Sử Phật Giáo

NGÔN HẠNH CAO ĐẸP

CỦA MƯỜI BA VỊ TỔ LIÊN TÔNG.

 ĐẠI SƯ TRIỆT NGỘ

Tổ Liên tông thứ mười hai - đời Thanh

Sư họ Mă, tự Triệt Ngộ, hiệu Mộng Đông, người huyện Phong Nhuận. Thuở thiếu thời, sư đă thông thuộc kinh sử. Nhân nhờ trọng bệnh, sư liễu ngộ huyễn chất vô thường, nên phát nguyện xuất gia.
Sau khi bệnh thuyên giảm, sư đến huyện Pḥng Sơn xin thế phát với lăo túc Vinh Tŕ ở am Tam Thánh. Sư liễu đạt thông suốt tất cả Thiền, Giáo, hai tông Tánh, Tướng, yếu chỉ mười thừa, tam quán. Sau đó, sư trụ tŕ chùa Vạn Thọ ở Bắc Kinh, hướng dẫn chúng tham thiền, khích lệ sách tấn hàng hậu học tu tập một cách nhiệt t́nh không mệt mỏi suốt mười bốn năm. Thanh danh sư vang khắp cả từ Bắc chí Nam.
Về tuổi xế chiều, sư ở núi Hồng Loa, mọi người qui tụ về rất đông, tạo thành đạo tràng Liên tông chuyên tu Tịnh nghiệp. Sư khai đạo giảng pháp như nước chảy mây bay.
Mùa xuân năm Gia Khánh thứ mười lăm, biết nhân duyên giáo hoá đă măn, sư đoan tọa niệm Phật, khi ấy đức Phật đích thân hiện đến tiếp dẫn, đại chúng đều ngửi thấy mùi hương lạ phảng phất khắp pḥng; sau khi hoả táng, thu được hơn trăm hạt xá-lợi.

Sư để lại một số tác phẩm quí như: Mộng đông thiền sư tập, Bổn cảng (Hương Cảng) đông lâm niệm phật đường hữu san bổn … Nay lược nêu một vài câu pháp ngữ vàng ngọc của sư như sau:

1. Một là thật v́ sanh tử mà phát tâm Bồ-đề, đó là học đạo chơn chánh. Hai là lấy tín nguyện thâm sâu, tŕ danh hiệu Phật làm chánh tông Tịnh độ. Ba là lấy sự nhiếp tâm chuyên chú niệm làm phương tiện hạ thủ công phu. Bốn là lấy việc chiết phục phiền năo đang hiện hành làm sự tu tâm chính yếu. Năm là lấy sự chuyên tŕ bốn luật nghi chính yếu làm chỗ căn bản nhập đạo. Sáu là lấy các pháp khổ hạnh làm việc trợ duyên tu đạo. Bảy là lấy sự nhất tâm bất loạn làm chỗ quay về của Tịnh độ. Tám là lấy sự trông thấy các linh ảnh tốt đẹp làm chỗ nghiệm chứng văng sanh. Tám điều trên đây, người tu Tịnh nghiệp không thể không biết.

2. Một câu A-di-đà Phật là thuốc A-già-đà, không có bệnh nào mà không trị lành; là vua ngọc châu như ư, không có nguyện nào mà không được thoả măn; là thuyền Từ vượt qua biển khổ sanh tử, không có khổ nào mà không được độ thoát; là đèn trí tuệ soi sáng vô minh tăm tối, không có bóng tối nào mà không bị chiếu tan. Chỉ cần một lần nghe qua câu Phật hiệu là đă có duyên, chỉ cần một niệm tín tâm liền có thể tương ưng với Phật. Tín tâm chơn thật, lúc nào cũng nguyện mong được văng sanh. Trong tâm thường trụ hai pháp tín-nguyện này, như trung thần phụng mạng mật chỉ của minh quân, như đứa con hiếu thảo vâng lời đấng cha lành, nhớ nghĩ không quên làm một việc vô cùng trọng yếu, th́ cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, yên tĩnh hay náo nhiệt, thảnh thơi hay bận rộn, niệm nhiều hay niệm ít, nói chung đều là chánh nhân văng sanh. Chỉ sợ không nhiệt tâm thực hành mà thôi. Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta măi ở trong ṿng sanh tử luân hồi, lẽ nào không phát tâm cầu xuất li, tu hạnh hướng đạo! V́ chạy theo sự biếng nhác thoái hoá cho nên chúng ta mới ở măi trong biển sanh tử, chịu vô lượng khổ năo. Nay được nghe pháp môn tŕ danh giản yếu, nhưng nếu vẫn đi theo lối cũ bại hoại, không có tâm huyết chí khí th́ sao có thể gọi là bậc Đại Sĩ đệ nhất được!

3. Niệm Phật nên sanh bốn loại tâm. Những ǵ là bốn? Một là nên sanh tâm hổ thẹn, sám hối những nghiệp từ vô thỉ đến nay ḿnh đă tạo. Hai là nên sanh tâm vui thích khi được nghe pháp môn này. Ba là tự thương xót ḿnh, v́ nghiệp sâu dầy nên không gặp được pháp môn này sớm. Bốn là nên sanh tâm cảm kích ḷng từ bi như thị của Phật. Trong bốn loại tâm này, chỉ cần có một tâm th́ cũng có thể thành tựu Tịnh nghiệp. Niệm Phật cần phải dài lâu liên tục, không được gián đoạn. Gián đoạn th́ Tịnh nghiệp không thể thành tựu. Dài lâu phải nên dũng mănh, không được biếng nhác. Biếng nhác th́ Tịnh nghiệp không thể thành. Dài lâu mà không dũng mănh tức là thối đọa. Dũng mănh mà không dài lâu tức là không tiến bộ.

Những lời huấn thị trên của sư không ĺa giáo pháp, v́ khổ tâm của chúng sanh mà ngài hết ḷng dạy bảo như vậy./.

Thực hiện: Ngọc Liên

Sử Phật Giáo