Tìm Hiểu Về Khất Sĩ

    Khất Sĩ Tu Tịnh                      

          

   của Hòa Thượng Từ Huệ, Trưởng Lão Giác Bảo

 

    Trong mục này chúng tôi sắp cả 2 vị HT. Từ Huệ, TL. Giác Bảo vào chung một tổ chức, vì 2 vị này đều xuất thân từ trong các Giáo Đoàn Khất Sĩ của TS. Minh Đăng Quang, HT.Từ Huệ Và TL. Giác Bảo là đệ tử trực tiếp của Tổ Sư. Nhưng cả 2 vị Tôn Đức này đều có hạnh nguyện muốn tu tịnh và hoằng pháp nên đã tách đoàn riêng. HT. Từ Huệ ở tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang), TL. Giác Bảo ở tỉnh Vĩnh Long mỗi vị đều độ đệ tử xuất gia Tăng Ni hoặc theo các Ngài cầu pháp rất nhiều. Tuy ở tại trú xứ chính của các Ngài không có nhiều Tăng Ni nhưng những Tăng Ni do các Ngài độ đi ra nhiều nơi thành lập tịnh xá, tịnh thất phát triển Phật pháp rất thành tựu. Vả lại sau khi tách khỏi các giáo đoàn 2 vị Tôn đức này vẫn tổ chức sinh hoạt truyền thống và phương pháp tu tập ở tịnh xá cũng giống HPKSVN. Đó là nguyên nhân để chúng tôi sắp cả 2 vị này vào một mục và lấy tên là "Khất Sĩ Tu Tịnh".

    4.1- Thân thế của HT. Từ Huệ và sự hình thành KSTT

    HT.Từ Huệ (Phật tử thường hay gọi Ngài là Sư Cả) thế danh là Tạ Văn Phụng, năm 1910, tại làng Tân Hương, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (Tiền Giang). Ngài sanh ra trong một gia đình nông dân hiền lương, nhân hậu.

    Thân phụ là ông Tạ Văn Phi, thân mẫu là bà Thiều Thị Nữ. Ngài chào đời được khoảng 3 tháng thì thân mẫu qua đời, Ngài được bà Nội nuôi dưỡng đến khôn lớn. Năm Ngài 21 tuổi (1930) được ông bà Nội và người chú đứng ra lập gia đình cho. Đến năm 1931 (năm 23 tuổi) Ngài đến chùa Long Hội (xã Phú Mỹ, Mỹ Tho) thọ Tam Quy Ngũ Giới với HT. Hoằng Thông. Khoảng thời gian 1934- 1940, Ngài vừa đi học vừa làm nghề mục để mua sinh nuôi sống gia đình. Năm 1945, Ngài gặp TS.Minh Đăng Quang và lãnh hội giáo pháp nơi Tổ Sư ở chùa Linh Bửu (xã Phú Mỹ, Mỹ Tho). Đến năm 1946, Ngài phát nguyện xuất gia tu học làm đệ tử TS. Minh Đăng Quang. Sau thời gian xuất gia tu học tinh tấn, giới hạnh thanh tịnh Tổ sư cho phép Ngài đi hành đạo tại Tân An Xuống Mỹ Tho, Gò Công, lên Tây Ninh, Bình Dương. Năm 1952, sau ngày tự tứ Tăng Sư Cả trở về TX. Ngọc Quang viếng thăm Tổ sư và xin phép tách đoàn ra riêng để hành đạo.

    Từ năm 1954- 1997, Ngài thu nhận có hơn 100 vị đệ tử xuất gia các vị đệ tử lớn như: TT.Giác Toàn, TT.Huệ Tâm, TT.Huệ Ngộ,... đệ tử tại gia có đến hàng vạn. Ngoài ra Ngài còn làm nhiều công tác TTXH, từ năm 1979- 1990. Đến năm 1997, Hòa Thượng được T.Ư GHPGVN thỉnh cử vào chức vị thành viên Hội Đồng Chứng Minh T.Ư GHPGVN. Năm 1988, được nhà nước CHXHCNVN tao tặng huân chương kháng chiến hạng nhì. Ngài 31/ 07/ 1997 Sư Cả đã viên tịnh tại tịnh xá Mỹ Đức (số 69, Nguyễn An Ninh, Khu phố 6 phường 2, Tp. Mỹ Tho), trụ thế 88 tuổi, Hạ lạp 50 năm.

