Sử Phật Giáo

NGÔN HẠNH CAO ĐẸP

CỦA MƯỜI BA VỊ TỔ LIÊN TÔNG.      

13. ĐẠI SƯ ẤN QUANG

Tổ Liên tông thứ mười ba - Dân Quốc

Sư họ Triệu, người Thiểm Tây, thuở nhỏ đọc sách Nho nên lớn lên dần dần sa vào ṿng soáy tư tưởng huỷ báng Phật pháp sai lầm của Tŕnh Chu (Tŕnh Hạo, Tŕnh Di, Chu Hi), Hàn Dũ và Âu Dương Tu.

Về sau, do bị bệnh mà sư giác ngộ. Năm hai mươi mốt tuổi, sư đến đănh lễ, xin xuất gia với Hoà thượng Đạo Thuần ở chùa Liên Hoa Sơn Động, núi Chung Nam. Tại đây, sư chuyên cần nghiên cứu kinh điển, hiểu sâu thông suốt pháp môn Tịnh độ, nhiếp hoá hết thảy các căn cơ, tự gánh lấy trách nhiệm hoằng dương Phật pháp phổ độ quần sanh. Sư đi du hoá khắp nơi, có lúc ở Chung Nam, Hồng Loa, Phổ Đà …

Năm Dân Quốc thứ mười chín, sư đến Tô Châu sáng lập đạo tràng Tịnh Độ Linh Nham. V́ thấy chư Tăng có người không như pháp, nên sư phát nguyện không trụ tŕ chùa viện, không thu đồ chúng, không hoá duyên, cũng không mở hội niệm Phật. Thường ngày, sư không giao tiếp với hàng cư sĩ hay quan quyền, không cười hay nói, không phô trương công việc, không trước tác kinh sách hay sám hối công đức, mà chí khí sư vẫn cao, hạnh vẫn tinh khiết.

Có những hôm, sư đóng cửa tịnh thất để viết thư phúc đáp, trả lời những điều vấn nạn cho bốn chúng học Phật. Bằng ngôn ngữ tinh tế, ư nghĩa sâu xa, sư đă để lại trăm vạn lời tốt đẹp cho hàng hậu học. Nhờ vậy, ngày nay chúng ta có tác phẩm Ấn Quang đại sư văn sao hành thế, với lời văn và ư nghĩa biểu đạt chơn thành, dạy người sống theo luân thường đạo lí, lấy tịnh tâm làm gốc, niệm Phật cầu sanh Tây phương làm mục đích. Mỗi mỗi lời đều hợp với ư Phật ư Tổ, khéo thích hợp tuỳ theo từng loại căn cơ, dù cho hạng sơ cơ đọc tụng cũng có thể thông hiểu. Pháp ngữ của sư lưu truyền khắp nơi, ấn vào tâm khảm con người.

Cuối năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, tại Linh Nham, Sư đoan tọa niệm Phật thác hoá, thọ tám mươi tuổi.

Sư thường dạy: V́ pháp môn Tịnh độ chính là pháp môn Viên đốn đệ nhất, trên thành Phật đạo, dưới cứu độ chúng sanh của mười phương ba đời chư Phật, nên phải hết ḷng tán thán hoằng truyền.

Lại trong Tập hoài hạnh thư, sư viết: Pháp môn Tịnh độ chính là pháp môn cực khó mà cũng cực dễ. Nói nó khó chính là chỗ người đại triệt đại ngộ, thâm nhập kinh tạng c̣n không tin nỗi. Nói nó dễ chính là chỗ kẻ tầm thường ngu dốt cũng thực hành được, nếu chí thành nổ lực niệm th́ khi lâm chung liền thấy các tướng tôt đẹp xuất hiện, có khả năng văng sanh Tây phương. Đối với pháp môn này, người đại triệt đại ngộ, thông hiểu kinh luận sâu xa c̣n chối bỏ, không hướng tâm đến. V́ một bên chuyên nương vào tự lực, bỏ đi Phật lực. C̣n một bên chuyên nương vào Phật lực, nhờ Phật lực để phát huy tự lực. V́ biết khế hợp ba pháp: Phật lực, pháp lực và lực sẵn có của tự tâm nên có khả năng siêu phàm nhập Thánh, liễu thoát sanh tử. Tối trọng yếu của pháp môn này chính là tín, hạnh, nguyện. Có tín, nguyện th́ chắc chắn đó là người tu hành chơn chánh. Đă tu tŕ th́ nhất định được văng sanh.

