Tantra và Mật
Tông (vajrayāna) là những truyền thống bí truyền, và khác với
các truyền thống trước đây, học thuyết của những phái Phật giáo
này chỉ dành cho những người Phật giáo đă nhận được sự khai tâm
thích hợp. Hơn nữa, những kinh
điển phát sinh từ phong trào này chất chứa đầy biểu tượng khiến
hầu như không thể hiểu nổi nếu không có sự cắt nghĩa của một
thầy dạy, và chỉ có thể đạt được bởi những ai đă tiếp nhận
abhideka, sự khai tâm trong truyền thống Tantra. Bài này
sẽ tŕnh bày về hai phái này một cách tổng quát.
Tantra là một hiện tượng tràn lan khắp Ấn Độ.
Đây là một phong trào sử dụng các thủ thuật của nghi lễ ma thuật
và thiền, trong một tinh thần chống lại các quy tắc đạo đức,
nhằm đạt những mục tiêu thế tục và tôn giáo.
Phái Phật giáo
Tantra h́nh như đă phát triển chủ yếu trong môi trường Đại Thừa,
và mặc dù sau này nó sẽ làm phát sinh phái Mật Tông, là thời kỳ
lớn thứ ba của lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nhưng nó vẫn cố ư giữ
lại măi măi tư cách Đại Thừa của nó. V́ vậy người Phật
giáo Mật Tông đi theo lư tưởng Bồ tát của Đại Thừa, t́m cách trở
thành Phật để cứu độ tất cả chúng sinh. Sự nhấn mạnh lớn nhất
trong Mật Tông là về nghi lễ ma thuật, và sự phát triển về lănh
vực này là nét đặc trưng chủ yếu phân biệt nó với các phái Phật
giáo khác trước nó. Ư nghĩa triết học về thực tại được hiểu theo
học thuyết Đại Thừa chính truyền mà không có mấy sự thay đổi.
Phản ánh học thuyết Tathāgatagarbha và sự đồng hóa niết bàn với
luân hồi của Đại Thừa, người mới nhập đạo thấy ḿnh đă được Giác
ngộ. Học thuyết "duy tâm" của Yogācārin cũng có tính quyết định,
v́ nó dành vai tṛ trọng tâm cho việc hành thiền trong nghi lễ
Tantra, khiến cho mọi sự vật, kể cả các đồ vật trần tục, cũng
được nh́n như biểu tượng của thực tại được nhận thức bởi tâm của
người Giác ngộ. Người hành thiền vun trồng một thái độ coi mọi
khía cạnh của thế giới trần tục ảo ảnh như là sự biểu hiện của
cái tâm giác ngộ.
Phái này đặt nặng tầm quan trọng
của việc đạt kết quả tức th́, với ư hướng là người mới nhập đạo
cố gắng đạt giác ngộ ngay bây giờ, trong chính kiếp sống này,
chứ không phải sau nhiều kiếp thực hành Chánh Đạo.
Người ta vẫn giữ lại nguyên tắc quy y, nhưng giải thích lại nguyên tắc này như
là sự kinh nghiệm trực tiếp của người thực hành Tantra. V́ thế mỗi người sẽ coi
sư phụ của ḿnh như là Phật Bảo, v́ là người khai tâm cho ḿnh và dẫn dắt ḿnh;
coi Pháp Bảo như là iṣṭadevatā, "thần tuyển chọn" của ḿnh, nghĩa là vị Phật hay
Bồ tát mà ḿnh thị kiến hay cảm nghiệm trực tiếp được; và Tăng Bảo là ḍākiṇī,
"nữ chúa", là cộng đồng thiêng liêng gợi hứng cho đời sống thiêng liêng ở mức độ
tột đỉnh. Phái Tantra bắt đầu bằng những t́nh cảm cơ bản là ghét và tham, không
coi chúng là những cản trở cho đời sống thiêng liêng, mà như là những phương
tiện mạnh mẽ để đạt lư tưởng Bồ tát. Bản năng sinh sản thâm sâu nơi con người
được vun trồng để sinh ra Quả Phật; phản xạ tự nhiên huỷ diệt những ǵ đe doạ
bản ngă trần tục được đổi hướng để nhằm tiêu diệt những sự uế tục làm vẩn đục
Quả Phật bẩm sinh nơi con người.