    Tổ KSTT của HT. Từ Huệ qua tiểu sử của Ngài cho chúng ta thấy kể từ năm 1946 Ngài mới được TS.Minh Đăng Quang cho xuất gia, nhập đạo. Qua đức hạnh tinh tấn tu tập của Ngài được Tổ sư cho phép đi hành đạo. Trong thời gian này Sư Cả đi hành đạo tại Tân An, Mỹ Tho, Gò Công rồi lên Tây Ninh, Bình Dương. Đến 1948, Sư Cả hành đạo ở Mỹ Tho rồi qua Bến Tre. Trong thời kỳ này Ngài thường hay tạm trú ở các đình miếu. Ban ngày thì khất thực hóa duyên, ban đêm thì giảng kinh thuyết pháp. Với nếp sống thanh bần, đạo hành trong sáng, Ngài được nhiều Phật tử kính mộ. Năm 1950, Sư Cả được 2 người Phật tử là Cô Chín Thanh và Cô Tám hiến cúng đất và một cái cốc cho Sư Cả  tu tập. Sau này khu đất ấy Ngài xây dựng thành ngôi tịnh xá Mỹ Đức hôm nay. Năm 1952, Sư Cả tách đoàn riêng hành đạo và bắt đầu hình thành tổ chức KSTT.

    Trong những năm 1960- 1975 quỷ tài chánh của chùa chuyền còn có nhiều khó khăn, Ngài sử dụng miếng đất hương quả của gia đình được 5 công ruộng, Ngài từ làm ruộng lấy tiền ủng hộ vào phần kinh phí cấp phát thẻ tín đồ, giấy Tăng tịch và giấy quảng dịch cho chư Tăng khỏi phải đóng tiền. Năm 1969, TX.Mỹ Đức có một chiếc xe 12 chỗ ngồi đẻ chư Tăng đi hành đạo, Ngài cho bán đi để thành nghĩa trang miễn phí cho đồng bào nghèo.

    Kể từ năm 1950- 1974, Sư Cả đã phát triển tổ chức của Ngài xây dựng và trùng tu tất cả 12 ngôi tịnh xá và chùa như: Thành lập TX. Mỹ Đức (1950- tỉnh Mỹ Tho), TX.An Đức (1951-tỉnh Bến Tre), TX.Bồ Đề (1951- Mõ Cày- Bến Tre), TX. Thành Đức (1952- Mõ Cày- Bến Tre), trùng tu chùa Phước An (1956) thành lập TX. Trúc Lâm (1968- Long Thành- Đồng Nai). TX. Long Đức (1969- Trung Long- Mỹ Tho), TX. Bình Phước (1970- Hàm Luông- Bến Tre), TX. Ngọc Hiệp (1972- Bình Dương), TX. Ngọc Trung (1972- Tân Bình-Sài Gòn), TX. Ngọc Bình (1973- Phgan Thiết), TX. Phước Tu (1974- Long Thành- Đồng Nai).

