MĐQ. Pháp Giáo

Đạo là con đường của tất cả chúng sanh, Mỗi người tự đi, chớ không có tên ĐẠO ǵ cả. Giáo là sự dạy học để tu hành, chứ không phải TÔN GIÁO ǵ cả. Phái là sự làm việc giúp ích lợi chung cho nhau, chớ không phải PHÁI ǵ cả, Những sự việc lư lẻ của ĐẠO GIÁO PHÁI, là để sống chung tu học, học cho được sáng suốt yên lặng, và trong sạch mà thôi.            M.Đ.Q

 

 

Đạt Đạo, Tập Tu Hạnh Xuất Gia

 

CHƯƠNG III

 Vào một buổi chiều nơi trước sân nhà cụ ông một chàng thanh niên oai nghi chỉnh túc, mặt may đầy đặn, tươi sáng đẹp đẽ với bộ đồ nâu ṣng, đă phủi sạch tóc râu, chắp tay chào hỏi ông Lăo, và được nghe nói câu: "Tôi đă đắc đạo rồi". (người nói đây là NGUYỄN THÀNH ĐẠT tức MINH ĐĂNG QUANG Tổ sư trong quyển này). Sau mấy hôm tạm trú nơi nhà, ông đạo sư này lại đi núi Trà-Lơn; Và sau về trú ẩn trong vùng Thất-Sơn để tu...

Nhơn có một trang hiền sĩ cũng đi chu du khắp nơi để tầm thầy học đạo mà chưa có duyên gặp chân tu đạo hạnh, ngày kia đi viếng núi  Trà Sư và quanh vùng núi đất (thuộc Thất Sơn) xảt gặp một đạo tăng ngồi trên thạhc bàn oai nghi chỉnh túc dưới gốc cây Bồ-Đề, trọng về hạnh đức, mến đạo luyến t́nh, nên nhà hiền sĩ mới cầu thỉnh Đức Sư về ngôi Tam Bảo của ḿnh đă tạo lập từ lâu để tín ngưỡng và chiêm bái thuộc địa phận làng PHÚ-MỸ tỉnh MỸ-THO tức ngôi chùa LINH-BỬU-TỰ. Từ lâu mặc dầu Ngài cũng tu nhưng chỉ quán xét chơn lư nội tâm, nay được nhắc lại hạnh Phật  tăng tu xuất gia theo giới luật làm gương cho đời để sống chung một đạo luật của tam thế chư Phật, . Thế nên Ngài tự nêu điều luật răn giới cấm nhà Phật, đối trước giữa ngôi Tam Bảo để phát nguyện theo 10 giới Sa Di, (xem giới Sa Di chương I phần ba), vào năm 1944, Ngài y theo mà hành, là từ đây phải an chay ngọ và không được rớ tới tiền bạc là điều tối trọng.

Trong thời gian tam ngụ tịnh tu tại chùa; có lúc một bộ đồ vàng mặc nơi ḿnh, vai mang túi đăy đựng cái thố; để đến buổi cúng ngọ dùng làm chén xin cơm ăn, một cây gậy chống đi đường trong những lúc đến lui vườn rừng. Ngài vừa tŕ luật Sa Di, vừa tu hạnh độc giác, có khi vào rừng sâu tu thiền định, hai ba ngày mới ra xóm làng xin một bữa cơm, mỗi ngày "khi đói tạm dùng lá chát, lúc khát tạm dùng lá chua" một nắm cỏ non một miếng nước suối cũng sống được để tu; không cần mùng chiếu, vơng dù, guốc dép, tiền bạc làng xóm nhà cửa chi cả, chẳng quản nắng mưa no đói, sống chết là sao, thật là một Đại Thế Chí Bồ Tát, chỉ lo cần tu khổ luyện. Một đôi khi Người ra thành thị cùng đi viếng các nhà đạo đức đương thời như cụ Ḥa Thượng THIÊN THAI ở BÀ-RỊA là một bậc thông suốt đạo lư cao siêu. Đế Đại  sư HUỆ NHỰT phái Thiền Lâm có mặc mang y bát khất thực, để kinh nghiệm thêm về mạt dung họp cũng như sự phỗ hóa...Sau khi thọ giới Sa Di 2 năm giữ đúng theo luật. Ngài bèn thọ giới cụ túc 250 giới tỳ kheo và tứ y pháp, cũng tại chùa Linh Bửu Tự làng PHS MỸ tỉnh MỸ THO vào năm 1946, được mộng điềm ứng điểm hóa cho Ngài, do Đức Di Đà thọ kư cái danh pháp MINH-ĐĂNG-QUANG. (khi c̣n tu cư sĩ cũng được tho kư một lần).

A-DI-ĐÀ Phật oai linh,

Khiến tôi giải khổ vô minh kiếp này

Ái t́nh để lại trần ai;

Đem ḿnh vào cửa Phật Đài tu thân

 

CỔ-TỤNG

Ái hà thiên xích lăng

Khổ hải vạn trùng ba

Dục thoát luân hồi khổ

Cấp tảo niệm Di Đà

 

                 DỊCH NÔM:

 

Sông yêu ngh́n thước nước

Bể khổ muôn sóng tà

Luân hồi muốn thoát khỏi

Mau niệm chữ Di Đà.

 

 

Thực hiện: TN. Chung Liên

 

  

 

MĐQ. Pháp Giáo