.
ĐẠI SƯ NGẪU ÍCH - Tổ Liên tông thứ chín - đời Minh
Sư họ Chung, người huyện Ngô, hiệu Trí Húc. Thuở nhỏ, sư chuyên
học Nho, thề triệt tiêu Phật, Lăo, nên làm mười bộ luận nhằm
công kích Phật, Lăo.
Về sau, nhân đọc tập Trúc song tuỳ bút và Tự tri lục của ngài
Châu Hoành, sư liền tỉnh ngộ, đốt hết các bộ luận mà ḿnh trước
tác bài xích Phật giáo.
Năm hai mươi bốn tuổi, sư xuất gia, nghe ngài Cổ Đức giảng luận
Duy thức tại chùa Vân Thê, sau đó lên núi tọa thiền.
Năm hai mươi sáu tuổi, sư thọ Bồ-tát giới và biên duyệt Tạng
luật.
Năm hai mươi tám tuổi, sư nhiễm bệnh, quyết chí cầu sanh Tịnh
độ, lấy Thiên thai làm tông.
Năm Sùng Trinh thứ tư, sư đi du hoá khắp nơi hoằng truyền Tịnh
nghiệp, sau nằm dưỡng bệnh tại núi Linh Phong. Tại đây, sư trước
tác bài văn phát nguyện và kệ cầu sanh Tịnh độ. Sang năm sau, sư
thị tịch, thọ năm mươi bảy tuổi.
Sanh b́nh, sư lấy việc xem kinh tạng, trước thuật làm sự nghiệp,
đă để lại cho đời những tác phẩm nổi tiếng như: Kinh A-di-đà yếu
giải 1 quyển, Duyệt tạng tri luật 44 quyển, Bồ-tát giới bổn tiên
yếu 1 quyển, Pháp hoa kinh huyền nghĩa tiết yếu 2 quyển. Ngoài
ra, sư c̣n phát huy, trước tác hơn mười bộ kinh luận, dùng văn
tự Bát-nhă làm công cụ độ người, như nước trăm sông đổ về biển
cả. Bút pháp của sư trang nhă sâu sắc, đúng là một bậc tài đức
vẹn toàn.
Sáu pháp Ba-la-mật là con đường mà người con Phật phải đi qua,
được sư khai thị như sau:
- Chơn thật niệm Phật, buông xả
thân tâm thế giới, tức là đại bố thí.
- Chơn thật niệm Phật, không sanh khởi tham sân si, tức là đại
tŕ giới.
- Chơn thật niệm Phật, không chấp nhơn ngă thị phi, tức là đại
nhẫn nhục.
- Chơn thật niệm Phật, liên tục không để gián đoạn, tức là đại
tinh tấn.
- Chơn thật niệm Phật, không tán loạn vọng tưởng, tức là đại
thiền định.
- Chơn thật niệm Phật, rơ biết, không bị các duyên làm mê hoặc,
tức là đại trí tuệ.
Chúng ta thử tự kiểm điểm, nếu đối với thế giới thân tâm mà chưa
buông xả, niệm tham sân si c̣n hiện khởi, tâm c̣n đeo mang nhân
ngă thị phi, vọng tưởng lăng xăng chưa trừ diệt, tâm chí mê hoặc
rẽ theo pháp khác th́ không thể gọi là người chơn thật niệm
Phật.
Sư lại dạy: Người tín
nguyện tŕ danh, nếu nghiệp chướng tiêu trừ, mang nghiệp văng
sanh th́ liền sanh cơi Phàm thánh đồng cư tịnh độ. Người tín
nguyện tŕ danh, nếu đoạn tận kiến hoặc, tư hoặc mà văng sanh
th́ liền sanh cơi Phương tiện hữu dư tịnh độ. Người tín nguyện
tŕ danh, nếu phá trừ một phần vô minh mà văng sanh th́ liền
sanh cơi Thật báo trang nghiêm tịnh độ. Người tín nguyện tŕ
danh, nếu tŕ đến chỗ cứu cánh, đoạn tận vô minh mà văng sanh
th́ liền sanh cơi Thường tịch quang tịnh độ. Cho nên tŕ danh
niệm Phật có khả năng sanh lên bốn cơi, thật chính xác không
sai.
Ngài lại dạy: Pháp môn
Tịnh độ không có ǵ ḱ lạ, chủ yếu chỉ là tin sâu, nguyện tha
thiết và nổ lực hành tŕ. Chỉ e rằng, người mới có được chút ít
niềm tin cao quí và sự an ổn, rồi thủ đắc mà buông bỏ niệm. Nếu
ngày đêm quyết định lấy mười vạn, hoặïc ba vạn hay năm vạn niệm
làm tiêu chuẩn, niệm không thiếu, thề nguyện suốt đời không thay
đổi mà khi lâm chung không được văng sanh th́ ba đời chư Phật
thành vọng ngữ. Một khi đă văng sanh th́ vĩnh viễn không thối
chuyển, thấu rơ được tất cả các pháp. Phải tránh lối tu theo
kiểu hôm nay Trương tam, ngày mai Lí tứ (người tu lúc này lúc
nọ) …. Tu hành như thế làm sao biết được tŕ danh hiêïu A-di-đà
Phật đến chỗ cứu cánh th́ ba tạng, mười hai bộ loại kinh, tất cả
giáo lí đều ở trong này. Một ngàn bảy trăm công án thiền cũng
nằm trong này. Ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, ba tụ tịnh
giới cũng ở trong đây.
Sự giải thích cụ thể, rơ ràng của sư không những đủ làm cho mắt
tâm của chúng sanh thông suốt, mà c̣n mặc nhiên khế với tâm
Phật.