T́m hiểu về Hệ Phái Khất Sĩ                                                                                                     

                                                                                          

           Khất Sĩ Đại Thừa               

    1- Phật Giáo Khất Sĩ của Đại Sư Huệ Nhật

    1.1- Vài nét về tiểu sử của Đại Sư và sự h́nh thành Khất Sĩ Đại Thừa (1945-1950)

    Đại Sư Huệ Nhật tên là Hồ Cang, hiệu Hồ Chí Thạnh, sinh năm 1903, Ấp Long Điền xă Long Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh B́nh Thuận. Thân phụ Ngài là ông Hồ Thời, thân mẫu là bà Trần Thị Thâu (pháp danh Diệu Chánh). Ngài có 5 anh em và Ngài là người con út trong gia đ́nh. Thuở nhỏ Ngài theo học Nho giáo với cụ nghè Trương Gia Mô. "Khi Ngài lên 8 tuổi, tại B́nh Thuận có nhiều phong trào hoạt động của nhóm Duy Tân ủng hộ tư tưởng cụ Phan Bội Châu, cụ nghè Trương Gia Mộ đă vận động Ngài chuyển qua Tây học". Vào năm 1921, Ngài (năm 8 tuổi) đến Sài G̣n lập nghiệp ở B́nh Trị Thượng, xă Hạnh Thông, quận G̣ Vấp, tỉnh Gia Định. Đến năm 1923, lúc 20 tuổi, Ngài lập gia đ́nh và có 2 người con.

    Sự kiện bi thảm nhất trong đời làm cho Ngià giác ngộ sau này chính là sau thời gian lập gia đ́nh th́ 4 người anh ở quê nhà lần lược ra đời, người con trai út của Ngài cũng chết. Ít lâu sau vợ cũng từ trần, để lại cho Ngài người con gái, tên Hồ Thị Vàng. Do đó,Ngài ư thức sâu sắc cuộc đời là ảo mộng, vô thường, tang thương dâu bể nên Ngài đi Tây Ninh lên núi Bà Đen lập nguyện xuất gia tu đạo giải thoát.

    Vào khoảng năm 1933-1934, Ngài xuất gia, năm sau thọ giởi làm đệ tử ngài Giác Phú Nguyên Cơ, được pháp danh là Quảng Thạnh, hiệu Huệ Nhật và sau được truyền thừa tông phái trở thành đệ từ thứ 44, thuộc ḍng Thiền Lâm Tế Liễu Quán, theo ḍng kệ Tế Thiệt Đạo Đạo, Tánh Hải Trừng Thanh, Tâm Nguyên Quảng Nhuận, Đức Bổn Từ Phong, Giới định Phước Tuệ,..." (Tổ Đ́nh Linh Sơn Tiên Thạch).Đến năm 1945, Ngài sáng lập Phật Giáo Khất Sĩ theo tư tưởng Đại thừa, sang năm 1946 độ được tất cả 11 đệ tử Tăng và 10 đệ từ Ni. Năm 1948, Đại Sư được Ban Hộ Tự chùa Vạn Thọ (Tân Định) thỉnh về làm trụ tŕ. Chính những năm lưu trú ở đây Ngài Hoằng pháp giáo hóa tha nhân rất thành tựu. Cũng năm 1948, Đại Sư về làm trụ tŕ chùa Linh Bửu (cầu hang- G̣ Vấp) là nơi lưu dấu giáo hóa sau cùng của đời Ngài.

    Mùng 10/12 năm Canh Dần (1950) tại ngôi chùa Linh Bửu, Ngài bị một số phần tử "quá kích" sát hại. Ngài trụ thế được 47 năm.

    Giáo lư và Pháp môn tu tập của Ngài hướng dẫn cho các đệ tử Tăng Ni và Phật tử được Đại Sư viết trong quyển "Pháp môn Đáo Bỉ Ngạn" vào năm 1945.