Về phương pháp thực hành tôn giáo, và
phương tiện để người ta đạt giác ngộ tức th́,
Tantra sử dụng nghi
thức pháp thuật để đạt những mục tiêu thiêng liêng của Phật giáo
Đại Thừa. Nền tảng của ma thuật này là sự đồng hóa bằng
biểu tượng giữa thân xác và hành động của người hành đạo với
những khía cạnh của vũ trụ vật chất và siêu nhiên. Dựa trên cơ
sở đồng hóa này, bằng những thao tác mềm dẻo của thân xác, người
hành đạo có thể điều khiển thế giới bên ngoài.
Nhưng quan trọng hơn nữa, trong cái
nh́n cứu độ, việc điều khiển thế giới bên ngoài của người hành
đạo cũng có thể biến đổi thế giới bên trong thân xác mềm dẻo của
họ, v́ đối với người hành đạo Tantra, không có sự phân biệt giữa
thế giới bên trong và thế giới bên ngoài. Bằng những cách
thức đó, họ có thể đạt siddhi, "thành công", dù là trong thế
giới phàm tục hay thế giới thiêng liêng cao siêu nhất.
Những bậc hành đạo Tantra cao nhất (gọi là anuttarayoga, xem
dưới đây) gồm việc kích thích và vận dụng những năng lực của
toàn cơ thể tâm sinh lư, và người ta đă xác định cả một hệ thống
phức tạp những đường thực hành năng lực trong cơ thể để thể hiện
việc này. Đây là một h́nh thức yoga t́nh dục, bao gồm việc giao
hợp nghi tiết với một nữ śakti, (nghĩa đen là "lực"), có mục
đích kích thích việc phát sinh yếu tố giác ngộ, được biểu tượng
bằng tinh trùng của người hành lễ. Hiển nhiên những việc thực
hành này, nếu theo nghĩa đen sẽ là phá vỡ giới bổn Prātimokha
buộc Tỳ khưu phải tiết dục hoàn toàn, do đó một số truyền thống
Tây Tạng sau này đă theo Atīśa cắt nghĩa một cách nhấn mạnh rằng
ngôn ngữ này hoàn toàn chỉ có nghĩa biểu tượng - người nữ giao
phối là biểu tượng trí tuệ siêu việt, người nam giao phối biểu
tượng upāya, "phương tiện hiệu quả". Tuy nhiên, lối giải thích
biểu tượng này không phổ biến, và có một truyền thống Mật Tông
cổ xưa mô tả người Mật Tông lư tưởng là người có việc thực hành
Tiểu Thừa bề ngoài (nghĩa là công khai), việc thực hành Đại Thừa
tư riêng, và việc thực hành Mật Tông bí mật.
Các chứng cớ khảo
cổ học cho thấy những mức độ cao nhất của việc thực hành Tantra
công khai chỉ có từ khoảng thế kỷ X-XI trở đi, nghĩa là rất
muộn, và cả vào thời kỳ này, nó vẫn gây ngộ nhận và xúc phạm.
Nhà hành hương người Tây Tạng Dharmasvāmin, sau khi đến thăm Bodh Gaya vào thế
kỷ XIII, mô tả những "Śrāvakas Tích Lan" công khai tố cáo những người thuộc phái
Mật Tông, đốt những bản kinh Tantra và phá huỷ một bức ảnh của một vị Phật nam
thịnh nộ gọi là heruka tại một thánh điện ở đó.
