


Tác phẩm thứ ba là bộ sách thuốc Nam Phương Gia Truyền gồm có 3 quyển do HT. Từ Huệ sưu tập, và cho in ấn vào năm 1988. Đây là một bộ sách thuốc ghi lại những bài thuốc Nam Phương Gia Truyền. Ở quyển thứ nhất, phần đầu tác giả viết về tiểu sử của 6 vị Tổ có công khai sáng ra ngành Y Học Cổ Truyền như: Thần Nông, Vua Huỳnh Đế, Thần Y Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh, sư Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lăng Ông; phần tiếp theo là các bài hướng dẫn phương pháp chẩn bệnh, xem mạch, các bộ mạch, những bài tánh dược của thuốc Nam, những vị thuốc phản khắc, phân loại tánh dược, và những toa thuốc căn bản. Đặc biệt trong quyển thứ nhất này trừ phần nói về tiểu sử các vị Tổ trong ngành Y và bài nói về bộ mạch, c̣n lại các bài phương pháp xem mạch cho đến hết quyển I tác giả đều viết theo lối văn vần, có khi dùng thể thất ngôn, có khi dùng thể lục bát để viết về những bài thuốc, vị cô đọng, dễ nhớ. Nội dung quyển thứ II và III là những bài thuốc chữa trị ngũ tạng, lục phủ (hay Nội Khoa và Ngoại Khoa của Y Học hiện đại), và những bài thuốc dân gian rất hay trong điều trị bệnh.
Như vậy, chúng ta thấy về mặt sáng tác của PGKS đều có một nét chung là mang đậm tính dân gian Nam Bộ. Với những thể văn vần, bằng thể thơ lục bát, thất ngôn,… tác giả đă tạo nên một nhịp cầu gần gũi, dễ cảm hóa người nông dân Nam Bộ. Nh́n chung bối cảnh xă hội thời ấy sự ra đời những tác phẩm của PGKS đă đánh dấu bước ngoặc lịch sử phát triển của PGKS, và đă đóng góp không ít trong sự nghiệp phát triển nền giáo lư Phật giáo nước nhà.
3- Về Mặt Giáo Dục Đạo Đức
Trong nội dung ở chương III.1, chúng ta đă thấy tư tưởng giáo lư của PGKS là tư tưởng giáo lư của Phật giáo chính thống, mà hệ tư tưởng giáo lư Phật giáo th́ yếu tố giáo dục đạo đức con người là yếu tố cơ bản hàng đầu của nền giáo lư này.
Theo quan điểm của PGKS th́ đạo đức cơ bản là tôn trọng quyền sống, b́nh đẳng giữa con người với con người, và giữa con người với loài vật. Không ai được xăm phạm, giết hại mạng sống của nhau; không được lấy của người khác không cho; không được tà dâm; không được nói dối và không được uống rưọu, sử dụng những chất kích thích làm mê loạn tâm trí. V́ những hành vi này đem đến khổ đau cho chính ḿnh và người khác. Do đó, để giáo dục đạo đức con người hoàn thiện trong Chơn Lư- Bài Học Cư Sĩ- trang 237, TS. Minh Đăng Quang viết:
“Một, không giết những loài sanh vật
Hai, không tham, trộm cắp của ai
Ba, không dâm tinh khiết nào phai
Bốn, không dối, sai ngoa kẻ khác
Năm, không uống rưọu say gian ác”.
Năm giới cấm ấy là năm giới cơ bản, quan trọng nhất trong toàn bộ giới luật của Phật giáo nói chung và PGKS nói riêng. Pháp luật hiện hành của xă hội Việt Nam cũng ngăn cấm mọi công dân cũng không được vi phạm năm điều giới trên nếu vi phạm th́ sẽ bị pháp luật nhà nướ trừng trị. Như vậy, có thể nói đây là những chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người. Con người không thể sống ngoài những phạm vi đạo đức ấy nếu ngược lại th́ sẽ bị xă hội đào thải. V́ thế, sự thành công hay thất bại trong cuộc sống một phần lớn tuỳ thuộc vào phẩm chất đạo đức của mỗi người. Cho nên, “hể thiếu đạo đức, th́ mọi sự đều thất bại” (Sđd). Nhưng để nhận thức giáo lư ấy đúng đắng chúng ta phải nhận thức như thế nào? Chúng ta hăy nghe tác giả của Chơn Lư nói: “Đời (sống) đạo đức là đời vô ngă, hể đạo đức th́ không có chi là ta và của ta v́ chơn lư đạo đức vũ trụ, vốn là vô thường, khổ năo không ta và không của ta” (Sđd). Như vậy, quan niệm đạo đức của tác giả là phải xây dựng đạo đức trên nền tảng nhận thức giáo lư vô ngă. Khi con người nhận thức được vô ngă sống trong vô ngă th́ sẽ không chấp thủ "ta và của ta", không c̣n đau khổ, hệ luỵ vào sự sanh diệt, vô thường của thế giới hiện tượng. V́ con người ấy đă hiểu bản chất của sự vật hiện tượng là duyên khởi sinh không có tồn tại măi, mà chúng luôn sinh diệt diệt sinh. Cho nên, bản chất của muôn loài vạn vật là duyên sinh vô ngă. Nếu đạo đức không được giáo dục trên nhận thức vô ngă này th́ khi chúng ta có hành vi đạo đức, làm một việc thiện mà bị người khác không đồng t́nh, phủ nhận th́ chúng ta dễ sinh buồn phiền, chống đối lại, lúc ấy ư nghĩa đạo đức đúng đắng không c̣n hiện hữu.
