PHẦN I

 

Hoàn Cảnh Lịch Sử H́nh Thành Và Phát Triển Phật Giáo Khất Sĩ

 

CHƯƠNG I

BỐI CẢNH XĂ HỘI VÀ ĐẠO PHẬT Ở NAM BỘ VIỆT NAM TRƯỚC THỜI PHẬT GIÁO KHẤT SĨ RA ĐỜI.

       

1) Bối cảnh xă hội Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nữa đầu thế kỷ XX.

        Xă hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX có nhiều triển biến mới. Những triển biến mới này chính là truyền thống yêu nước, đánh đuổi ngoài ban xăm lượt của nhân dân ta để bảo vệ đất nước đă dâng cao.

    Tháng 08/1904, quân đội Nga thua Nhật trên biển ở Trung Quốc nên các nước ở Châu Á có su hướng thân Nhật như Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, . . . Đây chính là nguyên nhân mà cụ Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du sôi nổi từ năm 1904-1908 trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Phong trào Đông Du là nhằm đưa một số thanh niên sang Nhật để đào tạo, học tập những tiến bộ của nước Nhật để trở veef vận động nhân dân đấu tranh giải phóng đất nước. Cũng trong thời gian này Duy Tân Hội (1904) được thành lập, do cường để làm Hội Trưởng. Đến tháng 3/1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập, đứng đầu tổ chức là cụ Lương Văn Can; rồi đến Việt Nam Quan Thục Hội (1912) ra đời do Cường để làm Hội Trưởng, cụ Phan Bội Châu làm Tổng Lí; Hội Kỉnh ở Nam Kỳ cũng thành lập . . . mục đích, chủ trương của các tổ chức này nhằm tuyên truyền tinh thần yêu nước, đánh đuổi thực dân Pháp xăm lược.

    Trong những năm đầu thế kỷ XX chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam cũng vẫn tăng cường chính cách bóc lột, đàn áp làm cho nhiều cuộc khởi nghĩa của phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc nổi ra như Việt Nam Quan Phục Hội đánh Móng Cái, Lạng Sơn, Hà Khẩu (1915) phá ngục Lao Bảo (28/09/1915), khởi nghĩa Thái Phiên và Trâng Cao Dân (1916) khởi của binh lính và tù chính trị ở Tây Nguyên (1917) phá khám lớn Sài G̣n (02/1916), khởi nghĩa của nhân dân Tây Bắc (11/1914-1916) khởi nghĩa của đồng bào Mông ở Lai Châu (1918-1921), khởi nghĩa của binh lính đồn Binh Liêu (16/11/1918), khởi nghĩa của đồng Dân tộc Tây Nguyên (1912-1916). Những cuộc khởi nghĩa này là động lực tinh thần thôi thúc phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc ở những thập niên sau.

    Năm 1914-1918, chiến tranh thế giới thứ đă nổ ra, hậu quả đă để lại tổn thất nặng nềcho nhiều nước đế Quốc trong đó có nước Pháp. V́ thế thực dân Pháp điều chỉnh lại chính cách cai trị , huy động sức người và tài nguyên của các nước thuộc địa để cung cấp cho "chính Quốc", khiến cho những nước thuộc địa như Việt Nam càng thêm u tối. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất Pháp tiếp tục mở  cuộc khai thác thục địa lần thứ hai kéo dài khoảng 10 năm (1919-1930). Chính phủ pháp mở rộng cuộc đồn điền trồng cao su, chè, cà phê, xây dựng nhiều nhà máy công nghiệp, mở rộng nông phố ngân hàng ở các tỉnh Bắc, Trung và Nam; cải cách chính trị và hành chính lập: Viện Dân Biểu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, mở rộng các cơ sở cho người Việt lập các nghạch công chức tương đương giữa người Pháp và người Việt. Về Nông Nghiệp Pháp lại tăng thế " trực thu và gián thu", "bắt buộc nhân dân mua các loại công trái (đại cương lịch sử Việt Nam-tập II-trang 221 do Đinh Xuân Lâm chủ biên-NXB giáo dục 2000).

