T́m Hiểu Về Khất Sĩ

                                       Những Nét Văn Hóa Của Phật Giáo Khất Sĩ

 

 

 

Những Nét Văn Hóa Đặc Trưng Của Phật Giáo Khất Sĩ

 

 

 

 

    Sau Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn là tác phẩm Chơn Lư ra đời. Chơn Lư là bộ sách giáo lư do TS. Minh Đăng Quang sáng tác từ khi Ngài c̣n hành đạo thuyết pháp vào năm 1947 ở tỉnh Mỹ Tho, rồi dần dần sang các tỉnh Miềm Tây Nam Bộ. Những bài giảng pháp của Ngài từ năm 1947 đến 1954 đă được các đệ tử thu băng và ghi chép thành những quyển sách nhỏ. Sau này (1961) cho in xuất bản những quyển sách lớn bao gồm có 60 bài giáo lư, kinh Tam Bảo, và một quyển Luật Nghi Khất Sĩ (NXB- Thành Phố Hồ Chí Minh- 8- 1998) gồm có 12 bài viết về giới luật Phật giáo.

    Tác phẩm Chơn Lư hầu hết các bài được viết theo thế văn xuôi, tác giả dùng thế nghị luận để bàn bạc về các vấn đề nhân sinh quan, vũ trụ quan và giáo lư của Đạo Phật. Lời Văn sáng sủa giàu h́nh ảnh, lập luận logich. V́ Tác giả là người ở Miền TâyNam Bộ cho nên ngôn ngữ được dùng trong tác phẩm rất b́nh dân, mộc mạc như: sái trật, dơ dáy, tơi bời, lặng đặng (lận đận),... và dùng nhiều phương ngữ Nam Bộ như: xẩn bẩn, xào xáo, rủ ren, (là) vầy, Thấp thỏi,... . Điểm đặt biệt là chúng ta thấy ở hầu hết các bài viết trong Chơn Lư tác giả đều sử dụng nghệ thuật tu từ làm cho câu văn thêm bóng bẩy, hàm súc, gợi cho người đọc cảm giác hứng thú. Như phương pháp tu từ nhân hóa: cây ăn cỏ (Bài ăn Chay), con cá... có lễ phép, con lợn... có lễ giáo, con mèo... có lễ giáo (Bài Chánh Kiến); phép đối: có thấp..., có cao, kẻ dưới... người trên; nam hay nữ, đực hay cái (Bài Nam Và Nữ); khi ẩn khi hiện, khi có khi không, khi có khi mất, khi đến khi đi, khi sống khi chết (Bài Sanh Và Tử); phép ẩn dụ: con sư tử (chỉ cho Đức Phật), vị hung thầnlà tiền thân Phật Thích Ca (bài Vị Hung Thần)... .phép ví dụ: (người) chết thiếp đi ví như (người) say rượu, như say thuốc,... (Bài Sanh Và Tử), quả địa cầu ví như một đứa bế, ngồi co trong bào thai (Bài Vũ Trụ Quan),... phép bền ngẩu: ăn cấp quen tay, ngủ ngày quen mắt; cỏ sanh cây, cây ăn cỏ. Cây sanh thú, thú ăn cây (Bài ăn Chay);...phép điệp từ: vô thường vô ngă (Bài Vô Lượng Cam Lồ); (ư) có tốt xấu, có sanh có tử, có lớn có nhỏ (Bài Chánh Pháp Giác);...

Đối với thể văn vần theo thể thơ lục bát, trong Bài Học Cư Sĩ, Kinh Tam Bảo và Bài Học Khất Sĩ trong Luật Nghi Khất Sĩ tác giả sử dụng niêm luật thơ rất chuẩn, lời thơ trong sáng, mạnh mẽ, có tác động mạnh vào người đọcc tính chất triết lư của Phật giáo.

