đến mọi
người, những nhà giáo dục, khoa
học gia, những người thiết lập
các lư thuyết chính trị, các nhà
tâm lư học, những người chuyên
về khoa học tâm linh, những nhà
trí thức. Tóm lại, việc t́m kiếm
những phương thức cho sự b́nh an
nội tâm là công việc của mỗi
người. Ví dụ ngành y khoa ngày
càng khám phá thêm nhiêu tương
quan giữa sự thanh thản tâm hồn
và sự lành mạnh thể xác. Đó là
những công tŕnh nghiên cứu đáng
được phát triển thêm về chiều
sâu.
Tôi
phải nói rằng, quư vị trong hệ
thống thông tin báo chí ở thời
điểm này đóng vai tṛ rất quan
trọng. Hệ thống thông tin báo
chí hiện nay thuộc về một thời
đại tân tiến và trong một phương
diện, tôi tin ngành báo chí hành
động như một nhà giáo dục, như
một nhân tố kích thích tâm hồn
con người. Như vây quư vị có một
vai tṛ rất đặc biệt. Về điều
này, tôi xin tŕnh bày với quư
vị một vài ư kiến: Tôi có cảm
tưởng là ngành báo chí thông tin
chú ư quá nhiều đến mặt xấu của
những hoạt động của con người,
khiến cho quần chúng có cảm
tưởng là bản tính con người hoàn
toàn xấu. Khi nghĩ như thế, tự
nhiên người ta chán nản và thật
sự có nguy cơ mất hết hy vọng.
Loài người có bao nhiêu chuyện
để đau khổ, dù chỉ trong phạm vi
hạn hẹp của gia đ́nh. Dù có muôn
vàn vấn đề mà con người gặp
phải, vẫn có một tiềm năng để
biến đổi: vẫn có thể làm cho
hoàn cảnh đó tốt đẹp hơn, v́
thương cảm và từ bi ở trong bản
tính của chúng ta. Bằng cách
liên kết thông minh của con
người với một động cơ thúc đẩy
tốt lành, chúng ta có thể thay
đổi cuộc đời của chúng ta, và
cải tạo xă hội. Đối với tôi, đây
là điều then chốt. V́ vậy tôi
nghĩ rằng khi tŕnh bày những
vấn đề có quan hệ đến con nguồn
th́ quư vị nên tŕnh bày một
cách quân b́nh hơn. Dĩ nhiên tất
cả những mặt xấu này của cuộc
đời cũng đều quan trọng, chúng
cho báo chí những chất liệu tốn
nhưng cúng đừng quên đưa ra
những mặt tốt của cuộc đời, căn
bản trên bản chất con người và
trí thông minh của ta.
Gần
đây, trong một số quốc gia người
ta bàn căi nhiều về vai tṛ của
báo chí. Có nên nói hoạch toẹt
hết mọi chuyện không? Phải nói
cách nào? Chỗ nào trong đời tư,
báo chí không được đụng đến? Tôi
có vài ư kiến về vấn đề này,
nhất là đối với những nhân vật
lănh đạo. Có trường hợp mà một
số vị này không cư xử đúng đắn
trong cương vị của họ, không tỏ
ra có nguyên tắc hay kỷ luật tự
giác. Trường hợp này tôi nghĩ
rằng chỉ có báo chí mới có quyền
năng kiểm điểm, và đưa ra ánh
sáng, những cung cách hành động
như vậy; do đó, tôi ủng hộ hành
động của nhà báo và đánh giá cao
khía cạnh lục lọi ḍ xét. nơi
nào cũng xen vào của họ. Không
nên có khoảng cách chênh lệch
giữa thể thống bên ngoài và đời
tư của một người lương thiện.
Tôi nghĩ báo chí phải cho công
chúng thấy rằng một số khía cạnh
hấp dẫn khác hẳn. Chính trong
chiều hướng đó mà tôi hơi khuynh
về sự can thiệp vào đời tư của
người ta, nhưng không phải v́
vậy mà quên rằng chủ đích chung
của chúng ta là phục vụ con
người để kiện toàn xà hội. Đừng
hành động sai lạc, do những động
cơ xấu thúc đẩy. Tôi tin là, nếu
người ta không phơi trần hết
thảy những tệ nạn xă hội như
nghiện thuốc, giết người, hăm
hiếp và lạm dụng trẻ em, th́
những kẻ vô tội sẽ cứ hàng ngày
chịu khổ. Nếu báo chí giải thích
rơ ràng, công chúng rốt cục phải
chú ư và t́m ra cách giảm bớt
khổ đau.