    Như chúng ta được biết qua sơ lược tiểu sử của Đại Sư Huệ Nhật từ năm xuất gia (khoảng 1933-1934) cho đến năm 1945 Ngài mới thật sự thành lập Phật Giáo Khất Sĩ theo tư tưởng Đại thừa. Theo như trong tiểu tựa của Pháp môn Đáo Bỉ Ngạnth́ vào ngày mùng 7/7 năm Ất Dậu (1945) Ngài đă sáng tác hoàn thành quyển một tác phẫm Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn. Qua tác phẫm Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn chúng ta có thể biết được phương pháp truyền bá Phật pháp và h́nh thức tổ chức sinh hoạt truyền thông của PGKS do Đại Sư sáng lập. Tính truyền thông PHKS của Ngài là mặc Pháp phục giống Phật giáo Nguyên Thủy và ôm b́nh bát khất thực mỗi ngày. Nhưng nét đặt trưng của Ngài là mỗi khi dẫn đoàn đi khất thực Ngài có cầm cây tíc trượng, một tay ôm b́nh bát, một tay chống tích trượng. Năm 1946, Đại Sư độ được tất cả 11 đệ tử Tăng là ngài Phổ Khai, Phổ Hỷ, Phổ Thượng, Phổ Ứng, Phổ Giác, Phổ Quốc, Phổ Hiển, Phổ Hạnh, Phổ Thông, Phổ Thịnh, Phổ Tĩnh; và 10 đệ tử Ni là Thích Nữ Diệu Nghĩa, Diệu Lương, Diệu Nhẫn, Diệu Hảo, Diệu Tú, Diệu Lư, Diệu Tường, Diệu Khiết, Diệu Thiệt, Diệu Trí. Có thể nói trong 2 năm (1945-1946) tổ chức Phật Giáo Khất Sĩ của Đại Sư sáng lập đến đây có phần phát triển. Trong những năm này Ngài hành Đạo rày đây mai đó ở vùng miền Đông Nam Bộ Mà nhiều nhất là ở Gia Định (Sài G̣n).

    Trên con đường hoằng truyền chánh pháp từ những năm 1945-1946 Ngài chưa thành lập một đạo tràng nào làm trụ sở cho tổ chức của ḿnh mà chỉ du phương hành đạo không ở một nơi cố định. Đến năm 1946, Ban Hộ Tự chùa Vạn Thọ(Tân Định Sài G̣n) Thỉnh Ngài về làm trụ tŕ. Đây là ngôi chùa đầu tiên Đại Sư về làm trụ tŕ và hoằng pháp. Vào năm 1948, Ngài trở về chùa Linh Bửu(Cầu Hang-quận G̣ Vấp) làm trụ tŕ. Linh Bửu Tự là mộtngôi chùa nhỏ, do Đại Sư "cải gia vi tự" làm nơi đạo tràng cho Tăng chúng tu học. Theo sự nghiên cứu của học giả Thông Thanh Khánh về ḍng phái, năm xuất gia và hành đạo của ĐS. Huệ Nhật th́ cho rằng: Đại Sư về làm trụ tŕ chùa Linh Bửu năm 1950, nhưng nếu căn cứ vào tác phẩm Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn (quyển 2) là tài liệu đáng tin cậy nhất th́ lời b́a của sách ghi: "Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn-Linh Bử Tự-Hồ Chí Thạnh-Pháp danh Huệ Nhật-ĐẠi Sư Diễn Văn-Cầu Hang G̣ Vấp quận-Tân B́nh Tỉnh-1948 Cuốn thứ nh́" hoặc ở cuối "lời tiểu tựa" ghi: "Huệ Nhật Đại Sư-Diễn Văn tại nhà Vô Vi-Mậu Tí. Hạ Ngoại, Kiết Nhật: Lương thời làm lời tựa này-1948 dương lịch". Do đó, theo quan điễm của chúng tôi cũng như căn cứ vào lời tiểu tựa của Pháp Môn Đáo Bỉ Ngạn th́ Đại Sư về làm trụ tŕ chùa Linh Bửu vào năm 1948 là hợp lư hơn.