          Đối với nghành Giáo Dục ở Việt Nam trong thời kỳ này thực dân Pháp có phần mở rộng hơn so với trước kia, cho xây dựng nhiều trường Tiểu học, Trung học, Cao đẳng và Đại học, thành lập các nghành Sư phạm, Công chính, Thương mại, Y học thuộc trường Cao đẳng. Theo đại cương lịch sử Việt Nam-tập II (sđd) đă thống kê từ năm 1922-1923, tức là sau 5 năm thực dân cải cách giáo dục lần thứ II, ở Việt Nam đă có: 3.039 trường Tiểu học, 7 trường Cao đẳng Tiểu học và 2 trường Trung học; số học sinh gồm có 163.110 người. Từ khóa 1923-1925 đến 1930, số lượng học sinh từ 187.000 người lên 434.335 người. và số lượng sinh viên tính đến năm 1929-1930 có khoảng 551 người. Theo niên Giám thống kê Đông Dương, GGI, HN, 1930 (Annuaires Statistiques de t Indochine) đến năm 1930 có tổng số giáo viên các cấp là 12.000 người. nhưng tính tổng số học sinh, sinh viên, giáo viên trong cả nước so với mấy chục triệu dân Việt Nam thời đó th́ quả số lượng người không đi học, mù chữ c̣n quá nhiều.

          Về văn hóa th́ thực dân Pháp dung hợp giữa hai nền văn hóa nô dịch và nền văn hóa mới phát triển trong xă hội Việt Nam. Pháp vẫn sử dụng vũ khí văn hóa để phục vụ cho chính sách khai thác thuộc địa của chúng. V́ thế, các nghành nghệ thuật, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, . . . ảnh hưởng khá đậm nét tư tưởng phương Tây.

          Từ những thay đổi về chính sách cai trị, hành chánh và chuyển biến mới trong nền kinh tế, văn hóa ở xă hội Việt Nam đă xuất hiện nhiều giai cấp đối kháng nhau giữa nông dân và điền chủ, công nhân với tư sản, tiểu tư sản. Xă hội Việt Nam ngày càng phân hóa sâu sắc, địa chủ th́ giàu lên nhanh chóng trong khi nông dân th́ nghèo đói khốn khổ; dân số th́ tăng nhanh ở thị thành với các tầng lớp mới như: Tư sản, Tiểu tư sản, công nhân.

          Phong trào yêu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc trong giai đoạn này bắc đầu dâng cao, thời kỳ này (1919-1930) ba tooechức cách mạng lần lượt ra đời. Đó là Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên do Nguyễn Ái Quốc thành lập tháng 6/1925; ngày 14/7/1925, Tân Việt Cách Mạng Đảng được thành lập; ngày 25/12/1927 Việt Nam Quốc Dân Đảng được thành lập do Nguyễn Thái Học tổ chức. Đến ngày 3/2/1930 Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời do Nguyễn Ái Quốc lănh đạo. Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời thống nhất được ba tổ chức cách mạng trên.

          Ngày 10/2/1930, cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái lại nổ ra. Đây là cuộc đấu tranh sau cùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng nhưng cũng đă nói lên được tinh thần yêu nước, anh dũng đánh đuổi ngoại xâm của nhân dân ta.

          Trong những năm 1929-1930, khủng hoảng kinh tế thế giới đă ảnh hưởng rất nhiều đến các nước thuộc địa. Việt Nam trước kia đă chụi lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp nay phải suy sụp nặng nề hơn. Nông dân phải chụi sưu cao, thuế nặng và nạn cho vay nặng lăi của địa chủ; công nhân bị bóc lột thậm tệ. Đời sống của nông nhân ở các tỉnh phía Bắc và Trung kỳ rất thấp. Các tầng lớp lao động khác trong xă hội như tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức đời sống điêu đứng; địa chủ nhỏ cũng bị sa sút, một số tư sản dân tộc bị phá sản, vỡ nợ.

          Xă hội Việt Nam vào những năm 1936-1939, đa số nông dân không có ruộng đất, hoặc có ít ruộng, họ phải đi lănh đất của địa chủ để cày cấy, hoặc đi làm thuê làm mướn. Đă khốn khổ về kinh tế, vật chất thiếu thốn lại c̣n bị nạn thiên tai băo lụt, dịch bệnh liên tiếp xảy ra. Năm 1937, nạn đói xảy ra ở khắp Bắc kỳ, báo Tiếng Dân ngày 30/11/1937 đưa tin: cho đến cuối tháng 11 ở Bắc kỳ có 8.968 người mắc bệnh dịch. Năm 1938 nạn đói xảy ra ở khắp ba miền ngay cả ở miền Nam như các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên người dân cũng bị đói khổ.

