![]()
![]()
![]()
![]()
Sư người Tiền Đường, họ Vương, hiệu Diên Thọ, tự Sung Huyền. Vào
thời Ngũ Đại, sư làm quan giữ kho, lấy tiền của quan quân mua
chim cá phóng sanh, nên bị xét xử tử hình. Sắp đến giờ hành hình
mà thần sắc của sư vẫn không biến đổi. Trước tinh thần vô uý của
sư, Ngô Việt Vương rất cảm phục nên phóng thích.
Sau đó sư xuất gia, nương thiền sư Thuý Nham tu học, kế đến tham
chiếu với Thiền Quốc sư. Sư từng tinh cần miên mật hành Pháp hoa
sám hai mươi mốt ngày, mộng thấy đức Bồ-tát Quán Thế Âm dùng cam
lồ rưới vào miệng, liền được biện tài vô ngại. Sư đã trước tác
Tông cảnh lục, Vạn thiện đồng qui tập … đều nói về tông chỉ Tịnh
độ.
Năm Kiến Long thứ hai, đời nhà Tống, vua Trung Ý thỉnh sư trụ
trì chùa Vĩnh Minh. Sư lập thời khoá công phu thật miên mật, ban
ngày làm trăm lẻ tám việc, tối đến lên một ngọn núi gần chùa
niệm Phật, tiếng niệm Phật hoà cùng với tiếng nhạc trời trổi
trên hư không lúc trầm lúc bỗng, mọi người ở đây ai cũng cảm
phục. Sư ở chùa Vĩnh Minh mười lăm năm, độ được một ngàn bảy
trăm đệ tử xuất gia. Vào Thiên Đài, sư truyền giới cho hơn vạn
người, thường cùng bảy chúng thọ Bồ-tát giới, chiều tối thí thực
cho các loài quỉ thần, và thường mua chim, cá … phóng sanh. Sư
hành đạo cả sáu thời, trọn đời đã tụng một vạn ba ngàn bộ kinh
Pháp hoa.
Niên hiệu Khai Bảo thứ tám, hôm ấy trời mát diệu, sư đốt hương
cúng dường Tam bảo, dạy đại chúng xong, ngồi kiết già viên tịch,
thọ bảy mươi hai tuổi.
Cho đến nay, tư tưởng chủ đạo Thiền Tịnh song tu của sư vẫn được
mọi người cung kính hành trì. Như trong Thiền tịnh tứ liệu giản
nói:
Có Thiền, không Tịnh độ
Mười người, chín người lạc
Khi âm cảnh hiện ra
Liền phải đi theo nó.
Không Thiền, có Tịnh độ
Vạn người tu đồmg thành
Thấy được đức Di-đà
Lo gì không khai ngộ.
Có Thiền, có Tịnh độ
Giống như hổ thêm sừng
Hiện tại làm thầy người
Tương lai làm Phật, Tổ.
Không Thiền, không Tịnh độ
Đời đời nằm giường sắt
Kiếp kiếp ôm trụ đồng
Chẳng có nơi nương tựa.
Ngày nay, đọc lại bài kệ này, chúng ta có thể tưởng tượng được
biện tài vô ngại của sư thuyết pháp, cảnh tỉnh bốn chúng thời
ấy.
Lại trong Tứ liệu giản nói: “Xét hai đường luân hồi thiện ác,
quả báo khổ vui đều do ba nghiệp gây tạo, bốn duyên sanh ra, sáu
nhân thành hình, năm quả thu nhiếp. Nếu khởi một niệm sân hận,
tà dâm thì đó là nghiệp địa ngục. Nếu khởi một niệm tham lam
không thí xả thì đó là nghiệp ngạ quỉ. Nếu khởi một niệm ngu si
ám chướng thì đó là nghiệp súc sanh. Nếu khởi một niệm cống cao
ngã mạn thì đó là nghiệp A-tu-la. Nếu thọ trì năm giới thì đó là
nghiệp làm người. Nếu chuyên tu mười điều thiện thì đó là nghiệp
làm trời. Nếu chứng ngộ Nhân không thì đó là nghiệp Thanh Văn.
Nếu thấu triệt lí duyên sanh thì đó là nghiệp Duyên Giác. Nếu
chuyên tu sáu độ thì đó là nghiệp Bồ-tát. Nếu hành từ tâm bình
đẳng thì đó là nghiệp của Phật. Nếu tâm an tĩnh thì hóa sanh cõi
tịnh, ở lầu đài cung điện bảy báu, ngồi toà sen hương thơm ngào
ngạt. Nếu tâm nhơ nhiễm thì sanh vào cõi cấu uế, hầm hố gò đồi.
Tất cả những kết quả này đều biến chuyển theo nguyên lí duyên
sanh tự nhiên bình đẳng. Chính vì ngoài nguồn tự tâm ra, không
có một thể nào khác, nên muốn được quả an tịnh thì chỉ có cách
tạo nhân thanh tịnh.”
Sư giảng nói lưu loát, kiến giải tinh thâm tột đỉnh, những tác
phẩm của sư có giá trị bất hủ, đúng là một bậc học Phật trí đức
viên dung, tài hoa trước thuật./.
Thực hiện:
Ngọc Liên