T́m Hiểu Khất Sĩ

                                                                         

 

 

PHẦN II

Những Nét Văn Hóa Của Phật Giáo Khất Sĩ

 

 

Chương 3 

 

Những Nét Văn Hóa Đặc Trưng Của Phật Giáo Khất Sĩ

Sự thành tựu trong các lănh vực văn hóa của PGKS không giống nhau, mỗi tổ chức PGKS thành tựu ở một lănh vực văn hóa khác nhau như có tổ chức rất thành tựu về sáng tác, có tổ chức thành tựu về kiến trúc, có tổ chức thành tựu, phát triển việc công tác TTXH,... .Do đó, người viết chỉ chọn lựa những thành tựu văn hóa nổi bậc, những tác phẩm tiêu biểu của mỗi tổ chức trong các lănh vực kiến trúc, sáng tác, giáo lư, giáo dục đạo đức,... để tŕnh bày trong chương này, chứ không nói hết các lănh vực văn hóa của mỗi tổ chức PGKS. Thiết nghĩ phậm vi giới hạn của tài liệu nghiên cứu và thời gian nên không cho phép người viết luận bàn chi tiết dài ḍng ở lănh vực mở rộng, nhưng những thành tựu văn hóa tổ chức của PGKS sẽ bao hàm những đặt trưng văn hóa chung của PGKS. Điều này sẽ được chứng minh ở các mục dưới đây.

    1- Về Mặt Giáo Lư

    Nói đến giáo lư của PGKS mới nghe qua chúng ta tưởng như có giáo lư ǵ đó mới lạ so với giáo lư Phật giáo, nhưng thực tế có ǵ mới là không? Chúng ta thử t́m hiểu xem giáo lư ất.

    Theo như Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn cho chúng ta biết th́ tư tưởng giáo lư của ĐS. Huệ Nhựt là dung hợp hai giáo lư Thiền Tông và Tịnh Độ. Ngài viết: "Thiền Tông và Tịnh Độ cũng có một giáo lư không hai khác". Nên nhớ rằng: "Ngoài ĺa các tướng là Thiền, trong không sanh vọng tưởng là Định, gọi là Thiền Định; và kinh Tịnh Danh nói: (lóng) ḷng ngay là Tịnh Độ, Đạo Tràng là vậy". Như vậy Thiền Tông và Tịnh Độ Tông tuy hai giáo lư nhưng sự thực kết quả là không có khác nhau. Thiền địnhlà phương pháp dứt trừ vọng tưởng, phiền năo để tâm được thanh tịnh; pháp môn niệm Phật (Tịnh Độ) cũng để đoạn trừ tâm loạn động mà nhất tâm vào câu niệm Phật. Cả hai cùng một mục đích đẻ tâm được thanh tịnh từ đó thành tựu từng Thánh quả. Nhưng đối với Đại Sư pháp môn niệm Phật là phổ thông, cơ bản nhất mà Ngài thường hay giảng dạy cho Tăng Ni và Phật tử. Ngài dạy niệm Phật là niệm tâm của ḿnh, khi tu pháp môn này th́ trừ được oan gia, nghiệp báo, mà nghiệp báo hết rồi tức là tâm được thanh tịnh, thân ngũ uẩn này trở thành "hóa thân sáng ngời". Cho nên trong Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn Ngài nói:

"Niệm Phật, Phật ở ḷng ta

Bà con quyến thuộc ma vương báo đời

Niệm Phật mà biết tức thời

Tịnh tâm viên măn hóa thân sáng ngời"