          Năm 1939, Catơru (Georges-Catraux) làm toàn quyền Đông Dương với chính sách của ông làm cho tam vạn lính Việt Nam bị đưa sang Pháp. Thực hiện “kinh tế chủ huy”, vơ vét vàng bạc, tăng cường phát hành bạc giấy kiểm soát chặt chẽ sản xuất và phân phối, ấn định giá cả, tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới, tổ chức lạc quyên, công trái, xổ số, sa thải bớt công nhân, viên chức, giảm tiền lương, giảm giờ làm,… các nhà tư sản Việt Nam bị thuế khóa nặng nề lại bị tư sản Pháp chèn ép, nên một số bị phá sản; tầng lớp tiểu tư sản, trí thức bị thất nghiệp nhiều, những người có việc làm th́ bị ngược đăi.

          Từ những mâu thuẩn trong xă hội, và chính sách bóc lột nặng nề của thực dân Pháp dẫn đến phong trào đấu tranh đ̣i tự do dâng cao. Ngày 9-10/5/1941 Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng ở Pắc Bó thành lập mặc trận Việt Minh lănh đạo nhân đấu tranh giành độc lập. Đến ngày 22/12/1944, đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân được thành lập do Vơ Nguyên Giáp đứng ra tổ chức và lănh đạo. Đầu năm 1945 đă xảy ra nạn đói làm chết hai triệu người.

          Nh́n chung, xă hội Việt Nam trong giai đoạn 1930/1945 có nhiều chuyển biến mới trong nền văn hóa, giáo dục, nền kinh tế trong giai đoạn này tuy có phục hồi nhưng đời sống của đa số nhân dân Việt Nam vẫn khó khăn, cơ cực.

          Từ hoàn cảnh thực tế xă hội Việt Nam hiện thời phần nào khiến cho phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam càng ư thức rơ ràng hơn về sứ mạng của ḿnh. Để làm sáng tỏ vấn đề này chúng ta hăy đi vào t́m hiểu phần kế tiếp.

          2) Đạo Phật ở Nam Bộ trước thời Phật Giáo khất sĩ ra đời (đầu thế kỷ XX-1945)

          Dưới thời đại nhà Nguyễn, Phật giáo đă đi vào thời kỳ suy vi, những vị vua như: Gia Long, Tự Đức rất hà khắc với Phật giáo.

 

2) Đạo Phật ở Nam Bộ Trước Thời  Phật Giáo Khất Sĩ ra đời (đầu thế kỷ XX-1945)

    Dưới thời đại nhà Nguyễn, Phật giáo đă đi vào thời kỳ suy vi, những vị vua như Gia Long, Tự Đức bảo rằng: "Gần đây có kẻ sùng phụng đạo Phật, xây dựng chùa chiền quá cao, lầu gát rất là tráng lệ, đút chuông to tượng rất đỗi trang hoàng, cùng là làm đàn chay mở hội phí tổn về cúng Phật, nuôi sư không thể chép hết, để cầu phúc báo viễn vong, đến nổi tiêu hao máu mỡ. Vậy từ nay về sau chùa quán có đổ nát mới được tu bổ, c̣n làm chùa mới, tô tượng, đút chuông, đàn chay, hội chùa hết thảy đều cấm. Sư săi có kẻ chân tu th́ lư sở tại phải khai rơ danh tánh, quán chỉ đem nộp ở quan trấn để biết rơ số." (Lược Sử Phật Giáo Việt Nam-TT. Thích Minh Tuệ- THPG TP HCM ấn hành- 1993-trang 453,454)

    Vào khoảng đầu thế kỷ XX ảnh hưởng phong trào chấn hưng của Phật Giáo thế giới cụ thể là Trung Quốc, Nhật Bản đă phát động vào Phật Giáo Việt Nam. Tại Việt Nam các đạo tràng Giác Hải (SàiG̣n), chùa Tiên Linh (Bến Tre), chùa Phi Lai (Châu Đốc), chùa Giác Hoa (Bạc Liêu),chùa Long Ḥa (Trà Vinh), chùa Trường Thọ (G̣ Vấp-Gia Định), chùa Giác Viên (Sài G̣n), chùa Tuyên Linh (G̣ Công) ở miền Nam vẫn được duy tŕ và đều có mở lớp giảng dạy Phật pháp cho Tăng Ni, mỗi lớp có khoảng 40-100 học Tăng tham dự.

    Các Vị cao Tăng tiêu Biểu trong thời kỳ này như HT.Từ Phong, Chí Thành, Huệ Quang,Khánh Anh,Tâm Thông, Hoàng Nghĩa, Huệ Tịnh, . . . phát động phong trào chấn hưng Phật giáo, mở lớp giảng dạy Phật pháp ở các tỉnh miền Nam.