Tôi
cũng nghĩ rằng, khi nói đến luân
thường đạo lư thường th́ người
ta gắn liền với nó với những
khái niệm tôn giáo. Theo tôi,
tách rời hai khái niệm luân lư
và tôn giáo là điều quan trọng.
Tôn giáo, lẽ di nhiên giúp chúng
ta hiểu được đạo đức theo chiều
sâu duy tŕ và phát triển nó,
nhưng khi nói đến ḷng vị tha
hay t́nh thương yêu đồng loại
chẳng hạn, phải biết tha thứ đạo
đức này tự nó mà có. Không phụ
thuộc vào tôn giáo, v́ nó bắt
nguồn từ bản tính thâm sâu của
con người, đó là ḷng nhân và
t́nh thương yêu.
5.
Ngài có thể nói khái niệm nghiệp
tập thể, nghiệp chung của một
quốc gia? Nghiệp chung này mô tả
cái ǵ ?
Nói
về nghiệp chung của một quốc gia
là một đều dễ hiểu. Tuy nhiên,
mặc dù sự chín muồi nghiệp quả
của những người trong cùng một
nhóm được gánh chịu trong cùng
một lúc, điều này không có nghĩa
là những nghiệp này được tích
lũy trong cùng một thời gian.
Tôi không tin là những duyên của
một nghiệp chung được tạo ra
cùng một lúc, mà chúng được tạo
ra trong từng cá thể vào những
thời đềm khác nhau. Sức mạnh của
những hành động này và nhiều yếu
tố khác nữa có thể tạo nên một
sự nghiệp chung mà một nhóm
người hay cả một nước phải gánh
chịu.
6.
Những tội nhân chiến tranh trong
phần gương những xứ Âu Châu,
Đông âu, và những quốc gia khác
tại Á Châu như Cam Bốt và Việt
Nam đă không hề được xét xử, và
có khi c̣n được ân xá ngay cả
trước khi được xét xử. Ngài nghĩ
thế nào về việc này?
Thật
đáng buồn, trong nhiều nước vừa
mới thoát khỏi chế độ đàn áp,
người ta thường biểu lộ ḷng
căm
hờn và ư muốn trả thù trong khi
đáng lẽ phải biết tha thứ và
chấp nhận. Đây không phải là lúc
trả thù và thanh toán trong
những nước đă được dân chủ này.
Ngược lại, đây là lúc tái thiết
quốc gia, xă hội. Tôi đă bày tỏ
điều này khi được viếng thăm một
số trong những nước đó.
Tôi
rất quư trọng và ngưỡng mộ những
nghĩa cử của các tổ chức như cơ
quan ân xá Quốc tế, họ làm việc
một cách chân thành, có hiệu
năng và tích cực trong lĩnh vực
vi phạm nhân quyền.
7.
Ngài nói đến sự giải giới nội
tại mà phải kèm theo giải giới
ngoại tại. Xin Ngài nói rơ thêm
giải giới nội tại là ǵ trước
thù hận của kẻ địch, trước ḷng
căm hận của chính ḿnh. Trong
tác phẩm Les Voies du Coeur,
Ngài cho thấy có thể thành lập
trong tương lai mộ đạo quân quốc
tế. V́ Ngài chủ trương bất bạo
động, th́ họ sẽ hoạt đóng cách
nào đây? Họ sẽ được vũ trang
không?
Ai
cũng biết ràng khả năng chém
giết vẫn tồn tại chừng nào người
ta c̣n vung gươm múa kiếm trong
những bang giao quốc tế, hay cả
trong phạm vi mỗi quốc gia. Mặt
khác, phải xét lại vấn đề mua
bán vũ khí v́ t́nh thế hiện nay
vừa khủng khiếp vừa vô trách
nhiệm. Chúng ta suy nghĩ rất
nghiêm chỉnh đến vấn đề vũ trang
mà, một khi đă phân tích cặn kẽ,
cho thấu rơ cơ chế quân đội là
yếu tố chính dẫn đến t́nh trạng
suy thoái của t́nh trạng hiện
nay, mà nạn khủng bố là do vũ
khí mà có. V́ vậy nguy cơ chiến
tranh vẫn c̣n tồn tại ngày nào
mà những cơ chế quân đội vẫn
c̣n, ở phe này cũng như phe kia.