Lịch sử của phái Tantra rất tối tăm,
giống như nhiều điều khác trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ, nhưng
các sử gia đă có thể xác định được một số giai đoạn phát triển
của nó. Bằng chứng đầu tiên về
sự xuất hiện những đặc tính được coi là thuộc Tantra có rất sớm,
từ thế kỷ II CN., và gồm những chương lấy từ các kinh khác nhau
của Đại Thừa về những Dhāradī, những chuỗi vần dài khó hiểu được
cho là có những năng lực khác nhau. Rơ ràng những vần này
có liên quan tới những câu niệm chú của Đại Thừa và những bản
văn gọi là paritta, như Mettā Sutta được những người Phật giáo
ngoài Đại Thừa tụng lên để xin sự che chở.
Những kinh Tantra cổ xưa nhất
được dịch sang tiếng Trung Hoa từ thế kỷ III. Tuy nhiên, giai
đoạn đầu này, đôi khi được gọi là Mantrayāna, trong một thời
gian dài không có ảnh hưởng lớn đối với cộng đồng Phật giáo nói
chung.
Từ thế kỷ VIII, t́nh h́nh này đă thay đổi, và Tantra đă được
biết đến khá nhiều và đă bắt đầu kích thích những hoạt động chú
giải trong các đại học lớn. Sự biến chuyển này chắc hẳn có liên
quan tới sự xuất hiện của triều đại Pāla ở Bihar và Bengal
(760-1142 CN.), triều đại đă thiết lập những đại học mới ở
Vikramaśīla và Odangtapurā.
Những đại học này đă trở thành trung tâm của phong trào mới, và
chủ yếu từ đây mà Phật giáo được truyền sang Tây Tạng. Nó
cũng có thể được coi như một sự phục hưng để phản ứng lại sự suy
đồi của Phật giáo đă được mô tả lại bởi Yuan-tsang khi ông đến
thăm Ấn Độ vào thế kỷ VII. Cần nhấn mạnh rằng trong mọi giai
đoạn đều có những người hành đạo Tantra sống trong các tu viện
như những Tỳ khưu được thụ giới đầy đủ, tuân giữ những giới luật
Vinaya giống như các Tỳ khưu khác. Có thể nói giai đoạn thứ hai
này đánh dấu nguồn gốc thực sự của phái Mật Tông, v́ trong giai
đoạn này các biểu tượng, thuật ngữ, và phần lớn nghi lễ đă được
thiết lập.
Trong phái Mật Tông, người ta đă xác định được thêm hai giai
đoạn nữa. Giai đoạn thứ nhất
được một số học giả gọi là Sahajayāna, liên quan tới các hoạt
động của một nhóm gọi là mahā-siddhas, những người "tinh thông
xuất chúng", truyền thống kể ra con số 84 người, từ thế kỷ IX
tới XII. Đây là những Thiền sư hoàn hảo đi rảo khắp các
vùng đồng quê theo kiểu các nhà phù thủy tốt lành, bề ngoài
không lệ thuộc một tu viện nào, thường có một người đồng hành
thuộc giai cấp thấp đi theo để giúp ông thực hiện các nghi lễ
Tantra và hành thiền. Hệ tư tưởng của họ là của Mật Tông, và họ
dùng những bài ca huyền bí để ca ngợi mahāsukha, "đại lạc" (=
niết bàn) tức là sahaja, "cái cùng xuất hiện" với niềm hạnh phúc
phát sinh từ cuộc phối hợp giữa người hành thiền và người đồng
hành, nhờ các phương pháp thiền để dẫn đến sự kết hợp giữa upāya
và Prajñā (trí tuệ). (157)
___Qua nếp sống của ḿnh, một số "bậc tinh
thông" siddhas thách thức và chế nhạo sự tự măn và nghi thức bề
ngoài của các cơ chế tôn giáo trong các đại học tu viện.
Phương pháp t́m
kiếm tôn giáo trong tinh thần chống các quy luật đạo đức của họ
cũng như lối biểu tượng t́nh dục và việc thực hành của phái Mật
Tông thời sau chứng tỏ họ có ư muốn gây điều chướng tai gai mắt.