    Nh́n chung, PGKS của ĐS. Huệ Nhựt sáng lập năm 1945 cho đến năm 1950 thật sự đă phát triển trong một tthời gian nhất định, nhưng nó đă đóng góp phần nào trong phong trào chấn hưng Phật giáo nước nhà vào những năm nửa đầu thế kỷ XX.

    1.2- Những năm tháng lịch sử của Khất Sĩ Đại Thừa (1950-2004)

    1.2.1- Giai đoạn suy vi: 1950-1989

    Sau khi Đại Sư qua đời (năm 1950) nhiều đệ tử của Ngài trở về chùa Linh Bửu để phụng sự đạo tràng này th́ các vị ấy tiếp tục bị sát hại hoặc bị bắt mất tích. Do đó, các Sư trong giáo đoàn KHĐT phải lui về lánh nạn ở Vũng Tàu. Bấy giờ, ĐĐ. Phổ Giác là người được chư Tăng suy tôn làm Tăng trưởng lănh đạo giáo đoàn KSĐT cũng lâm bệnh và sau đó hoàn tục. Như vậy, con thuyền KSĐT lúc này không có người lái, Giáo đoàn đă suy yếu từ một năm trước nay lại phải suy yếu hơn.

    Vào năm 1952, Giáo đoàn đồng suy tôn ngài Phổ Ứng làm Tăng trưởng lănh đại KSĐT. Và Ngài trở về Sài G̣n hoằng pháp năm 1953, năm sau đó Ngài nhận một mảnh đất của Phật tử Minh Tịnh cúng dường ở vùng Khánh Hội-Quận 4 để lập Tịnh Thất tu tập. Để xây dựng một xơ sở hoằng pháp cho giáo đoàn được phát triển, Ngài khởi công xây dựng ngôi chánh điện Linh Quang Tịnh Xá vào năm 1963 nhưng măi đến năm 1969 mới hoàn thành.. Trong những năm tháng hoằng pháp, chấn hưng tông phong ở cuối đời của Ḥa Thượng sự nghiệp của KSĐT cũng chưa có ǵ khả quan lắm. Đến năm 1983, HT. Phổ Ứng đă viên tịch, đồng thời sang năm 1984, thực hiện di huấn của Ḥa Thượng, tông phong suy tôn TT. Thích Từ Giang lên giữ chức trụ tŕ Tổ đ́nh Linh Quang, vầ lănh đạo KSĐT.

    Như vậy, có thể nói KSĐT trong giai đoạn từ năm 1950-1952 rất suy yếu,sau đó HT. Phổ Ứng lên kế thừa sự nghiệp của Đại Sư, hướng dẫn Giáo đoàn, tông phong được chhán chỉnh lại. Nhưng phải nói cho đến năm1984 TT. Từ Giang (đệ tử của HT. Phổ Ứng) lên lănh đạo, KSĐT mới thực sự khôi phục và có chiều hướng phát triển.

    1.2.2- Giai đoạn củng cố và phát triển (1990-2004)

    KSĐT trong giai đoạn này dưới sự lănh đạo của TT. Từ Giang đă có phần khởi sắc. Ngay khi vừa lên kế vị trụ tŕ (1984) Ngài liền bắt tay vào công tác TTXH như: cứu trợ băo lụt, thiên tai, giúp đỡ cho đồng bào nghèo, khó khăn vùng sâu, vùng xa. Đến năm 1989, Thượng Tọa được Mặc Trận Tổ Quốc Quận 4 giao cho một căn Nhà Trẻ cũ và Ngài lấy cơ sở này mở Trung Tâm Giáo Dục trẻ Khuyết Tật Quận 4. Hiện nay (2004), cơ sở này đă được xxây dựng khá khang trang, chăm sóc và giáo dục 105 trẻ khuyết tật theo chế độ bán trú, có 4 lớp trẻ khuyếm thính và 6 lớp trẻ chậm phát triển trí tuệ. Trung Tâm có 17 giáo viên, 10 nhân viên. Bên cạnh đó Thượng Tọa c̣n thành lập Chi Hội Chữ Thập Đỏ Linh Quang.TX vào năm 1992. Theo quyển Linh Quang.TX với những công tác Từ Thiện Xă Hội (1989-2004) cho biết tổng chi phí của hai cơ sở từ thiện này 1 năm là: 707.500.000 đồng.

