T́m Hiểu Về Khất Sĩ   

 

 

 

Những Nét Văn Hóa Của Phật Giáo Khất Sĩ

 

 

 

 

 

Những Nét Văn Hóa Đặc Trưng Của Phật Giáo Khất Sĩ

 

4- Nghi Thức Tụng Niệm,
                          Pháp Phục, 
              Khất Thực Và ăn Chay

 

4.2- Pháp phục:

    Pháp phục và b́nh bát là tài sản thiêng liêng, quư báu của người hành Đạo. V́ nó là phương tiện giúp cho Tỳ Kheo an ổn trong sinh hoạt hằng ngày và pḥng hộ thân tránh tham đắm dục lạc. Khi c̣n tại thế Đức Phật vẫn luôn nhắc nhở, khuyến khích các Tỳ Kheo hăy thường giữ bên ḿnh 3 y và 1 b́nh bát. Ngài cũng tuyên bố rằng đó là Pháp phục truyền thống của ba đời Chư Phật.

    Pháp phục của PGKS gần giống với pháp phục của Nam Tông Phật Giáo nhưng lại khác về màu sắc, kiểu y trung và thượng. Theo Chơn Lư Luật Nghi Khất Sĩ quy định pháp phục của một vị Tỳ Kheo gồm có 3 y: Y thượng bá nạp (y choàng bên ngoài) là nhiều mảnh vải nhỏ đâu lại với nhau. Y thượng chiều dài 2m 70, chiều ngang 1m 80; y trung vải nguyên (là y mặc ở trong) là một tấm vải nguyên, chiều dài 2m, chiều ngang 0m 70, không may b́a, kết mỗi bên hông một nút quai thắt; y hạ vải nguyên (y mặc ở dưới) là một tấm vải nguyên, chiều dài 2m, chiều ngang 1m, may dính lại thành vuông vức 1m 2. B́a trên 0m 10, dưới 0m 05. Cả ba y đều phải nhuộm màu vàng hoặc màu da ḅ sậm (màu hoại sắc).

    Ngoài 3 y ra, vật thường được mang theo bên ḿnh vị Tỳ Kheo đó là chiếc b́nh bát. B́nh bát là đồ để đựng thức ăn, khi khất thực và khi thọ trai. Thông thường b́nh bát được làm bằng đất,  có vị làm bằng nhôm, thau, hông b́nh bát tṛn 6 tấc, miệng rộng, sơn đen, lăn sáp bên ngoài, nắp đậy bằng nhôm trắng, nhẹ. Túi đựng b́nh bát bằng vải, cùng với màu y. Túi bát tṛn vừa cái bát, có nắp phủ lên, có quai 1 tấc bề ngang, bề dài khi mang choàng vào vai trái th́ miệng túi bát phải ngang dây lưng chăn. Nhưng KSĐT của ĐS. Huệ Nhựt th́ sử dụng pháp phục (Y Thượng, Y Trung và y hạ) và b́nh bát kiểu mẫu giống Phật giáo Nam Tông. Trái lại, KSTT và KSSL th́ tiếp nhận, sử dụng pháp phục, b́nh bát giống với HPKS của TS. Minh Đăng Quang.

 4.3- Khất thực và ăn chay:

    Trong suốt 45 năm hoằng pháp độ sanh của Đức Phật, Ngài thường mỗi sáng ôm b́nh bát vào làng khất thực, đến trưa về một khu rừng hay thôn làng nào đó thọ thực. Theo Thế Tôn, th́ đây là phương pháp thuận cho việc giáo hoá tha nhân. Và Ngài đă từng khẳng định trong các kinh tạng đó là pháp truyền thống của ba đời chư Phật thực hành. V́ ư nghĩa pháp khất thực là "Thượng khất chư Phật Chi Pháp, hạ khất chúng sanh chi thực". (nghĩa là trên cầu xin giáo pháp của chư Phật, dưới xin thức ăn của chúng sanh). Hiện nay hầu hết các nước Phật Giáo Nam truyền vẫn lưu truyền và hành tŕ pháp khất thực.

    Tại Việt Nam vào những năm 1945, Miền Nam c̣n nằm trong hoàn cảnh chiến tranh, dưới sự thống trị của chính quyền Thực Dân Pháp. Đời sống của nông dân Miền Nam lúc bấy giờ rất khốn khổ. Do đó, Đại Sư Huệ Nhựt và TS. Minh Đăng Quang kế thừa pháp khất thực của Đức Phật xưa đem vận dụng vào đời sống hành đạo của chư Tăng trong hoàn cảnh đất nước bấy giờ là phù hợp. Với tấm ḷng từ bi, bác ái, với hạnh nhẫn nhục, khiêm tốn người khất sĩ thân mặc áo vá (y bá nạp) tay ôm b́nh bát ung dung từng bước chân vào làng khất thực mỗi buổi sáng.

    Khất thực theo quan niệm của TS. Minh Đăng Quang là xin Pháp Bảo để ăn, xin ḷng tốt của người để sống, xin vật thiện để dùng,... Khất sĩ đi xin để răn ḷng tội lỗi. Đi xin để giải thoát phiền năo, và để ung đúc tâm hồn, rèn luyện chí hướng, tập sửa bản năng... Chớ không phải v́ sợ đói khát sợ chết mà xin, người đi xin vật chất là làm cớ sự để bố thí tinh tấn phước lạc, nhắc nhở độ khuyên người.