Trong thực tế, việc phá bỏ những cấm kị là một nét đặc trưng
quan trọng của việc thực hành trong phái Mật Tông - theo đó
người ta nhấn mạnh việc giao hợp với phụ nữ thuộc giai cấp ti
tiện, ăn thịt (đặc biệt thịt chó và xác người) và các chất ô uế
khác, và tiếp xúc thường xuyên với các vùng đất hoả thiêu, tất
cả những điều này đều vô cùng ghê tởm đối với Bà La Môn giáo.
Người ta không rơ chính Phật giáo có tiếp thu những giá trị đó
trong thời ḱ này hay không.
Sự phát triển của giai đoạn cuối cùng và muộn thời này được gắn
liền với một bản văn gọi là Kālacakra Tantra, h́nh như đă được
soạn trước giữa thế kỷ XI, và là bản kinh Tantra cuối cùng xuất
hiện tại chính Ấn Độ. Kālacakra Tantra được viết bằng tiếng Phạn
cổ điển, không giống những tác phẩm Tantra của thời ḱ trước đều
viết bằng thứ ngôn ngữ pha trộn giữa Prakrit và saỵdhyābhāṣā,
"ngôn ngữ ám chỉ", cả hai loại ngôn ngữ này đều khó đọc và khó
hiểu. Việc sử dụng tiếng Phạn cổ điển cho thấy đây là sản phẩm
của một cộng đồng tu viện trí thức hơn là soạn tác của một cá
nhân siddha nào. Nó đưa vào những yếu tố chính trị và chiêm tinh
không thấy có trong những tác phẩm trước, ví dụ, sự tổng hợp
việc thờ phượng các vị thần Phật giáo và Ấn giáo được quan niệm
như là ngăn chặn các cuộc xâm lăng Hồi giáo.
Các tác phẩm của Mật Tông th́ nhiều vô kể.
Mỗi bản văn riêng biệt đều được
gọi là một tantra, tương đương với Sūtra, có nghĩa là "sợi chỉ,
xâu chuỗi các lời dạy", và những kinh cổ xưa nhất được gán cho
Phật Thích Ca Mâu Ni. V́ thế các kinh này được coi là lời của
Phật, và được đưa vào chung với các kinh Sūtra trong các sưu tập
lời dạy của Phật của Tây Tạng và Trung Hoa. Kinh điển Tây
Tạng chứa những bản dịch của gần năm trăm tantra và hơn hai ngàn
b́nh luận về các tantra này. Phần lớn có liên quan đến những lời
hướng dẫn việc thực hiện các nghi lễ và thiền định tinh vi. Về
sau các tantra của Tây Tạng đă được hệ thống hóa thành bốn loại
tantra: tantra kriyā, "các kinh về hành động"; tantra caryā,
"các kinh về giới luật"; tantra yoga, "các kinh về việc phối
hợp"; và tantra anuttarayora, "các kinh tối hậu"
Các xâu chuỗi lời dạy kriya này tạo thành
một phạm loại bản văn Kinh Phật rộng xuất hiện vào khoảng giữa
thế kỷ thứ hai và thứ sáu sau CN. Các bản văn này gồm cả một số
xâu chuỗi (tantras) rất cổ và là những bản văn đầu tiên được
dịch sang tiếng Trung Hoa (từ thế kỷ thứ III trở về trước. thí
dụ như Đại Vân Thỉnh Vũ Kinh (Mahamegha Sutra) (có từ trước năm
439 sau CN.) Các xâu chuỗi lời dạy kriya – cụ thể như Đại vân
thỉnh vũ Kinh (Mahamegha Sutra), chỉ liên quan đến việc cầu mưa
gió mà thôi - không giống như các loại xâu chuỗi lời dạy c̣n
lại, chủ yếu thuộc dạng công cụ, chỉ được dành riêng dùng cho
những mục tiêu trần tục mà thôi. Do bản chất phi thần học, các
xâu chuỗi kriya không thể được thay thế bằng một số các xâu
chuỗi sau này. Chúng được phân bổ nơi bốn kulas một, hay là bốn
'gia đ́nh' là kula như lai, kula hoa sen, kula kim cương và kula
thời gian, và mỗi kula đó tập trung lại để thờ tự một số đông
các Phật nhân và bồ tát hay các vị thần thánh. Rất nhiều kula
như vậy đều dựa trên các Mật chú (dharanis) trong số này phải kể
đến các Kinh Aryamanjusrimulakalpa, Kinh Subahupariprccha, và
Kinh Aparimitayurjnadrdayadharani, song song với nhiều kinh khác
nữa.