    Ngoài ra tổ chức Khất Sĩ này c̣n tham gia các công tác từ thiện: ủng hộ các Hội Chữ Thập Đỏ, các Trường Phật học, học sinh nghèo, cứu trợ băo lụt, thiên tai, cho Đoàn Y Bác Sĩ của pḥng khám từ thiện Linh Quang.TX đi khám bệnh cho đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Vào cuối năm,Thượng Tọa cũng cho khánh thànhViện Dưỡng Lăo Tịnh Quang (Suối Nghệ- Bà Rịa Vũng Tàu). Với những công tác Phật sự và TTXH nhiều như thế nên Thượng Tọa Viện Chủ đă phân thành 4 ban bảo trợ của tịnh xá: Ban Bảo Trợ Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- Ban Bảo Trợ Các Trường Phật Học- Hội Cứu Trợ Thiên Tai, Băo Lụt- Ban Bảo Trợ Ấn Tống Kinh Sách, xây Đắp Tượng

    Không phải chỉ có chú trọng phát triểnvề công tác Phật sự và công tác xă hội, KSĐT cũng đặt việc tu tập lên hàng đầu. Tại Linh Quang.TX các thời khóa tu học được tổ chức đều đặn. Đặt biệt là có nhiều Phật tử tham gia các khóa tu hằng ngày và dùng cơm ở tại Tịnh Xá.

    Song song với việc tu học, trong lănh vực văn hóa Phật giáo của tịnh xá cũng từng bước đi lên. Hiện nay (2004), kỷ yếu "Nguồn Sống An Lạc" của KSĐT đă ra được 3 số,đồng thời cho ra tác phẫm Linh Quang Tịnh xá với những Phật sự và công tác Từ Thiện Xă Hội- 1989- 2004 (NXB Tôn giáo), và tác phẫm Nẽo Về Chơn Như của Thượng Tọa Viện Chủ biên soạn hoàn thành, cho lưu hành nội bộ.

    Về mặc xây dựng kể từ năm 1990 đến nay Thượng Tọa đă cho xây dựng và trùng tu lại nhiều tịnh xá, chùa, tự viện của KSĐT. Hiện nay KSĐT có tất cả 12 ngôi tự viện đó là: 1. Linh QuangTX- (Quận 4- Tp Hồ Chí Minh), 2. Linh QuangTX, 3. chùa Pháp Hoa, 4. chùa Long Bửu (Bà Rịa-Vũng Tàu), 5. Tịnh Thất Linh Quang (Suối Nghệ- Vũng Tàu), 6. chùa Bửu Lâm, 7. Huỳnh LâmTX (Long Hải), 8. chùa Bửu Lâm (Long Thành-Đồng Nai), 9. chùa Quảng Hương (Phan Thiết-B́nh Thuận), 10. Linh QuangTX (Ḥn I-Phước Hải), 11. chùa Phổ Đà Sơn (Đức Linh-B́nh Thuận), 12. Tịnh Thất Linh Quang (Đại Ninh-Lâm Đồng).

    Tóm lại, KSĐT trong giai đoạn từ năm 1989-2004 là giai đoạn phát triển trên những lănh vực giáo lư tu học, văn hóa Phật giáo, đặt biệt nhất là công tác TTXH rất thành tựu. Ở thời kỳ này nhiều tịnh xá, chùa, tịnh thất của tông phong được xây dựng, trùng tu, nhiều tác phẫm văn hóa Phật giáo được xuất bản. Với nhịp độ phát triển như hiện nay nếu có thêm nguồn nhân lực của Tăng Ni và cư sĩ phụng sự cho những công tác Phật sự và từ thiện của KSĐT th́ sẽ phát triển hơn.

 

 

 

                                                                                    Thực hiện: Ánh Liên

 

Tim hiểu Hệ Phái Khất Sĩ

Khất Sĩ Việt Nam