Thế nên, cần phải dẹp bỏ quân
đội, từ từ thôi. Dĩ nhiên, bắt
đầu là giải giới nguyên tử, tiếp
theo loại bỏ khí giới hóa học và
vũ khí vi trùng, cuối cùng dẹp
luôn vũ khí thông thường. Trước
hết cần có sự bảo đảm quốc tế
cho công cuộc giải giới này, nó
cũng kiểm soát việc mua bán vũ
khí, mà một số người đại diện là
kẻ bất lương. Để giám sát việc
giải giới này, có thể đưa vào
những lực lượng nho nhỏ giống
như một loại cảnh sát quốc tế.
Liên Hiệp Quốc đă tham gia rất
nhiều trong hành động quân sự để
giải phóng; chúng ta có thể một
lực lượng đa phương hay quốc tế
giám sát một nước đă hoàn toàn
giải giới, ư chính tôi muốn đưa
ra, là những lực lượng tập thể
này sẽ hoạt động như những lực
lượng bảo vệ trị an. Lúc ấy mọi
người sẽ thành Bồ tátm, chẳng
cần vũ trang ǵ nữa! Nhưng tôi
chắc là sẽ khó thực hiện.
Một
số người có lẽ không biết giải
giới nội tại là ǵ? Tôi cho rằng
căm hận là kẻ thù độc địa nhất.
Đó là kẻ thù của sự thanh thản
tâm hồn, t́nh hữu nghị và sự ḥa
hợp, ba yếu tố then chốt cho một
sự phát triển tích cực để thực
hiện một thế giới tốt đẹp hơn.
Vậy phải tiết giảm hận thù và
phát huy đức từ bi, ḷng thương
cảm. Đó chính là điều mà tôi gọi
là giải giới nội tại.
8.
Giận và ghét khác nhau thế nào?
Riêng
tôi thường phân biệt hai loại
tâm lư vẫn đục này như sau. Ghét
gắn liền với sự oán hận người
khác, không bao giờ có động lực
là ḷng xót thương. Vậy cần phải
hủy diệt nó hoàn toàn. Giận bộc
lộ một phản ứng cảm xúc tức th́,
mà trong Mật tông, có thể sử
dụng được để tu hành. Cũng có
khi v́ thương mà người ta nổi
giận. Ví dụ như để thúc giục kẻ
khác phải tiến hành một hành
động khẩn trương.
9. Xin
Ngài định nghĩa thế nào là một
kẻ thù ?
Khi
thấy ḿnh giận ai đến tím mặt,
th́ biết ngay kẻ thù là ǵ.
Chương bàn về ḷng khoan dung và
sự kiên nhẫn trong Bồ tát
hạnh của Shantideva định
nghĩa kẻ thù là người hăm dọa
mạng sống ta hay bạn hữu ta, của
cải ta hay của cải họ v.v… Bạn
của kẻ thù được xem như kẻ thù.
Trong pháp môn chuyển hóa tư
tưởng (Tạng ngữ Iodjong) có mục
quan sát tính b́nh đẳng giữa
ḿnh và người, dẫn đến ư niệm
không c̣n thù hay bạn. Không
phải phủ nhận sự hiện hữu của
họ: kẻ thù và bạn vẫn c̣n đó;
đúng hơn, sự tu tập này cho
thấy không có lư do nào để giận
những kẻ xem ḿnh là thù, hay
quyến luyến một số người v́ họ
là bạn hay bà con ta, nhưng từ
một góc độ khác nhau, có thề xem
kẻ ấy là bạn, v́ đă cho ta cơ
hội để tập tính nhẫn nhục, khoan
dung. Nếu nh́n ở khía cạnh này
th́ anh ta không c̣n là kẻ thù
nữa, mà thật hữu ích và có lợi.
10.
Một người Tây Tạng giết chết một
con trâu để nuôi sống gia đ́nh
có hành động tiêu cực không? Câu
hỏi cũng đặt ra nhu vậy đối với
những người cận vệ, v́ để bảo vệ
tính mạng cho Ngài, phải biết
giết người?
Chúng
ta phải biết hiểu những trường
hợp này như thế nào? Dĩ nhiên
đây là những hành động tiêu cực.
Cường độ tạo nghiệp của mỗi hành
động tùy thuộc vào nhiều yếu tố
như ư định thúc đẩy hành động,
ngay chính hành động và suy nghĩ
tiếp theo sau hành động.