Lại trong Ấn thí cực lạc viên tự đă tán thán sự thù thắng của pháp môn Tịnh độ: Ôi, thật ḱ diệu! Giáo của pháp môn Tịnh độ chỉ thẳng tâm người, tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật. Vậy mà c̣n không khoa trương sự thù thắng của nó.

Người niệm Phật, niệm niệm không gián đoạn, trải qua số kiếp, tu chứng cần phải phát huy tính cao siêu của nó. Pháp môn này phổ cập cho mọi căn cơ cao thấp, thu nhiếp tất cả các tông như Luật, Thiền, Giáo … Như khi trời mưa, tất cả vạn vật đều được thắm nhuần, như trăm sông cùng chảy ra đại dương. Pháp môn này cũng lại như vậy, trùm khắp hết thảy các pháp đốn, tiệm, không một pháp nào mà không lưu xuất từ pháp giới này. Tất cả các hạnh quyền thật của Đại, Tiểu thừa, không có một pháp nào mà không qui về pháp giới này. Không đoạn hoặc nghiệp mà được dự vào hàng Bổ xứ, tức ngay đời này viên măn Bồ-đề. Chín cơi chúng sanh ĺa pháp môn này th́ không thể viên thành phật đạo. Mười phương chư Phật bỏ pháp môn này th́ không thể lấy ǵ làm lợi ích cho quần sanh. V́ vậy, hải chúng của Hoa nghiêm hết ḷng tuân theo vua mười đại nguyện. Một khi xưng niệm Pháp hoa th́ liền chứng được thật tướng các pháp. Hạnh phương tiện tối thắng, ngài Mă Minh nêu bày trong Khởi tín. Đạo dễ hành và mau thành, Long Thọ diễn bày trong T́-bà-sa. Bậc đại trí Long Thọ được xem là hậu thân của đức Thích Ca, nói Thập nghi luận, mà ư chuyên hướng về Tây phương. Vĩnh Minh được xem là Di-đà thị hiện, trước tác Tứ liệu giản, trọn đời niệm Phật. Hết thảy năm tánh, ba thừa đều chứng chơn thường. Trên thánh dưới phàm đều qua bờ giác. Nên được chín cơi quay về, mười phương chư phật tán thán. Ngàn kinh đồng nêu bày, vạn luận đều tuyên dương.

Thành thật mà nói, một khi bàn đến chỗ cực điểm của giáo th́ pháp môn này là đại giáo vô thượng nhất thừa. Song, một người phàm thường muốn đạt được nó th́ trước hết phải trồng sâu gốc luân thường đạo lí, như sách Đinh Phúc Bảo nói: “Người học Phật trước hết phải hoàn thiện nhơn đạo, sau đó mới có thể hướng đến chỗ cao hơn”. V́ vậy, khi bàn về tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, Phật giáo luôn dạy con người trước phải hoàn thiện nhân cách đạo làm người, như dạy người cha nên nghiêm từ, người con phải hiếu thuận … khiến cho họ hoàn thiện nhơn đạo, nhiên hậu mới dạy tu pháp xuất thế. Thí như muốn xây nhà cao nhiều tầng, trước tiên nhất định phải làm nền móng kiên cố, khai thông đường nước, sau đó mới có thể xây dựng các tầng lầu cao vững chắc, mà dài lâu không bị sụp đổ. Nếu làm nền móng không kiên cố th́ chắc chắn xây chưa xong đă bị sụp đổ. Như khi xưa, Bạch Cư Dị hỏi thiền sư Ô Sào: “Thế nào là đại ư Phật pháp?”