    Năm 1923, HT. Khánh Ḥa thành lập Hội  Lục Hoà Liên Hiệp trong một buổi họp đại diện các tổ đ́nh tại chùa Long Ḥa (Trà Vinh). Khoảng năm 1931-1932, Ngài trở về Trà Vinh mở Liên Đoàn Phật Học Xă. Đây là lớp học lưu động v́ các chùa không đủ kinh tế để nuôi các học Tăng đến khoảng 50 người. Tiếp theo là Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời ngày 13/8/1934, đặt trụ sở tại chùa Long Phước (Trà Vinh). Mục đích chính của hội là lập Phật học đường, đào tạo Tăng tài. Năm 1935, Hội cho xuất bản tập chí Duy Tâm để truyền bá Phật Pháp đến với mọi người. Trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo Hội Phật Học Kim Tế là một hội Phật giáo tiến bộ nhất. Hội Phật Học Kim Tế được thành lập năm 1937 tại Rạch Giá, lấy chùa Tam Bảo ở làng Vĩnh Thanh Vân làm trụ sở, do HT. Trí Thiền làm Chánh Tổng lư Hội. Hội không chỉ truyền bá Phật pháp mà c̣n tham gia vào các công tác xă hội như lập viện mồ côi, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, băo lục,...

    Năm 1938, Hội cho xuất bản tập chí Tiến Hóa. Nội dung của Tạp chí ngoài việc tuyên truyền Phật pháp c̣n c̣n kêu gọi các Tăng Ni Phật tử hưởng ứng phong trào canh tân Phật giáo cho phù hợp với thời đại mới. Bên cạnh các hội do chư Tăng thành lập cũng có các hội do cư sĩ thành lập như Ngài Minh Trí (tên Nguyễn Văn Bồng, sinh năm 1885, tại Sa-Đéc), có nghiên cứu, tu tập theo giáo lư Phật giáo và ông đă thành lập Hội Tịnh Độ Cư Sĩ năm 1933 (năm ông 48 tuổi), những ngôi chùa của Hội này đều có mở pḥng thuốc nam để trị bệnh cho dân nghèo. Năm 1932, cư sĩ Đoàn Trung C̣n lập Tịnh Độ Tông,  Phật Học Tùng Thư, cho xuất bản nhiều kinh sách do ông phiên dịch và trước tác. Ở tỉnh Long Xuyên, vị trụ tŕ chùa B́nh An sáng lập Hội Phật giáo Liên Hữu năm 1932

    Năm 1934, HT. Huệ Đăng sáng lập Hội Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu, đặt trụ sở tại chùa Thiên Thai (tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu). Cũng năm này (1934), Thầy trụ tŕ chùa Thiên Phước (tên Lê Phước Chí) sáng lập Hội Phật Giáo Tương Tế tại Sóc Trăng.

    Ngoài ra trong thời kỳ này c̣n có các giáo phái Phật giáo đă được thành lập vào cuối thế kỷ XIX vẫn tiếp tục phát triển như: Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856, người làng Ṭng Sơn, Cái Tàu Thượng, Sa-Đéc), pháp danh Minh Huyên, pháp tự Pháp Tạng sáng lập năm 1849; Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi (1830-1890) sáng lập năm 1869. Giáo phái này phát triển ở vùng Thất Sơn tỉnh An Giang. Năm 1939, ông Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) ở làng Ḥa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc sáng lập giáo phái Phật giáo Ḥa Hảo. Vào năm 1940, HT. Hộ Tông  đă xây dựng chùa Bửu Quang (Tam B́nh- Thủ Đức- Sài G̣n), là một ngôi chùa Nam Tông  đầu tiên được xxây dựng ở miền Nam. Những măi cho đến ngày 18/12/1957, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam mới chính thức thành lập.

    Tóm lại, Đạo Phật ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 là những thập niên đầu của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Theo nhận xét khách quan từ những nhà tâm huyết chấn hưng Phật giáo Việt Nam cho rằng phong trào chấn hưng chưa thật sự phát huy hết khả năng của nó, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Nhưng có thể khẳng định rằng phong trào chấn hưng là những viên gạch nền tảng cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam phát triển ở tương lai. Từ phong trào chấn hưng Phật giáo sôi nổi trong thời kỳ này (1900-1945) chính là nguyên nhân để PGKS ra đời.

 

Thực hiện: Ánh Liên

                                                                                           

T́m Hiểu Về Hệ Phái Khất Sĩ