Chương 4



PHẬT GIÁO KHẤT SĨ
TRONG THỜI ĐẠI ĐẤT NƯỚC HOÀ B̀NH.
1- PGKS trong sự nghiệp xây dựng Đạo Pháp:
Nói về sự nghiệp xây dựng Đạo Pháp của PGKS điều này có lẽ là vấn đề thắc mắc của nhiều người. Người ta cho rằng PGKS mới ra đời trong những năm 1945 - 1975, trong khi phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà th́ đă xảy ra trước đó một hai thập niêm, vả lại PGKS từ khi được h́nh thành măi cho đến năm 1950 trở về sau th́ số lượng Tăng Ni khất sĩ mới đông, và người ta cũng không thấy Tăng Ni của PGKS tham gia vào hoạt động của Giáo Hội Phật giáo thời ấy. V́ thế, nhiều nghi vấn được đặt ra ở đây.
Chúng ta nên biết chữ Đạo Pháp ở đây có nghĩa chính là chỉ Phật giáo Việt Nam nói riêng và toàn thể Phật giáo thế giới nói chung mà không có phân biệt tông phái Phật giáo, chủng tộc, giai cấp, quốc gia,... v́ Đạo Phật được xây dựng trên nền tảng tự do, b́nh đẳng, từ bi và trí tụê. Tuy nhiên, Chư Tăng đang hành đạo ở quốc gia nào th́ trước tiên phải có nhiệm vụ xây dựng và phát triển Phật giáo tại quốc gia đó. Như chư Tăng ở phạm vi đất nước Việt Nam th́ phải xây dựng Phật giáo Việt Nam phát triển. Mặc dù PGKS mới h́nh thành (năm 1945 - 1975) và không trực tiếp tham gia các hoạt động Giáo Hội Phật giáo thời ấy nhưng PGKS đă thực sự là những tổ chức Phật giáo tích cực trong việc truyền bá Phật Pháp lúc bấy giờ. Cụ thể là ĐS. Huệ Nhựt đă tạo được danh tiếng cho Phật giáo ở địa bàn Sài G̣n - Gia Định, tổ chức của Ngài thời ấy cũng có khoảng 30- 40 vị Tăng; theo sách Tiểu Sử danh Tăng Việt Nam ĐĐ. Thích Đồng Bổn (biên soạn) do Thành Hội Phật Giáo tp Hồ Chí Minh ấn hành năm 1996 có Viết TS. Minh Đăng Quang truyền bá Phật pháp ở nhiều tỉnh của hai miềm Đông, Tây Nam Bộ, số lượng Tăng Ni của hệ phái Ngài có đến hàng trăm, Phật tử tại gia có cả hàng vạn người; Tổ Đ́nh Linh Sơn của HT. Thiện Phước quy tụ được khoảng 300 Tăng Ni về tu học, mở trường Phật Học; HT. Từ Huệ xây dựng và trùng hưng nhiều ngôi tịnh xá, chùa ở hai miền Đông, Tây Nam Bộ,... .
Vào năm 1981, GHPGVN được thành lập lúc này HPKSVN mới thực sự tham gia vào làm việc với Giáo Hội, rồi dần dần về sau các tổ chức PGKS khác cũng gia nhập và làm việc với Giáo Hội như:
a. Khất Sĩ Đại Thừa:
TT. Từ Giang - Chứng Minh Ban Đại Diện Phật Giáo Quận 4.
b. Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam có:
1. HT. Thích Giác Nhu - Phó Pháp chủ Hội Đồng Chứng Minh GHPGVN nhiệm kỳ II và III(1987 - 1997) (viên tịch năm 1997)
2. HT.Thích Giác Phúc - Phó Ban Tăng Sự TƯ. GHPGVN nhiệm kỳ IV và V (1997 - 2007)
3. HT. Thích Giác Hà - Phó Ban Từ Thiện Xă Hội TƯ GHPGVN nhiệm kỳ IV (1997 - 2002)
4. TT. Thích Giác Giới - Uỷ viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN nhiệm kỳ V.
5. TT. Thích Giác Toàn - Uỷ viên Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự GHPGVN (các nhiệm kỳ I, II, III, IV và V: 1981 - 2007)
6. TT. Thích Giác Dũng - Uỷ viên Hội Động Trị Sự GHPGVN nhiệm kỳ IV và V (1997- 2007)
7. TT. Thích Giác Thường - Uỷ viên Ban Nghi Lễ TƯ. GHPGVN
8. TT. Thích Giác Pháp - Uỷ viên Ban Hướng Dẫn Phật Tử TƯ GHPGVN.
9. NT. Thích Nữ Huỳnh Liên - Uỷ Viên Kiểm Soát Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự GHPGVN nhiệm kỳ I, II (1981 - 1987) (viên tịch 1989)
10. NT. Thích Nữ Ngoạt Liên - Uỷ viên Ban Thường Trực Hội ĐồngTrị Sự GHPGVN nhiệm kỳ II, III, IV, và V (1987 - 2007)
11. NT. Thích Nữ Tạng Liên - Uỷ viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN nhiệm kỳ IV (1997 - 2002)
12. NT. Tràng Liên - Uỷ viên Hội Đồng Trị Sự GHPGVN nhiệm kỳ V.
c. Khất Sĩ Tu Tịnh có:
1. HT. Thích Từ Huệ - Thành viên Hội Đồng Chứng Minh TƯ GHPGVN (viên tịch 1997)
2. TT. Thích Thiện Tâm - Phó Ban Đại Diện Phật Gíáo Thành Phố Mỹ Tho.
3. TT. Thích Giác Thạnh - Chánh Đại Diện Phật Giáo Huyện Giồng Riềng - tỉnh Kiên Giang
4. ĐĐ. Thích Giác Tạng - Trưởng Ban Hoằng Pháp tỉnh Bạc Liêu kiêm Chánh Đại Diện Phật Giáo huyện Vĩnh Lợi.
d. Khất Sĩ của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng có:
TT. Thích Giác Quang - Chánh Văn Pḥng Ban Trị Sự Phật Gíáo Tỉnh Đồng Nai, Kiêm Giảng Sư Trường Trung Cấp Phật Học tỉnh Đồng Nai.
Hiện nay, theo tài liệu của các tổ chức PGKS ước tính tổng số lượng Tăng Ni của PGKS có khoàng hơn 2.220 vị, có khoảng hơn 418 ngôi tịnh xá, tịnh thất trong cả nước. Đây là kết quả rất khả quan, nó đă chứng minh cho sự đóng góp tích cực của PGKS trong sự nghiệp phát triển PGVN.
2. Phật Giáo Khất Sĩ trong sự nghiệp hội nhập và
phát triển Dân Tộc:
Đạo Phật là đạo của con người. Đức Phật lấy con người làm đối tượng để giáo hóa, hướng dẫn họ bước lên con đường t́m đến chân lư, giải thoát tối hậu. Ngài dạy: "Này các Tỳ Kheo, hăy ra đi, v́ lợi ích an lạc của quần chúng, v́ ḷng thương tưởng đối với đời, v́ lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại. Đừng đi chung hai người cùng đường.Này các Tỳ-Kheo, Hăy thuyết pháp hoàn thiện ở phần đầu, hoàn thiện ở phần giữa, hoàn thiện ở phần cuối, cả về ư nghĩa lẫn văn cú, hăy truyền bá đời phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh" (Đại phẩm của Luật Tạng) hay trong kinh Hoa Nghiêm có nói: "Phụng sự chúng sanh là cúng dường tối thượng của Phật". Cho nên Phật giáo được truyền vào đất nước Việt nam từ hơn XX thế kỷ qua, Phật-giáo đă hoà nhập, gắn bó với dân tộc, với tổ quốc trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xăm và xây dựng đất nước Việt Nam. V́ thế, nhà thơ Hồ Dzếch đă cảm tác đoạn thơ sau:
"Trang sử Phật,
Đồng thời là trang sử Việt,
Trải bao độ hưng suy,
Có nguy mà chẳng mất...."