11.
Trong lúc theo giáo lư nhà Phật,
làm sao sống trong nhũng biến cố
tàn bạo như chiến tranh ?
Điều
quan trọng hơn hết phải tránh
chém giết: tự cho ḿnh có quyền
cướp mạng sống của ai là một
điều dứt khoát không bao giờ
chúng ta được nghĩ đến.
12.
Không bám víu khác với thờ ơ
lănh đạm như thế nào?
Rất
khác: lănh đạm là hoàn toàn
không quan tâm đến đối tượng
đang đề cập, trong khi không bám
víu hàm ư c̣n có một liên hệ.
Để
sáng tỏ ư tôi nói, hăy xét sự
bám víu là ǵ? Nó có hai loại:
loại thứ nhất cần từ bỏ, đó là
khi sự bát víu phát sinh do tâm
trí bị khuấy động v́ nỗi thèm
muốn hay do bất kỳ động cơ tâm
lư tiêu cực, loại thứ hai là
t́nh cảm hướng đến những đối
tượng đáng thương khuynh hướng
này không xuất phát từ những xúc
động tiêu cực th́ phải được đào
sâu và tăng trưởng.
Khi
quán tưởng tính Không
(vacuité) chúng ta được thúc đẩy
phải nới rộng sự bám giữ sai lạc
các hiện tượng và sự cố, tưởng
rằng chúng có một sự hiện hữu
chắc chắn, biệt lập. Buông thả
sự bám giữ sai lầm đều thiết
yếu, nhưng vẫn phải có ư thức
phân biệt cái ǵ phải vun trồng
cái ǵ nên từ bỏ, và cố gắng
phát huy tiềm năng của những đức
tính lành mạnh và tích cực đồng
thời dẹp bỏ sức mạnh của những
khuynh hướng tiêu cực và độc hại.
Khả năng phân biệt của ta vẫn
c̣n nguyên vẹn. Trong cùng chiều
hướng suy nghĩ đó. Bồ tát phải
hủy tận gốc sự kiêu ngạo, tự hào,
Tính khiêm cung tự nhiên đặt vị
ấy ở sau mọi người. Tuy nhiên,
điều này không thể ảnh hưởng đến
niềm tin vô song và ḷng can đảm
tuyệt vời của Bồ tát khi dấn
thân giải thoát chúng sinh khỏi
khổ ách. Gương từ bi rộng lớn
không lẫn bám víu tiêu cực nào,
chứng tỏ rằng trọng hạnh phúc
người khác hơn hạnh phúc riêng
Chính
nhờ trí tuệ và sự tu tâm luyện
tính trong trong phương tiện
khéo léo cũng như khả năng sáng
tạo của tâm hồn điều cần thiết
mà ta có thể thấy sự khác biệt
rất vi tế giữa yếu tố nuôi dưỡng
bản ngă, tức sự bám víu, và
những đức tính tích cực lợi tha.
Chỉ có sự kết hợp phương tiện và
trí tuệ mới phân biệt đúng được.
Tôi thường nói rằng nhắc đến cái
"tôi" đương hàm một ư thức mạnh
mẽ về tự ngă. Một trong những
h́nh thức biểu lộ bản ngă là
không cần để ư đến kẻ khác,
không đếm xỉa đến hạnh phúc của
họ, thậm chí có thể v́ tư lợi mà
khai thác bất kỳ điều ǵ làm cho
ḿnh sung sướng. Thái độ tâm lư
là rất tiêu cực cần phải đánh
đổ. Ngược lại một khía cạnh khác
của cái "tôi" có thể biểu thị
bằng ḷng tự tin rộng lớn, khiến
ta có thể nói: "Ḿnh có thể hoàn
tất điều này điều nọ. Ḿnh có
thể làm việc cho mọi người được
sung sướng. Ḿnh sẽ đạt đến toàn
giác (eveil parfait) để làm lợi
cho chúng sinh”. Cảm thức ấy th́
đừng dẹp bỏ mà ngược lại, phát
huy nó, tăng cường nó! Trên con
đường tu tập, tâm trí ta bề
ngoài vẫn thảnh thơi, thoải mái,
nhưng tự thẳm sâu trong tâm hồn
phải thật minh mẩn tỉnh giác,
luôn sử dụng một cách sáng suốt
sự phản tỉnh và chú tâm.
Nguyễn Thị Phương Thanh dịch
(Lược
theo Au de là des dogmes)