ĐS. Huệ Nhựt th́ dung hợp hai giáo lư Thiền Tông và Tịnh Độ làm tôn chỉ cho giáo lư của Ngài, c̣n TS. Minh Đăng Quang sử dụng giáo lư Giới, Định, Tuệ (Tam Vô Lậu Học) làm tôn chỉ cho giáo lư của HPKSVN. Giáo lư Giới, Định, Tuệ đă được Tổ Sư giới thiệu toàn bộ tác phẩm Chơn Lư. Giới được Ngài hướng dẫn rơ trong Luật Nghi Khất Sĩ, cơ bản SaDi có 10 giới, Tỳ kheo có 250 giới, Tỳ Kheo Ni có 348 giới; Định Ngài nói về cách thức "nhập định", 40 đề mục thiền định, 30 đề mục đem đến nhập định,... , Huệ chính là giáo lư Thập Nhị Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo,... như Ngài đă giảng dạy trong Chơn Lư. Ngài đă khẳng định: "Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ tu giới, định, tuệ, không có sự nương học văn tự của bước đầu" (Chơn Lư- Bài Học Cư Sĩ- trang 242). Như Vậy, Giới, Định, Tuệ là kim chỉ nam cho pháp môn tu tập của HPKSVN. Đó chính là giáo lư quyết định cho sự thành tựu Thánh quả. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo lư ấy "Giới như trái đất, Định như cây trồng trên đất, Huệ như trái cây". Ba yếu tố giáo lư Tam Học khắn khích nhau, quan hệ mật thiết không thể tách rời, nếu thiếu một trong ba yếu tố giáo lư đó th́ Thánh quả sẽ không thành tựu. V́ thế, Ngài nói: "Chỉ có Định mới sanh Tuệ, Định Tuệ song tu, do nơi giới luật Khất Sĩ, th́ chơn như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn lư lẽ thật, tức là chánh Đạo của tâm ḿnh." (sđd)

    Điều quan trọng chúng ta nên nhớ rằng ĐS. Huệ Nhựt và TS. Minh Đăng Quang Ngoài những giáo lư cơ bản các Ngài đă đề xướng, các Ngài c̣n hướng dẫn giảng giải cho Tăng Ni và phật tử những kinh điển trong Tam tạng của Nam Tông lẫn Bắc Tông Phật giáo.

    Tóm lại, giáo lư của PGKS là những giáo lư chính thống của phật giáo chứ không có ǵ mới lạ. Giáo lư của Khất Sĩ Đại Thừa th́ dung hợp giữa hai giáo lư Thiền Tông và Tịnh Độ; giáo lư của HPKSVN là giáo lư giới, định, tuệ c̣n các tổ chức PGKS khác th́ chịu ảnh hưởng giáo lư Bắc Tông hoặc giáo lư của HPKSVN. Như HT. Thiện Phước lúc c̣n tại thế Ngài thường giảng dạy về pháp môn niệm Phật cầu sanh Tây Phương và hoằng hóa giới luật. Bên cạnh đó th́ KSTT, HT. Từ Huệ, TL. Giác Bảo xuất thân từ HPKSVN cho nên về tư tưởng giáo lư cũng như pháp môn tu tập đều giống với HPKSVN. c̣n giáo lư của KSSL th́ lại ảnh hưởng giáo lư của HPKSVN và cả Bắc Tông Phật giáo.

    2- Về Mặt Sáng Tác   

    Trong lănh vực sáng tác chỉ có ba tổ chức PGKS có những tác phẩm được phổ biến và lưu truyền rộng răi, đó là tác phẩm Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn do ĐS. Huệ Nhựt sáng tác (năm 1945- quyển I; năm 1948 quyển II) và bộ Chơn Lư của TS. Minh Đăng Quang sáng tác. Bên cạnh đó KSTT của HT. Từ Huệ cũng có biên soạn 1 bộ sách thuộc Nam Phương Gia Truyền (3 quyển) nhưng bọ sách thuốc này chỉ được phổ biến trong giới Y Học Cổ Truyền mà thôi. Để hiểu sâu hơn trong lănh vực sáng tác của PGKS chúng ta nên đi vào t́m hiểu ba tác phẩm trên.

    Trước tiên chúng ta t́m hiểu tác phẩm Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn. Tác phẩm này như chúng ta được biết là ĐS. Huệ Nhựt sáng tác gồm có 2 quyển, quyển I sáng tác vào năm 1945 và quyển II năm 1948 tại chùa Linh Bửu, Cầu Hang, quận G̣ Vấp.

    Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn đă được tác giả viết theo thể loại văn vần, viết theo thể thơ lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, thỉnh thoảng có xen lẫn những bài văn xuôi, lời lẽ gọn găy. Những tác phẩm được viết vào thời gian này trong t́nh h́nh chữ quốc ngữ mới phát triển cho nên phần lớn trong các bài văn phục nguyện tác giả c̣n dùng toàn âm Hán Việt làm cho người không học được chữ Hán rất khó hiểu.

    Nội dung của tác phẩm:

    Để t́m hiểu nội dung tác phẩm được dể dàng hơn chúng ta tạm chia Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn quyển I ra làm 5 phần:

    I- Khuyến tu: Gồm những bài văn khuyến nhủ, cảnh tỉnh mọi người nên sớm tu tâm dưỡng tánh, giữ giới niệm Phật để vượt qua mọi khổ đau. Gồm các bài: 1. Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn, 2. Tỉnh Hồn, 3. Lời Khuyên Sau Rốt.

    II- Giúp trừ tà kiến trở về với chánh pháp: Những bài văn chỉ cho mọi người phương pháp trừ tà kiến, sai lầm trong nhận thức để trở về với chánh pháp. Có các bài sau: 1. Phép Trừ Tà Đạo- Hóa Nhân Tâm, 2. Dứt Tà Quy Chnhá Kiến.

    III- Hướng dẫn tu niệm Phật và cách tŕ tụng kinh mỗi ngày: bao gồm những bài hướng dẫn mọi người phương pháp niệm Phật đúng đắn và phần tích rơ lư "Thiền Định và Tịnh Độ". đồng thời chỉ cho hành giả cách thức tịng kinh mỗi ngày. Gồm có các bài: 1. Nói Về Phép Niệm Phật Và "Lư Thiền- Tịnh Độ", 2. Cách Tụng Niệm Mỗi Ngày.

    IV- Nhận Thức Giáo Lư: Gồm những bài giải thích về giáo lư, chỉ rơ những tinh hoa của Phật pháp, những nhận thức cơ bản và then chốt vào giáo lư trên con đường tu tập của mọi người. Có các bài sau: 1. Tịnh Độ Yếu Lư, 2. Tịnh Vô Nhân Ngă Tướng Kiến Tánh Thành Phật, 3. Vô Nhân Ngă Tướng, 4. Yếu Môn.

    V- Sám ca: là bài Sám Ca Cầu Hồn hay c̣n gọi là Sám Hồng Trần nói về sự vô thường, đau khổ của kiếp người và khuyên nên sớm mau tĩnh ngộ tu tập niệm Phật để được văng sanh Tây Phương Cực Lạc, giải thoát sanh tử luân hồi.

    Nội dung của Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn quyển 2 chúng ta cũng có thể chia làm 4 phần như sau:

    I- Chỉ rơ chánh pháp (chân lư):  Bao gồm những bài giảng giải về giáo pháp, phân biệt "Chân- Giả" "Mê- Giác", hướng dẫn pháp để minh tâm kiến tánh thành tựu giải thoát tối hậu. Gồm có các bài: 1. Chánh Pháp Nhăn Tạng, 2. Pháp Tâm Ấn Thế Nào? 3. Bài Tụng Vô Tướng, 4. Đức Di Lặc, 5. Vô Vi Pháp, 6.Giới Định Tuệ, 7. Mê Giác Cần Phải Nhớ, 8.Chơn Giả Không Thật, 9. Tâm Yếu, 10. Lư Đạo, 11. Minh Tâm Kiến Tánh Pháp.

    II- Sám hối và phát nguyện: Là những bài sám văn hướng dẫn mọi người sám hối tội lỗi, nghiệp chướng của ḿnh đă tạo từ nhiều kiếp trong quá khứ hay hiện tại, và phát nguyện ăn năn hối cải, tu tập chánh pháp để được giải thoát khổ đau, đồng thời làm lợi ích cho mọi người. Có các bài: 1. Sám Hối (Phát Nguyện Văn), 2. Sám Tâm Kinh.