Sư đáp: “Chớ làm các điều ác, vâng làm các điều lành”.

Cho nên, người học Phật pháp trước phải tự khắc kỷ, răn cấm ḿnh. V́ tất cả các việc đều từ trong tâm chơn thật lưu xuất. Người như vậy mới có thể gọi là Phật tử chơn chánh. Nếu tâm người ấy xấu ác mà muốn mượn Phật pháp để tránh nghiệp tội, th́ có khác nào người uống thuốc độc, sau khi uống xong, muốn thân thể ḿnh tráng kiện, mạnh khỏe trường thọ, có thể được sao?

Chơn đế của đức Như Lai giảng nói được Tổ Tổ truyền thừa, cho đến nay hương vị của nó vẫn c̣n đậm đà không phai. Đại sư Ấn Quang là người ǵn giữ những lời di giáo ấy, ngài măi măi ghi nhớ, không thay đổi quan điểm, thật đúng là bậc long tượng của Phật môn!

II. Kết luận

Từ trước đến nay, chúng ta măi trôi dạt trong biển sanh tử, song vượt qua ba cơi cũng là chuyện thường vậy! Do mê vọng chẳng biết chánh đạo, tạo tác nghiệp ác nên luân hồi trong các cơi, chẳng biết khi nào thoát khỏi.

May mắn thay cho chúng ta! Với ḷng từ bi hoằng nguyện, đức Phật đă khai mở pháp môn Tịnh độ thù thắng, phù hợp cho mọi căn cơ cao thấp. Chỉ cần dựa vào những lời dạy ấy mà tu tŕ th́ tất cả đều có thể nương nhờ từ lực của Ngài, một đời văng sanh Tây phương, thoát li sanh tử. Như thế, người tín, nguyện niệm Phật chắc chắn thu được lợi ích lớn, làm bậc Thánh hiền. Cho nên, một khi đă hướng về th́ chẳng uổng phí vậy.

Trong truyện Tịnh độ có nói: “Đức Phật A-di-đà cùng với hai vị Bồ-tát Quan Âm và Thế Chí cỡi thuyền đại nguyện, dạo biển sanh tử cứu vớt chúng sanh trong thế giới Ta bà này lên thuyền đại nguyện, đưa về Tây phương. Như vậy, nếu người ưa thích văng sanh th́ không thể không văng sanh.” Lời nói này thật đáng tin vậy.

Ngày nay, cuộc sống của con người nơi phố thị, suốt ngày khẩn trương bận rộn. Nương vào thời vận, người sống theo nghiệp có lúc tiến lúc thối; kẻ chân lấm tay bùn suốt ngày bôn ba, không có thời gian ngơi nghỉ, muốn gặp nhau cũng không phải dễ. Sống giữa cuộc đời bon chen, thật hạnh phúc thay cho những ai trông thấy điện Phật nằm thấp thoáng giữa lưng chừng núi, ẩn khuất trong sương mù; nếu đă gặp được pháp hội trang nghiêm như vậy, muốn tu học nhưng không biết bắt đầu từ đâu th́ có thể nương vào pháp môn phương tiện này, không đến nỗi tự cho là Phật pháp khó nghe.

Trải qua vô số kiếp, các bậc tông sư nghiêm tŕ tịnh giới, thân hành thực tiễn đủ để lưu truyền cho muôn đời sau, cứu chúng sanh khỏi biển khổ sanh tử. Lời nói và việc làm cao thượng của quí ngài tự nhiên uy nghi khả kính, hiện bày mô phạm cho hàng hậu học gắng sức tinh tấn noi theo.

Nay toát yếu lại hành trạng của các ngài, chỉ v́ muốn Phật pháp được lưu truyền ngày càng hưng thịnh./.

Thực hiện: Ngọc Liên
 

Sử Phật Giáo