    4.2- Vài nét về tiểu sử TL. Giác Bảo và sự thành lập KSTT

    TL. Giác Bảo thế danh là Hồ Hữu Lý, sinh năm 1909, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Thân phụ là Hồ Văn Nhiên, thân mẫu là Nguyễn Thị Liên. Thuở nhỏ Ngài đã thấm nhuần đạo đức gia đình, hiếu thảo với cha mẹ. Lớn lên Ngài lập gia đình với cô Võ Thị Tri (người làng Phú Trường Yên- Vĩnh Long). Vợ Ngài sanh được 1 con trai và 2 con gái. Năm 1946 (lúc 37 tuổi), Ngài Giác ngộ cuộc đời là vô thường, ảo mộng nên xuất gia tầm đạo gặp biết bao gian truân thử thách. Với chí xuất trần dõng mãnh Ngài theo TS.Minh Đăng Quang học đạo tập sự làm người xuất gia 2 năm. Đến năm 1949, Ngài được TS.Minh Đăng Quang cho thế phát (cắt tóc) nhập đạo tại TX. Ngọc Viên (Vĩnh Long). Sau khi xuất gia thấy giới hạnh Trưởng Lẫothnh tịnh Tổ Sư cho Ngài theo đoàn Tăng Già Khất Sĩ du phương nhiều nơi ở Nam Bộ. Trong thời gian du phương hóa độ chúng sanhTổ Sư và Ngài cùng Tăng đoàn cất các TX. Ngọc Trung (Thốt Nốt- Cần Thơ), TX. Ngọc Mỹ (Sóc Trăng), TX. Ngọc Liên (Bạc Liêu).

    Năm 1954, TS.Minh Đăng Quang cho phép Ngài tách đoàn riêng độc giác hành đạo giáo hóa chúng sanh, năm Ngài 45 tuổi. Từ năm 1957- 1960, Trưởng Lão tu tập, hành đạo ở TX.Ngọc Vi làng Tân Quới, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1972, Ngài về ở phường 3 thị xã Vĩnh Long xây ngôi TX.Ngọc Vi thứ 2 để tu tập. Ngoài việc thuyết pháp độ sanh, trong thời gian này Trương r Lão còn làm công tác TTXH.

    Ngày 29/ 08/ 1992, Ngài viên tịch tại TX. Ngọc Vi, phường 3, tỉnh Vĩnh Long.

    Giai đoạn hình thành KSTT của TL. Giác Bảo có thế xem là bắt đầu từ năm 1954, năm mà Ngài chính thức tách đoàn riêng hành đạo. Không như HT.Từ Huệ, sau khi tách đoàn riêng Hòa Thượng giáo hóa được nhiều đệ tử Tăng Ni, xây dựng tịnh xá tham gia các công tác TTXH  còn Trưởng Lão khi tách đoàn Ngài luôn thích nếp sống phạm hạnh tịnh tu. Cho đến năm 1957, Ngài cùng với sư đệ là TT. Huệ Nhựt xât cất ngôi TX. Ngọc Vi ở làng Tân Quới, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Nhưng ngôi tịnh xá này cũng chỉ cất bằng cây lá đơn sơ để 2 huynh đệ cùng tham thiền tu tịnh. Vào năm 1960, Ngài giao trách nhiệm trụ trì cho TT. Giác Nhựt. Và đến năm 1972, Trưởng Lão và các Phật tử bắt đầu khai phá đất hoang (nay thuộc phường 3, tỉnh Vĩnh Long), sau này Ngài xây dựng nên ngôi TX. Ngọc Vi thứ 2. Trong thời gian an trú trong tịnh xá này Trưởng Lão vẫn với nếp sống sáng trì bình khất thực, hóa duyên, chiều thuyết pháp giáo hóa Phật tử địa phương, tối tham thiền nhập định. Đặc biệt trong giai đoàn này Ngài còn tham gia các công tác TTXH như uỷ lạo cho TRung Tâm Cải Huấn Tù Chính Trị tỉnh Vĩnh Long, thuyết pháp khuyến thiện cho anh em trong trại cải tạo. Suốt thời gian 4 năm (1967- 1972), Trưởng Lão uỷ lạo cho làng cô nhi (ở Long Thành- Đông Nai) đang trong hoàn cảnh bị chiến tranh.