    III- Phương pháp tu tập: Gồm những bài hướng dẫn phương pháp ngồi Thiền niệm Phật, niệm Phật để được chánh định . Có các bài:

    1. Phép Tắc Thiền Định (Niệm Phật Tam Muội)

    2. Phép Tắc Tọa Thiền Niệm Phật.

    3. Vài Điều Chánh Ngữ "Ích Chung"

    IV- Phương pháp hành tŕ mỗi ngày và giữ ǵn 5 giới: Bao gồm những bài kệ, chú hướng dẫn hành giả tŕ niệm trong mọi sinh hoạt hằng ngày để tâm được chánh niệm, cùng với những bài nguyện hương và hướng dẫn cách thức giữ 5 giới, tŕ chú. Gồm có các bài:

    1. Phép Tắc Thường Dùng,

    2. Phép Tắc Niệm Hương,

    3. Ngũ Giới Hương,

    4. Ngũ Giới Cấm,

    5. Phép Tắc Tụng Kinh,

    6. Phép Tắc Tŕ Chú Chuẩn Đề.

    Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn là tác phẩm ra đời đầu tiên của KSĐT của ĐS. Huệ Nhựt. Độc tác phẩm này ta thấy được tấm ḷng từ bi vô lượng của bậc Đại sư xuất thế, Ngài mang hạnh nguyện từ bi ấy vào đời giáo hóa nhân sinh. Trong Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn (I) Ngàu Viết: "Huệ Nhựt nguyện khắp phàm t́nh, thoát khổ ái hà, Tịnh Độ an vui", Ngôn từ trong tác phẩm cũng mộc mạc, giản dị như con người của bậc chơn tu thạc đức.

    "Giàu sang danh lợi bốn bề

khác nào hề giễu và người chiêm bao"

Tuy giản dị mộc mạc nhưng có đoạn, có bài mang đậm màu sắc triết lư Phật giáo sâu sắc như:

"Chơn chơn vọng vọng nhất tâm

Không không có có thậm thâm vô thường

"Đạo thế" gốc thật "không lường"

Hay thấy hay biết có thường không ta

Pháp thân trùm khắp bao la

Không hay thấy biết không ta không người"

T́m hiểu về Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn chúng ta không thế quên tác phẩm này mang một giá trị nhân văn, nhân bản rất cao. Tác giả luôn hướng dẫn con người thực hành một đời sống thánh thiện. Ngài dạy chúng ta tu tập là sửa lỗi ở chính ḿnh. Ngài nói:

"Tu là sửa ḿnh, làm lành lánh dữ

tŕ trai niệm Phật, đừng ưa đừng ghét

đừng nói xấu người, đừng nói dối ta."

Khi tu sửa ḿnh "làm lành lánh dữ", trau dồi thân, miệng, ư trong sạch th́ sẽ thành Phật, mà thành Phật cũng thành ở ngay tâm ḿnh chứ không phải Phật ở ngay đâu khác. V́ thế, trong bài Minh Tâm Kiến Tánh Pháp Ngài viết:

"Phật là tâm, tâm ấy là Phật

Ngoài thân tâm ta không có Phật"

                hay:

"Không phiền sầu hết mê si

Phật là trí huệ c̣n nghi cái ǵ"

    Tóm lại Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn là tác phẩm giáo lư quan trọng nhất, là phương châm, là Kim Chỉ Nam của Khất Sĩ Đại Thừa. Tác phẩm này  thực sự đă đóng góp cho nền giáo lư Phật giáo Việt Nam trong những thập niêm 40 thêm phong phú, phát triển. Bên cạnh đó giá trị giáo dục và nhân bản của tác phẩm cũng đạt đến mứt ưu việt.

   

Thực hiện: Ánh Liên

 

T́m Hiểu Khất Sĩ

Xin xem tiếp phần sau