



HT. Thiện Phước (Phật tử thường gọi ngài là Mẫu Trầu), thế danh Lê Minh Ư (v́ nạn chiến tranh Pháp- Việt nên cải danh là Lê Văn Mười), sinh năm 1924, tại Nhật Tảo, An Nhật Tân, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Cha là ông Lê Văn Đẩu, mẹ là Nguyễn Thị Hoạt. Ngài có 9 anh chị em, và Ngài là người con trai út trong gia đ́nh.
Khoảng năm 1940- 1943, Ngài phát tâm xuất ở vùng Văn Liên, Thất Sơn miền Tây Nam Bộ. Từ đó Ngài được pháp danh là Thiện Phước, Huư Nhựt Ư. Vào năm 1945,Ngài tham gia hoạt động Cách Mạng để bảo vệ tổ quốc. Đến năm 1955, Ngài lên núi Tượng tu học pháp môn niệm Phật với HT. Bửu Đức (chùa Bửu Quang Châu Đốc). Sang năm 1956, vâng lời HT. Bửu Đức Ngài trở về miền Đông hành đạo. Ngài đến Long Sơn Cổ Tự (huyện Tân Uyên- tỉnh Sông Bé) cầu Pháp với HT. Trí Châu thuộc ḍng Lâm Tế Gia Phổ, và được truyền thừa ḍng phái Lâm Tế Gia Phổ, đời thứ 41.
Năm 1957, Ngài về trụ tŕ Tổ Đ́nh Linh Sơn (nay là xă Tân Ḥa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Năm 1961, Ngài thành lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ, thu nhận đến 200 cô nhi, quả phụ và người già yếu. Đến năm 1962, Ḥa Thượng thành lập Phật Học Đường Tây Phương Bồng Đảo, hội tụ được khoảng 300 Tăng Ni. Nhưng vào năm 1965, khu vực đạo tràng Linh Sơn bị bom Mỹ Nguỵ Bắn phá ác liệt nên Ḥa Thượng cho di tảng tất cả Tăng Ni và cô nhi về nhiều chùa ở miền Đông Nam Bộ. Trong những năm ở nơi đây Ḥa Thượng luôn xiển dương Tịnh Độ tong và giới luật. Đến năm 1966, Ngài chỉ đạo NI sư Huệ Giác, đệ tử lớn của Ngài xây dựng Quan Âm Tu Viện. Măi đến năm 1974, Ḥa Thượng cùng tất cả môn đồ trong Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng trở về núi Dinh. Vào năm 1975, Ngài về chùa Long Phước Thọ (huyện Long Thành) khai phá rẩy, cải tạo nông thiền.
Vào ngày 27/12/1978, Ngài được Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Tịnh Độ Tông tấn phong làm Ḥa Thượng, đại biểu cho Trung Ương Giáo Hội tại miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1980, Ḥa Thượng cho khởi công xây dựng chánh điện đạo tràng Linh Sơn Tự. Ngày 30/7/ năm Bính Dần (1986), v́ tuổi già sức yếu sau thời gian nhiệt t́nh phụng sự đạo pháp và dân tộc nên Ngài lâm bệnh và viên tịch tại Quan Âm Tu Viện, Ḥa Thượng hưởng thọ 62 tuổi.
3.2- Quá tŕnh h́nh thành và phát triển
3.2.1- Quá tŕnh h́nh thành (1957- 1986)
Trong mục trên cho chúng ta biết kể từ năm 1956 HT. Thiện Phước đến Long Sơn Cổ Tự (Tân Uyên- B́nh Dương) cầu pháp với HT. Trí Châu. Nơi cầu pháp cũng chính là nơi hoằng pháp, tại đây Ngài bắt đầu thu nhận nhiều đệ tử xuất gia. Người đệ tử đầu tiên của Ngài là Ni sư Huệ Giác (hiện là trụ tŕ Quan Âm Tu Viện) được giáo hóa ở đó. Năm 1957, Ngài về trụ tŕ Tổ Đ́nh Linh Sơn xă Phước Ḥa, quận Long Lễ, tỉnh Phước Tuy (nay là xă Tân Ḥa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Đây là ngôi chùa cổ kính có chiều dài lịch sử trên 200 năm, trăi qua 9 đời trụ tŕ, Ngài là vị trụ tŕ thứ 10, và ở đây bắt đầu Ngài thành lập Khất sĩ của Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng (LTTĐNB) do Ngài lănh đạo.