    Như vậy, cho đến năm 1975, quá trình hành đạo và thiết lập tổ chức KSTT của 2 vị Tôn đức còn rất giới hạn. Trong thời kỳ này có thế nói chỉ có tổ chức KSTT của HT. Từ Huệ là phát triển về cơ sở vật chất cũng như số lượng Tăng Ni.

    4.3- Những hoạt động hoằng pháp từ năm 1975- 2000

    Như chúng ta được biết ở phần trên (4.1 và 4.2) về hạnh nguyện hoằng pháp lợi sanh của HT. Từ Huệ rất lớn lao. Sở dĩ nói lớn lao vì Ngài không từ gian lao, khó nhọc để đem lại lợi ích cho nhân sinh. Như sau khi đất nước được giải phóng, vào năm 1979, ngài hợp tác cùng sư cô Hiếu Liên xây dựng một lò thiêu miễn phí tại chùa Pháp Bảo (Tp. Mỹ Tho). Sư Cả lại mở phòng thuốc Nam từ thiện, vào năm 1981. Đến năm 1990, Ngài đứng ra vận động và xin phép thành lập Hội Từ Thiện của thành phố Mỹ Tho, và sau đó Ngài được bầu làm Chủ Tịch danh dự của Hội. Nhưng thật kính tiếc đến năm 1997 thì Sư Cả viện tịch.

    Sau khi Sư Cả viên tịch thì đệ tử của Ngài là TT. Huệ Tâm tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp. Khoảng năm 1998, mỗi tháng Thượng Tọa cung cấp 100 kg gạo cho bệnh viện Đa Khoa (thành phố Mỹ Tho) và bố thí quan tài cho đồng bào nghèo địa phương. Và bắt đầu từ năm 1999 đến nay Ngài tham gia xây dựng Nhà Tình Thương, Mái Ấm Tuổi Thơ, cùng Hội Khuyến Học bố thí tập sách cho học sinh khó khăn. Cũng năm 1999 Thượng Tọa cất lại TX. Bồ Đề (tỉnh Bến Tre), sau đó nhận thêm TX. Ngọc Định (phường 5- TP. Mỹ Tho) cho Ni, vào năm 2001. Đến năm 2003, Ngài cho trùng tu TX. Long Đức (Tp. Mỹ Tho).

    Nhìn chung, tổ chức KSTT của HT. Từ Huệ từ khi mới hình thành cho đến nay đã từng bước phát triển. Kết quả phát triển đó cho thấy hiện nay tổ chức này có: 13 tịnh xá, 1 ngôi chùa, và có khoảng 30 Tăng Ni.

    Khác với HT. Từ Huệ, TL. Giác Bảo trong thời kỳ này luôn an trú hành đạo tại trú xứ của mình. Cho đến năm 1992 thì Trưỡng Lão viên tịch. Sau khi ngài viên tịch những vị đại đẹ tử như: TT. Huệ Thông, TT. Giác Thạnh, ĐĐ. Giác Khánh,... tiếp tục hành đạo hoằng pháp ra nhiều nơi.

    Hiện nay tổ chức KSTT của Trưỡng Lão có khoảng 12 ngôi tịnh xá, tịnh thất và chùa như: TX. Ngọc Vi, TX. Ngọc Vi (tỉnh Vĩnh Long), chùa Vạn Hòa, chùa Phước Thiện, chùa Giác Hòa (Thị Trấn Giồng Riềng- tỉnh Kiên Giang),..., và số lượng Tăng Ni có khoảng 25 vị.

    Như Vậy, những hoạt động hoằng pháp của tổ chức KSTT trong thời kỳ đất nước sau khi được giải phóng đến nay không ngừng phát triển. Những  hoạt động hoằng pháp đó không chỉ dừng lại ở phạm vi thuyết giảng, truyền bá chánh pháp mà còn tham gia nhiều công tác TTXH đem lại lợi ích cho nhân sinh./.

 

                          Thực hiện: Ánh Liên

Tìm Hiểu Về Khất Sĩ

      Xin xem tiếp Khất Sĩ Sơn Lâm