Nội dung của tác phẩm:

Cũng như tác phẩm trên chúng ta có thể chia Chơn Lư ra làm 5 phần để dễ t́m hiểu hơn.

I- Nhân sinh quan của Phật giáo: Gồm những giáo lư tŕnh bày quan điểm của Phật giáo về đời sống con người. Có các bài: 1. Ngũ Uẩn, 2. Lục Căn, 3. Nam Và Nữ, 4. Sanh Và Tử.

II- Vũ Trụ Quan Phật Giáo: Có các bài giáo lư nói về sự h́nh thành và phát triển của vũ trụ theo quan điểm của Phật giáo. Bao gồm những bài:

1. Vũ Trụ Quan, 2. Công Lư Vũ Trụ, 3. Xứ Thiên Đường.

III- Giáo lư của đạo Phật:  Gồm có các bài giáo lư của Phật giáo, như:

1. Mười Hai Nhân Duyên, 2. Bát Chánh Đạo, 3. Chánh Đẳng Chánh Giác, 4. Nhập Định, 5. Tâm, 6. Chánh Pháp, 7. Chánh Kiến, 8. Tam Giáo, 9. Tông Giáo, 10. Thần Mật, 11. Giác Ngộ, 12. Chư Phật, chư Phật Vị Lai, 13. ại Thừa Giáo, 14. Phật Tánh, 15. Pháp Tạng, 16. Vô Lượng Cam Lộ, 17. Quán Thế Âm, 18. Đại Thái Thức, 19. Địa Tạng, 20. Pháp Hoa, 21. Pháp Chánh Giác, 22. Sổ Tức Quan, 23. Chơn Như.

IV- Khuyến tu và phương pháp học:  Gồm các bài giáo lư khuyên răn, nhắc nhở mọi người sớm giác ngộ, tu tập chánh pháp, và đồng thời giảng giải rơ phương pháp tu học, sám hối những lỗi lầm của ḿnh đă tạo ra. Có các bài

1. Ăn Chay, 2. Bài Học Cư Sĩ, 3. Tánh Thủy, 4. Học Chơn Lư, 5. Khuyến Tu, 6. Đi Tu, 7. Ăn Và Sống, 8. Sợ Tội Lỗi, 9. Đi Học, 10. Đời Đạo Đức, 11. Học Để Tu, 12. Tu Và Nghiệp, 13. Sám Hối, 14. Lễ Giáo, 15. Khổ Và Vui, 16. Ḥa B́nh, 17. Trường Đạo Lư, 18. Nguồn Đạo Lư, 19. Thờ Phượng, 20. Pháp Học Cư Sĩ, 21. Cư Sĩ.

V- Đạo Phật Khất Sĩ: Phẩm này gồm có các bài nói về phép tắc, nghi lễ, giới luật và những sinh hoạt truyền thống của PGKS gồm có các bài:

1. Khất Sĩ, 2. Y Bát Chơn Truyền, 3. ạo Phật Khất Sĩ, 4. Kinh Tam Bảo,5. Luật Nghi Khất Sĩ (quyển riêng), gồm có 12 bài viết về giới luật: a/ Bài học khất Sĩ, b/ Luật Khất Sĩ, c/ Bài học Sa-di, d/ Kệ Giới, e/ Diệt Ḷng Ham Muốn, f/Địng, g/ Niết Bàn, h/ Giới Bổn Tăng, k/ Pháp Vi Tế, l/ Giới Phật Tử, m/ Luật Nghi.

Đọc tác phẩm Chơn Lư là chúng ta đă tiếp nhận được ánh sáng trí tuệ giáo lư của HPKSVN. Trí tuệ ấy là trí tuệ giác ngộ siêu việt của TS. Minh Đăng Quang, cho nên giáo lư của Ngài là giáo lư giác ngộ, thẩm thấu thế giới hiện tượng một cách toàn triệt, và mang tính khoa học thực tiễn.