Như chúng ta được
biết ở các mục trước về lịch sử h́nh thành và phát triển của các tổ chức
PGKS, từ khi mới ra đời các Tổ Sư khai sáng PGKS đă tích cực đi vào thành
thị, thôn quê thuyết pháp, giáo hóa nhân dân hướng về Phật-giáo; và thực
hành đời sống trong sạch của một Phật tử tại gia. Cụ thể nhứt là TS. Minh
Đăng Quang Ngài đă hành đạo qua nhiều tỉnh ở hai miền Đông, Tây Nam Bộ đến
đâu Ngài cũng thuyết pháp, hướng dẫn mọi người thực hành nếp sống trong
sạch, giữ giới, làm lành lánh giữ; HT. Thiện Phước thành lập cô nhi viện
Phước Lộc Thọ (1961 - 1965) nuôi đến 200 cô nhi, quả phụ. HT. Từ Huệ thành
lập nghĩa trang (1969), xây dựng ḷ thiêu (1979) miễn phí cho đồng bào
nghèo, thành lập Hội Từ Thiện (1990) thành phố Mỹ Tho, pḥng thuốc nam miễn
phí; TL. Giác Bảo thuyết pháp khuyến thiện cho anh em cách mạng trong trại
cải tạo, uỷ lạo cho làng cô nhi viện (Long Thành Đồng Nai). Riêng tổ chức
Khất Sĩ Của HT. Thiện Phước, Ngài tham gia hoạt động cách mạng, Ḥa Thượng
lấy Tổ Đ́nh Linh Sơn làm cơ sở hoạt động cách mạng (của liên khu 5 biệt động
thành) trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Và HPKSVN có NI Trưởng
Thích Nữ Huỳnh Liên "tham gia biểu t́nh chống đàn áp Phật-giáo (năm 1963)
của chế đọ độc tài Ngô Đ́nh Diệm, tham gia phong trào đấu tranh phụ nữ đ̣i
quyền sống; ủng hộ cuộc băi công kéo dài 3 tháng 16.000 công nhân dệt, 5.000
công nhân điện nước (vào ngày 20 / 09 / 1964)... Ni Trưởng Huỳnh Liên lấy cơ
sở TX. Ngọc Phương làm nơi đấu tranh (theo tài liệu lư lịch di tích của
Nguyền Thị Minh Lư - viết ngày 20 / 01 / 1964, Bản đánh máy).
Ngày nay, các tổ chức PGKS đă tích cực tham gia các công tác TTXH (xem các mục: chương II - 1.2.2; 2.2.2.2.2; 3.2.2; 4.3). ngoài những công tác TTXH như cứu trợ thiên tai băo lụt, cứu trợ đồng nghèo vùng sâu, vùng xa, đồng bào bị chất đọc màu da cam, cô nhi viện, bệnh viện Tâm Thần, bệnh viện Đa Khoa, bệnh viện Da Liễu,... KSĐT c̣n thành lập trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật (1998 - Quận 4 - tp Hồ Chí Mính), mở pḥng thuốc từ thiện (1992); HPKSVN có nhiều tịnh xá của các Giáo-đoàn thành lập Tuệ Tĩnh Đường,... Hàng loạt các cơ sở từ thiện của PGKS đă hoạt động rất có hiệu quả.
Như vậy, với những kết quả về các công tác TTXH của PGKS không ai có thể cho rằng Tăng Ni Khất Sĩ tách rời đời sống nhân dân, không hoà nhập cộng đồng xă hội. Trái lại qua t́m hiểu và thực tế cho thấy PGKS hầu như có mặt ở khắp tất cả các công tác TTXH, nơi đâu có thiên tai băo lụt, nhân dân nghèo khó là nơi đó có màu áo vàng (bá nạp) xuất hiện, đem lại cho mọi người niềm tin và nụ cười trong cuộc sống./.
Thực hiện: Ánh Liên