Các xâu chuỗi lời dạy cariya tạo thành một loại nhỏ các bản văn
Kinh Phật rất có thể đă xuất hiện từ thế kỷ thứ VI trở về trước.
gồm có Tantra Mahavairocanabhisambodhi (c.600) và một số bản văn
Kinh Phật phụ khác nữa. V́ là một loại bản văn, chính v́ thế
tantra này hầu như hoàn toàn tập trung vào việc thờ tự Phật
Tỳ-Lư-Xá-Na (Vairocana). Cho dù cũng có liên quan đến việc đạt
được các thành tựu (siddhis), hay các quyền lực trần thế, không
giống như các kriya tantras, tuy vậy các thành tựu này được đạt
đến thông qua một qui tŕnh mường tượng đến chính ḿnh như là
một Phật Tỳ-Lư-Xá-Na (Vairocana).
Các xâu chuỗi lời dạy yoga tập trung nơi Tỳ-Lư-Xá-Na (Vairocana)
cũng giống như vậy, và kể cả tantra Sarvatathagatatavasamgraha
(c.700). Tantra Sarvadurgatiparisodhana và Tantra
Manjusrinamasamgiti cũng phản ánh một việc thờ tự đối với vị Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi. Cùng với các tantra Cariya cả hai tập hợp
lại thành nền tảng các trường phái Mật Tông Shingon và Mật Tông
Nhật Bản.
Các phân
loại thứ tư do những người Tây Tạng thực hiện, trong đó loại
cuối cùng là tantra Vô thượng, h́nh như đă được áp đặt vào một
thực tiễn phức tạp hơn đă tồn tại ở Ấn Độ (159).
Tantra
này hoà nhập vào ít nhất hai loại tantra, mà theo nguồn gốc xuất
phát rơ ràng ta thấy cả hai như đă choán chỗ và thay thế một
cách liên tục các tantras trước đó. Loại đầu tiên có các tantras
yogottara, hay c̣n gọi là các tantras hợp nhất cao cấp hơn' cũng
được mô tả như là 'các tantra thân phụ' hay tiếng Pàli gọi là
upaya tantras, các tantra này chỉ liên quan đến chủ yếu đến việc
thờ tự Phật Aksobhya và hôn thê của ngài là bồ tát Mamaki, sử
dụng đến tưởng tượng và nghi thức giao cấu. Việc thực hành các
xâu chuỗi lời dạy yogattara, và nhiều tantras tiếp theo đó, được
mô tả thuộc loại phi nhị nguyên, hiểu theo nghĩa các tantra này
bắt buộc phải có tính ưu việt có cân nhắc cẩn thận đối với các
thông lệ xă hội và tôn giáo liên quan đến những đặc tính nước
đôi được phép hay cấm cản thực hiện đó. Gồm có cả các tantra
Guhyasamaja có từ thế kỷ thứ VIII.