Như chúng ta được biết vào năm 1543, một Tu sĩ người Ba Lan là Copernic đă phát minh ra thuyết vũ trụ Nhật Tâm, đánh bật quan điểm vũ trụ Địa Tâm (nghĩa là lấy trái đất làm trung tâm của vũ trụ) từ nhiều thế kỷ trước. Lúc này là người ta biết trong vũ trụ có nhiều hành tinh. Cho đến đầu thế kỷ thứ XVII nhà bác học Galileo đă chế tạo ra viễn vọng kính, quan xác vũ trụ thấy có nhiều hành tinh trong ấy. Điều này ngày nay khoa học đă chứng minh. Cùng với quan điểm trên t́m hiểu lại Chơn Lư chúng ta thấy tác giả viết: “Thể của vũ trụ là một thể thăm thẳm, tối đen, bao la, vô cực. Trong ấy có vô số quả địa cầu” (Chơn Lư Vũ Trụ Quan- trang 11- NXB Tp.HCM- 1998). Bên cạnh quan niệm về vũ trụ là vô cùng vô tận với vô số hành tinh, Chơn Lư c̣n quan niệm rằng thế giới hiện tượng là vô thường, muôn loài vạn vật luôn sinh diệt thay đổi không cố định. Do đó, trong bài Vũ Trụ Quan Ngài viết: “Cây sanh trái, cỏ sanh hoa, sự biến hóa không lường, thay qua đổi lại”. Quan điểm này cũng phù hợp với khoa học ngày nay đă thừa nhận rằng vật chất luôn “vận động”, muôn loài vạn vật luôn luôn sinh hóa không cùng, có sinh có diệt.

Điểm đặc biệt của Chơn Lư là triết lư Phật giáo. Triết lư Phật giáo trong Chơn Lư là giáo lư căn bản, tinh hoa của Phật pháp. Như nói về sự h́nh thành nên con người và sự ràng buộc của con người vào ṿng sanh tử luân hồi là do 12 nhân duyên trói buộc, bởi con người không thấu rơ ṿng xích 12 nhân duyên này nên măi chịu khổ đau sanh tử. V́ thế, giáo lư Thập Nhị Nhân Duyên (12 Nhân Duyên) là giáo lư cơ banrthen chốt của Đạo Phật. . Do đó, trong Chơn Lư Tổ viết 12 Nhân Duyên như sau: “Chúng sanh bởi từ kiếp trước Vô Minh, Hành ác, gây Nhân, nên phải nhập thay sang Thức, Danh Sắc, Lục Nhập là kết quả hiện tại, mới có thân h́nh. Bới có thân h́nh mới Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu là gây nhân hiện tại, để chịu sanh tử đời sau, là quả vị lai khổ năo.

Vậy muốn không Quả vị lai: Sanh, Tử, Khổ th́ đừng gây nhân hiện tại: Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu.

Muốn không nhân hiện tại: th́ phairkhoong Quả hiện tại: Thức, Danh Sắc, Lục Nhập.

Muốn không Quả hiện tại: th́ phải dứt trừ nhân quá khứ: Vô Minh, Hành. (sđd)

Ṿng kềm tỏa của 12 Nhân Duyên trói buộc con người vào luâ hồi đau khổ. Nói cách khác con đường đau khổ sinh tử do con người không trực nhận được “chân như đạo tâm” ở mỗi người. Cho nên trong tác phẩm trên (bài Chơn Như- trang 830) Ngài viết: “Chân như là chánh pháp, chánh lư, đạo tâm của chúng sanh hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy th́ những ai tu học Chân Như, tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi; bởi vạn pháp là ánh sáng của Chơn Như, túa ra, mà người đă đến Chơn Như, ấy là vạn pháp ở nơi ḿnh, tự ḿnh túa ra, chớ không c̣n nương theo vạn pháp”. Như vậy, thấy được bản chất của tất cả pháp, (hay thấy được bản chất của thế giới hiện tượng) nghĩa là không c̣n bị ô nhiễm, ràng buộc vào khổ đau nữa, th́ được tự tại giải thoát.