    Nhưng để thực hành pháp khất thực như thế nào cho đúng th́ trong Luật Nghi Khất Sĩ có hướng dẫn rơ. Trong đó có ghi: Tỳ Kheo đi khất thực không được nhận tiền, gạo,... không được đi vô chợ hoặc đứng ở góc chợ hoặc chen lấn vào chỗ đám đông. Nên phải đi vào trong xóm và các đường lộ xa chợ. "Khi đi khất thực phải trang nghiêm, hoà hưỡn, ngó ngang xuống, ngó xa 2 thước, chớ ngó liếc hai bên, chớ t́m lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm Phật". (Sđd)

    Thời ấy ở Sài G̣n và các tỉnh miền Tây Nam Bộ người ta thường thấy mỗi sáng có từng đoàn khất sĩ mặc y vàng, tay ôm b́nh bát không phân biệt nghèo giàu, sang hèn họ đi qua từng nhà, từng nhà khất thực. Có lẽ ban đầu vẫn thấy c̣n xa lạ lắm với nhân dân nhưng đời sống giản dị thanh bần, đức hạnh trang nghiêm của giới chư Tăng khất sĩ dần dần lan tỏa. Điều khác biệt của Đại Sư Huệ Nhựt với các tổ chức PGKS khác là khi đi khất thực Đại Sư tay chống tích trượng, và hầu hết các đệ tử của Ngài đều chỉ khất thực và hành đạo ở vùng Sài G̣n - Gia Định.

    Nhưng ngày nay, có một số phần tử không tốt đă giả dạng Tăng Ni đi khất thực phi pháp ở Tp.Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh miền Tây. Đây là một tệ nạn làm tổn thương đến tín ngưỡng của Phật Tử cũng như danh dự của PGKS. Do đó, thiết nghĩ THPG Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh thành nên có sự phối hợp với quư cơ quan thẩm quyền các tỉnh thành cần nên quan tâm và giúp đỡ giải quyết triệt để tệ nạn này. Đồng thời với sự phát triển của xă hội, phần lớn Phật tử cúng dường phẩm vật họ đều đem đến tịnh xá. V́ thế, để loại trừ tệ nạn khất thực phi pháp cũng như thích nghi với xă hội hiện đại nên chư Tăng khất sĩ hầu hết đều không duy tŕ nếp sống khất thực nữa.

    Khất thực, hóa duyên là thể hiện ḷng vị tha vô ngă, đức hạnh nhẫn nhục của vị Tăng Khất Sĩ. Nhưng điều đặc biệt, chư Tăng Khất Sĩ lại ăn chay, khác với các Tỳ-Kheo của Phật Giáo Nam truyền th́  thức ăn được dùng ngũ tịnh nhục (tức được phép ăn thịt con vật mà không thấy người giết, không nghe tiếng con vật bị giết kêu, không nghi người khác giết cho ḿnh ăn, thịt con thú tự chết hay thịt con thú khác ăn c̣n dư). Ăn chay theo quan niệm của TS. minh Đăng Quang là "trong sạch với miếng ăn, không tham ăn, không vọng ăn, không cố chấp kén chọn miếng ăn..." "nên sự ăn chay trong sạch của các Ngài là ngày ăn một bửa ngọ trưa. Có chi ăn nấy, món ăn bằng rau trái ăn trộn lộn xộn chẳng phân mùi vị đi xin ăn để tránh sự nấu nướng vọng tâm. Đem Pháp thí cho người, đổi lấy miếng ăn nuôi mạng sống, tự người hảo tâm biết ơn mà dâng cho, chẳng hề đ̣i hỏi ép buộc; sáng, chiều, đêm, khuya ḷng không nhớ tưởng, chẳng dạ để dành, v́ vậy nên mới gọi là ăn chay, ăn chay trong sạch, là miếng ăn của người khất sĩ." (Chơn Lư - ăn chay - trang 199). Đồng với quan niệm này, ĐS. Huệ Nhựt suốt lộ tŕnh hoằng pháp lợi sanh Ngài luôn nhắc nhở, khuyến khích Phật Tử ăn chay, giữ giới hạnh của người cư sĩ, loại trừ những tâm niệm bất thiện, Đại Sư nói:

"Tŕ chay niệm Phật một ḷng,

Giữ ǵn năm giới tinh thong Pháp màu"

                    Hay:

"Tŕ chay niệm Phật, đừng ưa, đừng ghét

Đừng nói xấu người, đừng nói dối ta"

 

    Thọ chay hay ăn chay là nếp sống mà Đức Phật thường hay khuyến khích các Tỳ Kheo thực hành (nếu thuận tiện) khi Ngài c̣n tại thế. Người sứ giả của chân lư từ bi và giải thoát th́ không thể không ăn chay, v́ ăn chay là thể hiện sự tôn trọng sinh mạng, quyền sống của muôn loài, đem t́nh thương yêu đến tất cả chúng hữu t́nh.

    Tóm lại, qua t́m hiểu về nghi thức, pháp phục, khất thực và ăn chay của PGKS cho chúng ta thấy mặc dù chịu ảnh hưởng ít hay nhiều của Nam Tông hay Bắc Tông Phật giáo nhưng nghi thức, pháp phục...của PGKS vẫn mang tính đặc trưng một bản sắc riêng của PGKS. Những đặc trưng và bản sắc đó nó đă đóng góp cho nền văn hoá của PGVN ngày một phát triển.

 

                                                   Thực hiện: Ánh Liên

 

 

T́m Hiểu Về Khất Sĩ 

Xin xem tiếp phần sau