Có một loạt các tantras khác thế chỗ cho Tantras Yogottara, xuất
hiện vào cuối thế kỷ thứ VIII, tự cho là đối nghịch lại với các
'tantra mẹ' hay là tantra prajna. Những tantras này vẫn qui tụ
vào việc thờ cúng Bồ Tát Aksobhya, nhưng Bồ tát này lại được
sùng bái đặc biệt dưới dạng tức giận (gọi là herukas) đối với
vác phu thê, và được đi kèm theo với hàng loạt đoàn tuỳ tùng gọi
là Đồ-cát-ni (dakinis). Vị Bồ Tát này thường được thấy xuất hiện
nơi giàn hoả thiêu. Nh́n chung các nhân vật nữ giới thường cũng
quan trọng như các nhân vật nam giới trong các tantra này, nếu
ta không muốn nói là có phần hơn nữa là đàng khác, và điều này
được phản ánh trong việc sử dụng các tên gọi thuộc loại này đó
là: yogini tantra. Các tantra này cũng được gọi với tên là
yoganuttara- hay là các tantra yoganiruttara, có nghĩa là 'các
tantra hoà hợp tuyệt đối'. Tantra đầu tiên thuộc loại này có tên
là tantra Samvara, được dịch sang tiếng Tây Tạng vào thế kỷ thứ
VIII. Một số khác thuộc loại này, như Tantra Hevajra. Tantra
Samvarodaya, và Tantra Candamatharosana. H́nh như mới thấy xuất
hiện vào thế kỷ thứ X. Tantra Candamatharosana (xuất hiện ở thế
kỷ thứ XI) đôi khi được xếp vào loại tantra advaya hay
tantra'phi kép' đă thế chỗ cho toàn bộ những loại tantra trước
đó.
Những nét tương đồng giữa các nhân vật
trong tantra yogini và các nhân vật trong tantra Saivite đă được
nhận ra từ rất lâu, nhưng điều này chỉ được xác minh gần đây
thôi đó là chắc chắn một số tantra yogini đă được sao chép lại
một số tantra Saivite và một nhà biên soạn Phật tử (160) đă sửa
chữa lại đôi chút cho hợp với những mục tiêu Phật giáo. Chứng cớ
bản văn này được củng cố bằng những nét tương đồng rất quen
thuộc nơi các nghi thức và cách mô tả bằng tranh ảnh. Không muốn
đề cập chi tiết đến một tantra cao cấp hơn lại mang đặc tính phi
Phật giáo. V́ ta luôn thấy một phần truyền thống Phật giáo có
liên quan chặt chẽ với các vị thần linh xuất phát nơi truyền
thống các tôn giáo khác. Và các vị thần linh này đă được biến
đổi đôi chút để bổ sung thêm hay nhằm phục vụ những mục đích
thần học trong Phật giáo.
Do việc hệ thống hóa sau này, bốn loại tantra trên đây đă được
coi là tạo thành một bậc thang để người hành đạo tiến lên từng
bước. Việc gia nhập và thực hành tantra luôn luôn phải có một sự
khai tâm bởi một vị thầy chuyên môn. Các sadhanas, bài hướng dẫn
để h́nh dung ra một nhân vật, thường bao gồm các yếu tố của cả
Phật giáo ban đầu và việc thực hành Đại Thừa, trong đó có thể kể
đến brahma viharas, "trú xứ của Phạm Thiên", Quy y Tam Bảo, xưng
thú tội lỗi, lời thề của Bồ tát, vun trồng quả giác ngộ, và việc
chuyển nhượng các công đức. (161)
Phật giáo Tantra
được truyền vào Tây Tạng, đặc biệt sau sự sụp đổ của Phật giáo
miền Bắc Ấn Độ trong cuộc xâm lăng Hồi giáo, và tại đó nó đă
được người Tây Tạng chấp nhận. Tuy được truyền vào Trung
Hoa từ đầu thế kỷ VIII, nhưng nó không phát triển được tại đây,
v́ người Trung Hoa không thể chấp nhận nội dung nhục dục trong
các tantra. Ngược lại, việc thực hành Tantra có một chỗ đứng
vững vàng ở Nhật, tại đây nó phát triển dưới danh nghĩa Trường
phái Mật ngữ./.
Thực hiện: Ngọc Liên