Vào năm 1961, Ḥa Thượng thành
lập cô nhi viện Phước Lộc Thọ, có đến 200 cô nhi, quả phụ, người già yếu có cuộc
sống khó khăn. Năm 1962, Ngài tiếp tục thành lập Phật học đường Tây Phương Bông
Đảo qui tụ khoảng 300 Tăng Ni về tu học. Từ năm 1962- 1965, Tổ Đ́nh Linh Sơn
cũng là cơ sở cách mạng của Liên Khu 5 Biệt Động Thành. Do là cơ sở tham gia
hoạt động cách mạng nên vào năm 1965 quân Mỹ nguỵ cho phản lực cơ F5 bỏ bom,
càng quét các khu căn cứ Núi Dinh, trong đó Tổ Đ́nh Linh Sơn bị tàn phá gần hết
các cơ sở vật chất. Có 30 Tăng Ni bị thương, 12 tu sĩ và cô nhi bị thiệt mạng
trong trận càng quét đó. Trước t́nh h́nh này dể an toàn cho Tăng Ni và cô nhi,
quả phụ Ngài chỉ đạo cho tất cả mọi người xuống núi. Đầu tiên là tản cư về tạm
trú ở chùa Phổ Hiền (Biên Ḥa- Đồng Nai). Trong thời gian này Ngài xây dựng
TX.Thăng Liên Hoa rồi dời một số Tăng chúng về tu học, một số khác di tản về
Nhất Nguyên Bửu Tự, Tx. Thiện Chơn và chùa Phước Thiện An. Năm 1966, Ḥa Thượng
chỉ đạo cho Ni sư Huệ Giác xây dựng Quan Âm Tu Viện làm đạo tràng trang nghiêm
cho Tăng chúng tu học và tiếp tục công tác TTXH. Đến ngày 14/ 7/ 1974, tất cả
Tăng Ni trong LTTĐNB trở về núi Dinh.
Nhưng sang năm 1975, Ngài về chùa Long Phước Thọ (Long Thành- Đồng Nai) sửa chữa và khai phá rẩy trồng ngũ cốc. Ḥa Thượng luôn thực hiện tinh thần "nhất nhựt bất tác Nhất nhựt bất thực" của Tổ Bách Trượng. Tại các Tổ Đ́nh Linh Sơn I, Linh Sơn II, Quan Âm Tu Viện, Chùa Phước Lộc Thọ, Bửu Hoa Ni Viện, Nhất Nguyên Bửu Tự, Dĩ An Tự, Long Sơn Cổ TX.Thăng Liên Hoa Ngài đều cho thành lập các ban nông thiền và luôn khuyến khích Tăng chúng phát triển nông lâm nghiệp, tự túc kinh tế nhà chùa. Đến tháng 3/ 1975, Ngài giao trách nhiệm trụ tŕ Tổ đ́nh Linh Sơn cho ĐĐ.Thích Giác Hải tiếp tục xây dựng. tái thiết khu đạo tràng này. Măi đến năm 1980, Ḥa Thượng cho khởi côĩnhây dựng ngôi chánh điện Tổ đ́nh nhưng địa điểm xây dựng cũng như một số cơ sở khác của Tổ đ́nh, th́ bộ quốc pḥng cho biết là nằm trong "vùng khoanh" của trường quân đội tập bắn. Cho nên sang năm 1981, ĐĐ.Giác Hải kư văn bản bàn giao toàn bộ cơ sở vật chất và đất đai của Tổ đ́nh cho bộ quốc pḥng rồi dời tất cả Tăng Ni trong Tông Môn xuống núi cư trú tại xă Tân Ḥa, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Ở đây Ngài sử dụng 1 hecta đất do Phật tử tên Năm Ngọ cúng dường để xây dựng đạo tràng cho Tăng chúng tu học. Thế nhưng chẳng bao lâu th́ Bộ Quốc Pḥng quyết định trả lại toàn bộ đất đai và cơ sở vật chất cho Tổ đ́nh Linh Sơn.