Triết lư Phật giáo trong Chơn Lư đă làm sáng tỏ quan điểm giáo lư của đạo Phật, mà giáo lư của đạo Phật là giáo lư của con người, lấy con người làm trùn tâm để Đức Phật giáo hóa. Cho nên giáo lư ấy mang đậm tính nhân văn, nhân bản. Điều này sẽ được chứng minh trong Chơn Lư (bài Bát Chánh Đạo- trang 78) tác giả viết: “Tại sao ta cần phải có chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh tinh tấn và chánh định! Bởi chánh tư duy là Thần trí, hay là sự sống, tức là cặp mắt sáng, chủ tể của ta vậy. Không có nó th́ không có ta, các pháp và sự cử động, ắt gọi là chết! Kẻ không có trí dầu có mang thân sống đi nữa, người ta cũng chẳng thấy cái sống, tác dụng lợi ích của nó một chút nào, và nó chỉ chật lối choán đường, tai hại cho chúng sanh, tấn hóa không thông mà thôi.

Thế là Ngài khẳng định rằng chánh tư duy của con người sẽ làm phát triển trí tuệ, đưa đến thăng hoa cuộc sống, và cũng là con đường đẫn đến giác ngộ. Nhưng để đạt đến sự giác ngộ tối hậu th́ “người ta phải dứt trừ tam nghiệp của thân, khẩu, ư không nên tích trữ nó nữa,…” mà khi đă trau dồi ba nghiệp thân, khẩu, ư thanh tịnh rồi, diệt trừ hết các phiền năo rồi th́ sự thành tựu giác ngộ ấy cũng chính ở nơi chân tâm của ḿnh chứ không phải ở đâu khác. Do đó, trong Chơn Lư (bài Tâm- trang 261) tác giả viết: “Tấ cả chúng sanh chỉ có một cái tâm, tâm ấy là Phật, là Tâm Chân, Pháp Chân, Đạo Chân, Quả Chân tức là thân, khẩu, ư Chân như không vọng động”.

Qua những dẫn chứng trên chúng ta đă thấy được Chơn Lư mang đậm tính nhân văn, nhân bản đó phải có một ư nghĩa giáo dục đạo đức cao th́ tính nhân văn, nhân bản mới thành tựu. Giáo dục đạo đức là việc làm quan trọng nhất, là yếu tố nền tảng để phát triển con người hoàn thiện và xây dựng xă hội văn minh. Đây là yếu tố cơ bản của giáo lư Phật giáo. V́ thế trong Chơn Lư Tổ Sư viết:

“Tội xưa chẳng hạn nhỏ to

Con nguyền dứt cả chẳng cho thêm vào

                Tâm lành dốc chí nâng cao

                 Cải tà quy chánh chú vào Phật ngôn”

                    Hay:

             “Giữ ǵn thanh tịnh là hơn

                Dầu ai gây giữ oán hờn mặc ai”

                                                (Bài học cư sĩ)

         

          Tóm lại, Chơn Lư là một tác phẩm lớn trong những tă phẩm giáo lư của HPKS . Ngoài giá trị triết lư Phật giáo, Chơn Lư c̣n có giá trị khoa học, nhân văn, nhân bản và giáo dục đạo đức. Từ khi ra đời cho đến nayCh[n Lư đă đóng go[scho nền giáo lư PGVN thêm phong phú. Tác phẩm ấy thực sự gióng lên tiếng chuông chánh pháp khiến cho nhiều người dân miền Tây trở về với Phật pháp. Ngày nay, Chơn Lư đă được lưu truyền khắp ở hai miền Nam và Trung và một số nước trên thế giới.

 

Thực hiện: Ánh Liên

 

T́m Hiểu Về Khất Sĩ

Xin xem tiếp phần sau