Giáo dục đạo đức đối với ĐS. Huệ Nhựt giá trị đích thực là giáo dục con người yêu thương, đoàn kết, tương thân tương ái nhau trong cuộc sống. V́ thế, trong Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn (I)- Sám Tâm Kinh- trang 54, Ngài viết:
"Cùng nhau chân thật yêu thương
Không hờn không giận không ươn yếu hèn
Cùng nhau ḷng thể ánh đèn
Sáng soi b́nh đẳng, nghèo hèn đừng chê..."
Yêu thương nhau người ta phải biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Trong cuộc sống
nghĩa cử cao đẹp nhất vẫn là hành vi giúp người khác trong cơn hoạn nạn.
Bố thí, giúp đỡ tha nhân
trong hoàn cảnh khó khăn là thể hiện ḷng từ bi, t́nh
thương yêu
đến với mọi người. Khi chúng ta thấy người ta thiếu thốn vật chất th́
ta giúp đỡ vật chất;
khi thấy người khác cần nghề nghiệp, cần kiến thức nếu có
khả năng th́ ta có thể dạy họ, đây là hành vi đạo đức thực tế. Cho nên, trong
giáo dục đạo đức con người Đại Sư dạy người ta phải biết bố thí, Ngài nói:
"Từ bi hỷ xả một khi
Tôi nguyền bố thí các nghi chí thành
Hoặc giữ tịnh giới thường hành
Tài thí pháp thí tâm hành thẳng ngay".
Phật Giáo quan niệm rằng giáo dục không chỉ có dùng ngôn ngữ (khẩu giáo) để hướng dẫn, tác động đến con người mà phải dùng cả đến hành động, việc làm (thân giáo) và những ư tưởng đẹp (ư giáo) trong việc làm giáo dục con người. V́ vậy, HT. Thiện Phước luôn luôn chú ư đến việc làm, hành động và chú ư đến những ư tưởng thánh thiện để giáo dục. Ngài luôn nêu cao tấm gương phụng sự nhân sinh, do đó Ngài thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ có đến 200 cô nhi, quả phụ, mở Phật Học Đường Tây Phương Bồng Đảo quy tụ được khoảng 300 Tăng Ni đến tu học. Hoà Thượng thực hiện tinh thần "Nhứt nhật bất tác, nhứt nhật bất thực" (nghĩa là một ngày không làm một ngày không ăn) của Tổ Bách Trượng, mở các ban Nông Thiền ở nhiều chùa, tịnh xá, khuyến khích Tăng chúng phát triển kinh tế tự túc của nhà chùa.
Như vậy, đối với giáo dục đạo đức con người HT. Thiện Phước chỉ tác động giáo dục tha nhân bằng hành động, việc làm lợi lạc cho nhân sinh; tư duy thánh thiện để cảm hoá mọi người. Cũng đồng quan niệm này là HT. Từ Huệ, người sáng lập KSTT. Từ khi thành lập KSTT đến lúc viên tịch, HT. xây dựng được 11 ngôi Tịnh Xá, trùng tu một ngôi chùa, thành lập nghĩa trang, xây dựng ḷ thiêu miễn phí, lập Hội Từ Thiện Tỉnh Mỹ Tho, mở pḥng thuốc nam chữa bệnh miển phí... . Nh́n những việc trên dẫu không có nhiều nhưng vẫn tác động đến chúng ta về nhân cách và phẩm hạnh của HT. Đây là tác động chân chánh.
Theo quan điểm của HT. Từ Huệ về giáo dục đạo đức con người ngoài việc giáo hoá họ trở thành người Phật tử, thọ Tam quy tŕ Ngũ giới, tu học giáo lư Phật giáo, mà thiết thực nhất là đền đáp bốn ân lớn. Con người ai cũng sinh ra và lớn lên phải mang nặng ân sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, thầy tổ dạy cho kiến thức, nghề nghiệp, chính phủ lo cho đất nước thanh b́nh, nhân dân trong mọi nghề nghiệp hoạt động sản xuất ta mới có được cuộc sống vật chất đầy đủ. Đó là bốn ân lớn trong quan hệ xă hội của con người mà những quan hệ ấy là những quan hệ đạo đức con người. V́ thế, giáo dục đạo đức con người chính là dạy họ biết đền đáp bốn ân này, hay nói cách khác là có thái độ ứng sử đúng đắn trong bốn mối quan hệ đó. Cho nên, trong lời Di Chúc Ngài viết:
"Một là ân Phật Tổ Thầy
Sanh thành minh tuệ vẹt màn vô minh
Hai là ân của Quốc Vương
Giữ cho đất nước thanh b́nh yên vui
Ba là ân của song thân
Thành nhân trưởng đại nên người chớ quên
Phải lo tế độ hàm linh
Cửu huyền thất tổ siêu sinh liên đài
Bốn là ân của đàn - na
Thuốc men cơm áo nuôi ta hằng ngày
Độ cho pháp giới muôn loài
Noăn, thai, thấp, hoá đồng về Tây Phương..."
Tóm lại, quan điểm giáo dục đạo đức cho con người như giữ ǵn năm giới, nhận thức đạo đức vô ngă, phát triển t́nh yêu thương con người, bố thí, lấy việc làm phụng sự nhân sinh làm tấm gương giáo dục, dạy đền đáp bốn ân,... của PGKS là thiết thực, tích cực trong cuộc sống. Những quan điểm giáo dục đạo đức này được thiết lập trên nền tảng của giáo lư Đạo Phật, mà đặc tính của giáo lư đạo Phật là "từ bi, trí tuệ". Do đó, những thành tựu trong giáo dục đạo đức của PGKS được xây dựng trên nền tảng của "Từ bi và Trí tuệ".
Thực hiện: Ánh Liên