Như vậy, trong quá tŕnh h́nh thành Khất sĩ của LTTĐNB kkhoảng hơn 30 năm, HT.Thiện Phước đă giáo hóa rất nhiều Tăng Ni, Phật tử và xây dựng nhiều cơ sở đạo tràng ở miền Đông Nam Bộ, tạo được uy tín lớn cho Phật giáo ở vùng này.
3.2.2- Thời kỳ phát triển (từ năm 1986 đến nay)
khất sĩ của LTTĐNB trong thời kỳ này do Ni Trưởng Thích Nữ Huệ Giác lănh đạo, nhưng Ni Trượng lại mặc pháp phục Bắc Tông. Khác với tổ chức Khất sĩ khác, khất sĩ của LTTĐNB tu tập, sinh hoạt ḥa hợp với LTTĐNB. Trong thời kỳ này có thể nói Tông phái nayrasat phát triển nhiều lănh vực. Nhưng trong lănh vực giáo dụchoằng pháp, tại Quan Âm Tu Viện đă đào tạo được 12 vị giảng sư, những vị này đều có tham gia giảng dạy ở các trường Phật Học và trường Hạ của tỉnh Đồng Nai. Bên cạnh đó Ni trưởng c̣n sáng tác, dịch thuật ấn hành những tác phẩm: Suối Nhạc Rừng Thơ, Kinh Thập Thiện Diễn Giảng, Di Đà Yếu Giảng, Ba Mươi Tám Pháp Hnạh Phúc, Tây Phương Du Kư,...
Ngoài ra, c̣n tham gia công
tác TTXH, đây là công tác Phật sự mạnh nhất của LTTĐNB. Cụ thể như tại Quan Âm
Tu Viện có 8 Ban Nông Thiền, mỗi ban có 12 người. Các ban này lo công tác trồng
rừng, trồng cây ăn trái và canh tác ruộng lúa. LTTĐNB có tổng số diện tích đất
rừng đến 348 mẫu, trông nhiều loại gỗ quí như: sao, sến, gơ, bằng lăng, tràm,
bạch đàn,... nay bước đầu thu hoạch b́nh quân 50 triện đồng / năm. Và có 10 mẫu
ruộng, thu hoạch 500 giạ / năm, 3 mẫu chuối. Từ năm 1990 đến nay Tu Viện có
thành lập trại nuôi dưỡng người già, cô đơn, nghèo khó khoảng 50 người, Trại Cô
Nhi nuôi dạy 10 người bị khuyết tật, bại liệt,...song song đó c̣n tham gia công
tác: cứu trợ băo lụt, uỷ lạo cho Bệnh Viện Tâm Thần, Bệnh Viện Đa Khoa, Da Liễu,
xây dựng nhà t́nh thương,...
Hiện nay, LTTĐNB có số lượng Tăng Ni trên 1000 vị, có 136 ngôi chùa, tịnh xá, tự viện (Lịch Sử LTTĐNB); trong đó có 7 ngôi tịnh xá, tự vện có Tăng Ni Khất sĩ ở như: Quan Âm Tu Viện (Tp. Biên Ḥa), chùa Long Phước Thọ (Lonh Thành-Đồng Nai), Linh Sơn Cổ Tự I, Linh Sơn Cổ Tự II (Bà Rịa-Vũng Tàu), TX.Bửu Sơn (Định Quán-Đồng Nai), TX.Thăng Liên Hoa (Tp.Biên Ḥa), chùa Phổ Huệ và có khoảng 200 Tăng Ni Khất Sĩ.
Nh́n chung, Khất sĩ của LTTĐNB trong kỳ kỳ này đă đang phát triển ở nhiều lănh vực, đặt biệt là TTXH. Những thành tựu đó quả là những đóng góp không nhỏ cho Giáo Hội Phật Giáo cũng như đất nước Việt Nam ngày càng thêm giàu đẹp.
Thực hiện: Ánh Liên